Skip to content
Quay lại BlogResearch Methods

Viết discussion chapter của dissertation như thế nào?

20 phút đọc3,960 từ

Discussion chapter, tức chương thảo luận của một dissertation, là nơi bạn diễn giải kết quả nghiên cứu, lập luận xem chúng có nghĩa gì, và cho examiner (người chấm) thấy đóng góp của bạn vào tri thức. Bài viết này giúp bạn tự dựng được chương đó theo một cấu trúc rõ ràng, nối nó về câu hỏi nghiên cứu, đối chiếu với tài liệu đã có, viết phần giới hạn mà không làm yếu bài, và tránh những lỗi hay khiến examiner yêu cầu sửa.

Với học viên cao học và nghiên cứu sinh người Việt viết bằng tiếng Anh, discussion chapter là phần examiner đọc với thái độ hoài nghi nhất, vì đây là chỗ một thesis chứng minh rằng nó hiểu chính kết quả của mình chứ không chỉ báo cáo lại chúng.

Rủi ro trượt hẳn thấp hơn điều phần lớn nghiên cứu sinh vẫn lo, nhưng những gì bị yêu cầu sửa thì không hề nhỏ. Theo phân tích của DiscoverPhDs (n.d.) trên 26.076 nghiên cứu sinh tiến sĩ ở 14 trường đại học tại Anh, những người bảo vệ viva trong khoảng 2006 đến 2017, tỉ lệ đạt chung là 96%, nhưng chỉ 5% trong số người đạt không phải sửa gì, 79% được yêu cầu sửa nhỏ, và 16% phải sửa lớn. Cùng phân tích đó viết thẳng: "the PhD failure rate in the UK is 19.5%, with 16.2% of students leaving their PhD programme early, and 3.3% of students failing their viva" (DiscoverPhDs, n.d.). Nghĩa là tỉ lệ không hoàn thành tiến sĩ ở Anh là 19,5%, trong đó 16,2% rời chương trình sớm và 3,3% trượt buổi viva. Discussion chapter vì vậy không phải nơi phần lớn nghiên cứu sinh đánh mất tấm bằng, nhưng lại là nơi phần lớn yêu cầu chỉnh sửa rơi vào. Những chỉnh sửa kiểu đó thường được đưa ra ở bất cứ chỗ nào mà lập luận của chính ứng viên, chứ không phải thiết kế của nghiên cứu, bị mang ra xét, và trong hầu hết các thesis thì chỗ đó chính là discussion chapter.

Bài này trả lời bảy câu hỏi mà nhà nghiên cứu người Việt hay hỏi mentor của MAAS nhất khi họ viết tới discussion chapter.

Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật lần cuối: 2026-07-10
Chuyên mục: research-methods

Hai nhà nghiên cứu mặc đồ bảo hộ đang thao tác với ống nghiệm trong phòng thí nghiệm
Ảnh minh hoạ


Chương thảo luận là gì, và nó khác chương kết quả ở chỗ nào?

Trả lời trực tiếp: Chương findings (hay results) báo cáo những gì bạn tìm ra, còn discussion chapter diễn giải chúng. Trong phần discussion, bạn phát biểu kết quả chính bằng lời thường, đối chiếu chúng với công trình đi trước, giải thích vì sao chúng xuất hiện, khoanh phạm vi của chúng bằng các giới hạn, và lập luận xem chúng đóng góp gì. Đây là phần diễn giải và lập luận, không phải một chương kết quả thứ hai.

Bằng chứng: Basturkmen (2009) phân biệt việc báo cáo kết quả với việc bình luận về kết quả, và cho thấy các dissertation thường làm nhoè ranh giới đó khiến lập luận yếu đi. Docherty và Smith (1999), từ góc nhìn của người biên tập tạp chí, mô tả phần discussion là phần tóm lược những phát hiện chính, đặt chúng cạnh các công trình trước đó, rồi cân nhắc ý nghĩa và những chỗ còn thiếu sót của chúng.

