Phần thảo luận của một bài báo nghiên cứu là nơi bạn diễn giải các phát hiện, chúng có nghĩa gì, vì sao chúng quan trọng, và chúng khớp với công trình trước ra sao. Đây là phần diễn giải và lập luận, không phải chỗ nhắc lại kết quả. Với nhà nghiên cứu và học viên người Việt, đây cũng là phần mà người bình duyệt Q1 soi kỹ nhất, bởi nó cho thấy bạn hiểu kết quả của mình hay chỉ đang báo cáo những con số.
Vấn đề nằm ở cấu trúc chứ không riêng văn phong. Các tổng biên tập báo cáo tỉ lệ từ chối trước bình duyệt là 39% ở chính tạp chí của họ và cao tới 78% ở JAMA Internal Medicine với những bản thảo nhận trong năm 2017 (Dantas-Torres, 2022), và một phần thảo luận chỉ lặp lại kết quả thay vì lập luận cho ý nghĩa của chúng là lý do đã ghi nhận khiến bản thảo không bao giờ tới tay người bình duyệt.
Bài viết này trả lời bảy câu hỏi mà nhà nghiên cứu người Việt hỏi cố vấn công bố của MAAS nhiều nhất khi họ bước vào giai đoạn viết thảo luận cho một bản thảo nhắm Scopus.
Tác giả: Ban Xuất bản Phương pháp Nghiên cứu MAAS · Một cố vấn chuyên ngành của MAAS thẩm định
Cập nhật lần cuối: 2026-06-11
Chuyên mục: research-methods

Phần thảo luận là gì, và nó thật sự dùng để làm gì?
Trả lời trực tiếp: Phần thảo luận là nơi bạn diễn giải kết quả và lập luận cho ý nghĩa của chúng. Ở đó bạn nêu các phát hiện chính, đối chiếu chúng với tài liệu đã có, giải thích chúng bổ sung được gì, thừa nhận hạn chế, rồi rút ra kết luận có chừng mực. Đây là phần diễn giải và lập luận, không phải một phần kết quả thứ hai.
Bằng chứng: Hướng dẫn dành cho tác giả trong ngành y sinh mô tả phần thảo luận là chỗ tóm lược những phát hiện chính, đặt chúng vào bối cảnh các công trình đi trước, rồi cân nhắc hàm ý cùng những thiếu sót của nghiên cứu (Cals & Kotz, 2013). Một cách ví có ảnh hưởng so sánh nó với lời tranh luận kết thúc trước toà, khi bạn đã trình bằng chứng ở phần kết quả, còn phần thảo luận là nơi bạn thuyết phục người đọc rằng bằng chứng ấy có nghĩa gì (Annesley, 2010).
Ví dụ: Một tác giả người Việt lần đầu viết bài mang tới cho cố vấn MAAS một phần thảo luận chỉ liệt kê lại từng bảng trong phần kết quả. Cố vấn chỉ ra rằng không dòng nào trong đó diễn giải điều gì cả, và hai người dựng lại toàn bộ mục quanh câu hỏi các phát hiện ấy có nghĩa gì, biến một bản tóm tắt thành một lập luận mà người bình duyệt có thể đối thoại.
Nên cấu trúc phần thảo luận thế nào?
Trả lời trực tiếp: Hãy dùng một cấu trúc rõ ràng và dễ đoán. Mở đầu bằng câu trả lời cho câu hỏi nghiên cứu cùng các phát hiện chính, đối chiếu chúng với những nghiên cứu trước, giải thích cơ chế hoặc lý do, nêu hạn chế trung thực, rồi đưa ra hàm ý và một kết luận ngắn. Phần thảo luận có cấu trúc thì dễ viết hơn, và người bình duyệt cũng dễ theo hơn hẳn.
Bằng chứng: Từ lâu các tổng biên tập đã lập luận rằng phần thảo luận nên có cấu trúc thay vì lan man, theo một trình tự khuyến nghị đi từ phát biểu các phát hiện chính, tới điểm mạnh và điểm yếu, tới đối chiếu với những nghiên cứu khác, rồi tới ý nghĩa và các câu hỏi còn bỏ ngỏ (Docherty & Smith, 1999). Trình tự năm phần đó, công bố trên BMJ năm 1999, đến nay vẫn nằm dưới các hướng dẫn viết bài y sinh ra đời sau nó, gồm cả Cals và Kotz (2013) lẫn Ghasemi et al. (2019). Một cách tổ chức nhất quán giúp người đọc định vị từng thành phần và báo hiệu rằng bạn lập luận có kỷ luật.
| Thành phần thảo luận | Nó làm gì | Lỗi thường gặp |
|---|---|---|
| Mở đầu và phát hiện chính | Trả lời thẳng câu hỏi nghiên cứu | Chép lại toàn bộ kết quả |
| Đối chiếu với tài liệu | Cho thấy điều gì mới, điều gì được củng cố | Bỏ qua nghiên cứu trái chiều |
| Diễn giải và cơ chế | Giải thích vì sao kết quả xảy ra | Khẳng định nhân quả từ tương quan |
| Hạn chế | Đặt giới hạn trung thực cho các khẳng định | Chỉ liệt kê hạn chế vụn vặt |
| Hàm ý và kết luận | Nêu giá trị thực hành hoặc giá trị nghiên cứu | Khẳng định vượt quá dữ liệu |
Ví dụ: Một học viên sau đại học được MAAS đồng hành đã viết phần thảo luận thành một trang liền mạch không ngắt. Cố vấn của bạn ấy đặt nó lên năm thành phần trên, và cùng một nội dung ấy, sau khi sắp lại thứ tự, bỗng đọc ra như một lập luận có logic thay vì một dòng quan sát chảy tràn, mà không thêm dữ liệu mới nào.