Ví dụ: Một nghiên cứu sinh người Việt lần đầu làm tiến sĩ mang tới cho mentor của MAAS một discussion chapter mô tả lại từng bảng số trong chương findings. Mentor chỉ ra rằng không đoạn nào diễn giải điều gì, rồi gợi ý bạn ấy dựng lại chương quanh câu hỏi mỗi kết quả có nghĩa là gì. Sinh viên đó tự viết lại, và bản tóm tắt ban đầu trở thành một lập luận mà examiner có thể trao đổi cùng.


Nên cấu trúc chương thảo luận như thế nào?

Trả lời trực tiếp: Hãy dùng một cấu trúc dễ đoán, mở đầu bằng các kết quả then chốt trình bày như câu trả lời cho từng câu hỏi nghiên cứu, rồi đối chiếu với tài liệu, giải thích cơ chế hoặc nguyên nhân, nêu giới hạn trung thực, sau đó trình bày hàm ý và một phần kết ngắn. Một discussion có cấu trúc dễ viết hơn, và dễ theo dõi hơn hẳn với examiner.

Sơ đồ năm bước của chương thảo luận trong dissertation, gồm kết quả then chốt trình bày như câu trả lời, đối chiếu với tài liệu, diễn giải cơ chế, giới hạn, rồi hàm ý và đóng góp
Cùng một nội dung, xếp lại theo năm thành phần này, đọc lên như một lập luận thay vì một danh sách

Bằng chứng: Docherty và Smith (1999) lập luận rằng phần discussion nên có cấu trúc thay vì lan man, đi từ phát biểu các phát hiện chính, sang điểm mạnh và điểm yếu, sang đối chiếu với các nghiên cứu khác, rồi tới ý nghĩa và những câu hỏi còn bỏ ngỏ. Trình tự đó, công bố trên BMJ năm 1999, tới nay vẫn là nền của các hướng dẫn viết bài y sinh ra đời sau nó, trong đó có hướng dẫn của Cals và Kotz (2013). Hess (2004) bổ sung rằng một cách tổ chức nhất quán giúp người đọc định vị được từng thành phần và cho thấy người viết lập luận có kỷ luật.

Thành phần của phần discussion Nó làm gì Lỗi thường gặp
Kết quả then chốt như câu trả lời Trả lời trực diện từng câu hỏi nghiên cứu Liệt kê lại toàn bộ chương findings
Đối chiếu với tài liệu Cho thấy điều gì mới, điều gì xác nhận lại Bỏ qua những nghiên cứu nói ngược
Diễn giải và cơ chế Giải thích vì sao kết quả xuất hiện Suy ra nhân quả từ tương quan
Giới hạn Khoanh phạm vi các khẳng định một cách trung thực Chỉ nêu những giới hạn vụn vặt
Hàm ý và đóng góp Nêu giá trị với lý thuyết hoặc thực hành Khẳng định vượt quá dữ liệu

Ví dụ: Một học viên cao học được MAAS đồng hành đã viết phần discussion thành một chuỗi quan sát nối liền không ngắt. Mentor gợi ý bạn ấy thử xếp nội dung đó theo năm thành phần này. Cùng một nội dung, sau khi sinh viên đó tự sắp xếp lại, đọc lên như một lập luận có logic thay vì một dòng bình luận, mà không cần thêm dữ liệu mới nào.


Nối chương thảo luận trở lại câu hỏi nghiên cứu và khung lý thuyết bằng cách nào?

Trả lời trực tiếp: Hãy trả lời rõ từng câu hỏi nghiên cứu, theo đúng thứ tự bạn đã đặt ra, và đọc kết quả qua chính conceptual framework hoặc theoretical framework bạn đã dựng ở phần đầu thesis. Discussion là nơi khung lý thuyết chứng minh giá trị của nó, nên nó phải tổ chức phần diễn giải của bạn chứ không nằm im ở một chương đầu.

Bằng chứng: Paltridge và Starfield (2007), trong cuốn sổ tay dành cho người hướng dẫn những học viên viết thesis bằng ngôn ngữ thứ hai, nhấn mạnh rằng phần discussion phải nối ngược về mục tiêu và cách đặt vấn đề của nghiên cứu thay vì trôi sang bình luận chung chung, vì examiner đánh giá mức mạch lạc của cả thesis. Basturkmen (2009) cho thấy bình luận về kết quả trong một dissertation nghĩa là đặt từng phát hiện trong quan hệ với các câu hỏi và khái niệm đã sinh ra nó, chứ không mô tả nó biệt lập.

Ví dụ: Phần discussion của một nhà nghiên cứu người Việt không hề nhắc tới theoretical framework ở chương hai. Mentor của MAAS gợi ý bạn ấy dẫn từng kết quả đi qua khung đó và về lại ba câu hỏi nghiên cứu của mình, và sau khi sinh viên đó viết lại, chương này cho thấy thesis là một lập luận liền mạch thay vì những phần rời rạc. Nếu phần nền lý thuyết của bạn còn lỏng, hướng dẫn viết theoretical framework là chỗ nên quay lại trước.


Đối chiếu kết quả với tài liệu ra sao để cho thấy một đóng góp?

Trả lời trực tiếp: Hãy đặt kết quả của bạn cạnh những nghiên cứu đã có, nói rõ chỗ nào bạn đồng thuận với công trình đi trước, chỗ nào bạn khác, và vì sao khác biệt đó có thể tồn tại, do mẫu, bối cảnh, phương pháp hay cách đo. Chính việc đặt vào bối cảnh này biến một phát hiện thành đóng góp vào tri thức, đúng tiêu chuẩn mà examiner ở bậc tiến sĩ áp dụng.

Bằng chứng: Cals và Kotz (2013) cho rằng một phần discussion hiệu quả đặt kết quả vào bối cảnh bằng cách đối chiếu chúng với công trình trước đó, và giải thích các chỗ trùng khớp cũng như chỗ vênh nhau bằng lập luận thay vì bằng khẳng định suông. Basturkmen (2009) ghi nhận rằng các dissertation chỉ báo cáo kết quả mà thiếu phần bình luận đối chiếu này đọc lên như còn dở dang với examiner, những người chờ ứng viên định vị công trình của mình trong lĩnh vực.

Ví dụ: Một khách hàng của dịch vụ cố vấn thesis, dissertation tại MAAS có một kết quả mâu thuẫn với hai bài báo có tiếng. Thay vì giấu đi, bạn ấy được mentor gợi ý giải thích chỗ vênh đó qua khác biệt về quần thể nghiên cứu và thời điểm. Phép đối chiếu minh bạch ấy làm thesis chắc hơn, và cho sinh viên đó một câu trả lời tự tin để bảo vệ trong buổi viva.


Viết phần giới hạn và hướng nghiên cứu tương lai thế nào mà không làm yếu thesis?

Trả lời trực tiếp: Hãy nêu những giới hạn thật sự ảnh hưởng tới cách đọc kết quả, như thiết kế, cỡ mẫu, biến gây nhiễu và khả năng khái quát, rồi giải thích chiều hướng và mức tác động có thể có. Sau đó đề xuất hướng nghiên cứu tương lai đi ra từ các giới hạn ấy. Giới hạn trung thực, cụ thể tạo niềm tin nơi examiner, còn giới hạn mơ hồ hoặc vắng mặt thì gây nghi ngờ.

Bằng chứng: Ioannidis (2007) rà theo từ khoá 400 bài báo trên các tạp chí hàng đầu và thấy chỉ 17% dùng dù chỉ một từ thừa nhận có giới hạn, và không bài nào bàn xem giới hạn đó có thể ảnh hưởng ra sao tới chính kết luận của mình. Hess (2004) lập luận rằng một giới hạn không được nhắc tới mà examiner tự phát hiện thì tai hại hơn nhiều so với một giới hạn bạn tự nêu và đặt vào bối cảnh, nên tự nêu những điểm yếu thật là cách an toàn hơn.

Ví dụ: Một học viên cao học người Việt muốn xoá hẳn phần giới hạn để bài trông mạnh hơn. Mentor của MAAS khuyên ngược lại, và sinh viên đó gọi tên rõ thiết kế cắt ngang cùng cỡ mẫu khiêm tốn của mình, giải thích mỗi yếu tố giới hạn kết luận ra sao, rồi đề xuất một nghiên cứu theo dõi dọc làm hướng đi tiếp. Về sau, examiner khen chính phần này vì sự thẳng thắn.


Chương thảo luận nên dài bao nhiêu, và nó chuẩn bị cho buổi bảo vệ ra sao?

Trả lời trực tiếp: Không có độ dài cố định, nhưng discussion thường là một trong những chương dài nhất, tương đương literature review và dài hơn introduction hay conclusion. Quan trọng hơn số từ là mỗi khẳng định trong đó đều bảo vệ được khi nói thành lời, vì trên thực tế discussion chính là kịch bản cho buổi viva của bạn.

Bằng chứng: Annesley (2010) gọi phần discussion là lời kết luận của luật sư, vì đây là nơi bạn lập luận về ý nghĩa của công trình, khi bằng chứng đã được trình bày ở phần findings và phần discussion thuyết phục người đọc rằng bằng chứng đó có nghĩa gì. Paltridge và Starfield (2007) ghi nhận rằng examiner hỏi dồn vào phần discussion nhiều nhất trong buổi bảo vệ, nên một chương lập luận tốt là bước chuẩn bị trực tiếp cho buổi đó. Với 79% ứng viên đạt ở Anh được yêu cầu sửa nhỏ và thêm 16% phải sửa lớn theo DiscoverPhDs (n.d.), việc đọc to discussion chapter để tập trước buổi viva không phải một thủ tục hình thức, mà là chuẩn bị cho kết cục phổ biến nhất của kỳ bảo vệ. Nếu bạn muốn xem dung lượng nên chia giữa các chương ra sao, bảng số từ theo từng chương dissertation cho một điểm quy chiếu.

Ví dụ: Một nghiên cứu sinh được MAAS đồng hành dùng discussion chapter của mình làm bản đồ cho buổi viva. Với mỗi diễn giải bạn ấy đã viết, mentor lại hỏi bạn ấy sẽ bảo vệ điều này bằng lời ra sao. Tới buổi bảo vệ, sinh viên đó trả lời được mọi câu hỏi của examiner vì phần lập luận đã nằm sẵn trên giấy.


Những lỗi nào ở chương thảo luận làm trượt ứng viên Việt Nam, và tránh chúng bằng cách nào?

Trả lời trực tiếp: Các nguyên nhân lặp đi lặp lại là nhắc lại kết quả thay vì diễn giải, bỏ qua tài liệu trái chiều, giấu giới hạn, khẳng định quá tay, và không nối ngược về câu hỏi nghiên cứu. Hãy tránh chúng bằng cách viết bản nháp theo một cấu trúc định sẵn, rồi xin phản hồi phát triển từ một mentor từng đứng ở phía người chấm thesis.

Bằng chứng: Hess (2004) cho rằng phần discussion thường hỏng khi nó phát biểu lại kết quả mà không diễn giải, hoặc kéo kết luận đi xa hơn bằng chứng cho phép. Nguyen và cộng sự (2021) ghi nhận sản lượng công bố của các đại học Việt Nam trên Scopus và Web of Science tăng 41,6% chỉ trong một năm, khi so 2018 với 2017, nhanh hơn mức tăng 34,7% của tổng số công bố của Việt Nam trong cùng giai đoạn. Trong bối cảnh ấy, theo cách Basturkmen (2009) mô tả vai trò của phần bình luận kết quả, một discussion chapter lập luận tốt là cách ít tốn kém để ứng viên người Việt nâng thesis lên trên ngưỡng đạt thay vì mất điểm ở chương cuối.

Lỗi Vì sao examiner trừ điểm Cách sửa
Nhắc lại kết quả Không thêm phần diễn giải nào Giải thích mỗi kết quả có nghĩa gì
Bỏ qua nghiên cứu trái chiều Trông như đọc tài liệu có chọn lọc Xử lý trực diện các chỗ bất đồng
Giấu giới hạn Làm mất niềm tin khi bị phát hiện Nêu sớm những ràng buộc thật
Thổi phồng đóng góp Bằng chứng không đỡ nổi khẳng định Giữ khẳng định cân xứng với dữ liệu
Không nối về câu hỏi nghiên cứu Làm đứt mạch của cả thesis Trả lời rõ từng câu hỏi

Ví dụ: Một mentor của MAAS đồng hành cùng một ứng viên người Việt qua từng chặng của discussion chapter. Ứng viên tự lập dàn ý theo năm thành phần, tự viết bản nháp diễn giải thay vì nhắc lại, rồi tự trau chuốt ngôn ngữ cho rõ ràng hơn với người viết tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai, còn mentor góp ý ở từng chặng. Sinh viên đó là tác giả suốt quá trình, và mentor không viết chương nào thay bạn ấy.


Hướng dẫn này dựa trên nguồn nào

Phần tư vấn về cấu trúc ở trên dựa trên các hướng dẫn viết bài đã qua bình duyệt, công bố trên BMJ, Clinical Chemistry, Journal of Clinical Epidemiology, Respiratory Care và Journal of English for Academic Purposes trong khoảng 1999 đến 2013. Bên cạnh đó là các nghiên cứu về cách phần discussion thực tế được viết và được chấm, gồm cuộc rà 400 bài báo của Ioannidis (2007) trên Journal of Clinical Epidemiology, phân tích kết quả viva trên 26.076 ứng viên của DiscoverPhDs (n.d.), và nghiên cứu trắc lượng thư mục về các đại học Việt Nam của Nguyen và cộng sự (2021) trên Heliyon.


Câu hỏi thường gặp

Results và discussion có nên tách thành hai chương riêng không?
Ở phần lớn thesis khối social sciences và humanities thì có tách, để việc báo cáo và việc diễn giải giữ được ranh giới rõ ràng. Một số ngành khoa học gộp chúng thành một chương "Findings and Discussion". Hãy đối chiếu rubric của chương trình và ý của supervisor trước khi quyết, và dù chọn cách nào cũng đánh dấu rõ phần diễn giải.

Discussion chapter nên dài bao nhiêu?
Không có con số chung, nhưng nó thường nằm trong nhóm chương dài nhất, có trọng lượng tương đương literature review. Hãy nhắm tới đủ chiều sâu để diễn giải thấu đáo từng câu hỏi nghiên cứu thay vì nhắm tới một chỉ tiêu số từ, và cắt mọi đoạn chỉ mô tả lại kết quả.

Discussion chapter khác chương conclusion ở chỗ nào?
Discussion diễn giải và lập luận chi tiết, còn conclusion là phần tổng hợp ngắn cuối cùng về những gì nghiên cứu đã cho thấy, đóng góp của nó và các hàm ý. Discussion gánh phần lập luận nặng, còn conclusion chốt lại lập luận mà discussion đã dựng lên.

Tôi có cần trích dẫn tài liệu mới trong phần discussion không?
Thường là có. Bạn sẽ hay đưa vào đây những nghiên cứu mà bạn đem kết quả của mình ra đối chiếu, kể cả khi chúng chưa xuất hiện trong literature review. Discussion là nơi việc đối chiếu diễn ra, nên mang vào các công trình liên quan để giải thích chỗ trùng khớp và chỗ vênh nhau là điều được chờ đợi.

Tôi nên nhắc lại bao nhiêu con số từ chương findings?
Hãy trích các con số then chốt một cách tiết chế để làm điểm tựa cho một diễn giải, nhưng đừng lập lại bảng biểu. Hãy dẫn người đọc về các bảng kết quả thay vì chép lại chúng, và dùng chỗ đó để giải thích các con số có nghĩa gì với câu hỏi nghiên cứu.

MAAS có giúp tôi viết discussion chapter chắc hơn không?
Có, theo cách đồng hành chứ không viết thay. Dịch vụ cố vấn thesis, dissertation của MAAS đi cùng nhà nghiên cứu người Việt qua khâu diễn giải kết quả, dựng cấu trúc chương, nối về khung lý thuyết và câu hỏi nghiên cứu, và viết phần giới hạn trung thực, theo mô hình từng phase với các mentor trình độ tiến sĩ. Bạn có thể đặt lịch tư vấn qua trang liên hệ.


Sẵn sàng viết một chương thảo luận khiến người chấm nể trọng?

Discussion là nơi một thesis chứng minh rằng nó hiểu chính kết quả của mình, và làm đúng phần này dễ hơn nhiều khi có một mentor được ghép đúng lĩnh vực nghiên cứu của bạn. Dịch vụ cố vấn thesis, dissertation của MAAS ghép bạn với một mentor có trình độ cao hơn bạn, tức học vị tiến sĩ hoặc thạc sĩ kèm kinh nghiệm hướng dẫn, bắt đầu bằng một buổi tư vấn 15 phút miễn phí, rồi ghép đúng người trong vòng 48 giờ khi mạng lưới đã có người ở lĩnh vực đó, hoặc khoảng hai tuần nếu MAAS phải tuyển riêng. Trong đội ngũ chuyên gia của MAAS, 23% có bằng tiến sĩ. Chương findings và chương discussion nằm trong các block đồng hành viết chương, và mỗi block khép lại bằng việc mentor nhận xét cấu trúc logic của bản nháp do chính bạn viết. Dịch vụ không đặt mục tiêu điểm và không hoàn tiền theo kết quả, và nếu mentor chưa hợp, bạn có thể đề nghị đổi chuyên gia. MAAS đồng hành, còn bạn vẫn là tác giả ở từng bước.

Đặt lịch tư vấn cố vấn dissertation cùng MAAS →


Bài liên quan


References

  • Annesley, T. M. (2010). The discussion section: Your closing argument. Clinical Chemistry, 56(11), 1671–1674. https://doi.org/10.1373/clinchem.2010.155358
  • Basturkmen, H. (2009). Commenting on results in published research articles and masters dissertations in language teaching. Journal of English for Academic Purposes, 8, 241–251.
  • Cals, J. W. L., & Kotz, D. (2013). Effective writing and publishing scientific papers, part VI: Discussion. Journal of Clinical Epidemiology, 66(10), 1064. https://doi.org/10.1016/j.jclinepi.2013.04.017
  • DiscoverPhDs. (n.d.). PhD failure rate: A study of 26,076 PhD candidates. Retrieved August 21, 2026, from https://www.discoverphds.com/advice/doing/phd-failure-rate
  • Docherty, M., & Smith, R. (1999). The case for structuring the discussion of scientific papers: Much the same as that for structuring abstracts. BMJ, 318(7193), 1224–1225. https://doi.org/10.1136/bmj.318.7193.1224
  • Hess, D. R. (2004). How to write an effective discussion. Respiratory Care, 49(10), 1238–1241.
  • Ioannidis, J. P. A. (2007). Limitations are not properly acknowledged in the scientific literature. Journal of Clinical Epidemiology, 60(4), 324–329. https://doi.org/10.1016/j.jclinepi.2006.09.011
  • Nguyen, N. D., Nguyen, T. D., & Dao, K. T. (2021). Effects of institutional policies and characteristics on research productivity at Vietnam science and technology universities. Heliyon, 7(1), Article e06024. https://doi.org/10.1016/j.heliyon.2021.e06024
  • Paltridge, B., & Starfield, S. (2007). Thesis and dissertation writing in a second language: A handbook for supervisors. Routledge.

Bài viết này thuộc chuỗi MAAS Journal dành cho học viên cao học và nhà nghiên cứu người Việt đang học tập ở nước ngoài. Dịch vụ cố vấn của MAAS là một đối tác tư vấn, đồng hành cùng ứng viên theo từng phase với phản hồi phát triển từ các mentor trình độ tiến sĩ. MAAS không viết, không nộp bài, và không bảo đảm công trình được chấp nhận thay cho ứng viên.

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Cần áp dụng vào bài của bạn?

Từ bài viết này
đến bài của bạn.

Trong một buổi tư vấn miễn phí 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS nghe đề bài hoặc đề tài của bạn cùng yêu cầu của người hướng dẫn, rồi gợi ý cách áp dụng nội dung bài này vào đúng trường hợp đó.