Mở đầu phần thảo luận và nêu phát hiện chính thế nào?
Trả lời trực tiếp: Hãy mở đầu bằng cách trả lời câu hỏi nghiên cứu trong một hoặc hai câu, nêu phát hiện quan trọng nhất bằng lời lẽ dễ hiểu. Đừng mở lại bằng bối cảnh hay phương pháp. Đoạn đầu tiên cần nói cho một người bình duyệt đang bận biết bạn tìm ra điều gì và vì sao điều đó đáng kể, trước khi họ đọc thêm bất cứ dòng nào.
Bằng chứng: Phần thảo luận nên bắt đầu bằng chính các phát hiện chính chứ không phải bằng một bản nhắc lại phần mở đầu, và nó cũng không nên kể lại kết quả kèm chi tiết số liệu (Docherty & Smith, 1999). Nguyên văn của hai tác giả là "The discussion should begin with a restatement of the principal finding" (Docherty & Smith, 1999, p. 1224). Xem đoạn mở như khẳng định mạnh nhất của bạn, tức tiêu đề cho lời tranh luận kết thúc, sẽ giữ cho cả mục không bị tản (Annesley, 2010).
Ví dụ: Một nhà nghiên cứu người Việt mở phần thảo luận bằng ba câu bối cảnh tài liệu trước khi nhắc tới kết quả của chính mình. Cố vấn MAAS chuyển phát hiện trung tâm lên dòng đầu, và đoạn mở sau khi sửa đã trả lời ngay câu hỏi mà tiêu đề bài hứa hẹn, đúng thứ người bình duyệt tìm.
Đối chiếu phát hiện của bạn với nghiên cứu trước ra sao?
Trả lời trực tiếp: Hãy đặt kết quả cạnh tài liệu đã có, nói rõ chỗ nào bạn trùng với nghiên cứu trước, chỗ nào bạn khác họ, và vì sao khác biệt đó có thể xuất hiện, do mẫu, do bối cảnh, do phương pháp hay do cách đo. Chính cách đặt vào bối cảnh này biến một phát hiện thành một đóng góp, bởi nó cho thấy nghiên cứu của bạn thêm được gì cho ngành.
Bằng chứng: Một phần thảo luận hiệu quả đặt kết quả vào bối cảnh bằng cách so với các công trình trước và giải thích những chỗ trùng khớp lẫn những chỗ chênh lệch, dựa trên lập luận chứ không dựa trên khẳng định suông (Ghasemi et al. 2019). Từng nghiên cứu đơn lẻ cũng nên được đọc trong tương quan với các tổng quan hệ thống liên quan thay vì với vài bài riêng lẻ nhặt ra cho hợp ý, để phép so sánh còn công bằng (Docherty & Smith, 1999).
Ví dụ: Một khách hàng của dịch vụ Cố vấn Công bố MAAS tìm ra một kết quả mâu thuẫn với hai bài báo nổi tiếng. Thay vì giấu đi, cố vấn giúp bạn ấy giải thích chênh lệch đó qua khác biệt về dân số nghiên cứu và thời điểm đo, một phép so sánh minh bạch làm bản thảo mạnh lên chứ không yếu đi.
Viết phần hạn chế trung thực mà không dìm bài của mình thế nào?
Trả lời trực tiếp: Hãy nêu những hạn chế thật sự ảnh hưởng tới cách đọc kết quả, gồm thiết kế, cỡ mẫu, yếu tố gây nhiễu và khả năng khái quát hoá, rồi giải thích hướng và mức tác động có thể của chúng. Hạn chế trung thực và cụ thể xây được lòng tin nơi người bình duyệt, còn hạn chế mơ hồ, hạn chế chỉ để trang trí, hoặc không nêu gì cả, đều gây nghi ngờ.
Bằng chứng: Một cuộc rà từ khoá trên 400 bài báo thuộc các tạp chí y học và khoa học sự sống hàng đầu cho thấy chỉ 17% dùng dù chỉ một từ thừa nhận hạn chế, và không một bài nào bàn tới việc hạn chế ấy có thể ảnh hưởng thế nào tới chính kết luận của mình (Ioannidis, 2007). Người bình duyệt ngày càng mong tác giả tự nêu ra các điểm yếu thật, bởi một hạn chế không được nhắc mà người bình duyệt tự phát hiện thì tai hại hơn nhiều so với một hạn chế bạn công khai và đặt vào bối cảnh.
Ví dụ: Một học viên sau đại học người Việt muốn bỏ hẳn đoạn hạn chế cho bài trông mạnh hơn. Cố vấn MAAS khuyên ngược lại, và hai người gọi tên rõ thiết kế cắt ngang cùng cỡ mẫu khiêm tốn, giải thích từng thứ giới hạn kết luận ra sao, rồi sau đó chính người bình duyệt đã khen sự thẳng thắn của mục này.
Nêu hàm ý và kết luận thế nào để không khẳng định quá tay?
Trả lời trực tiếp: Hãy khớp mọi khẳng định với bằng chứng của bạn. Nêu hàm ý của các phát hiện đối với thực hành, chính sách hoặc nghiên cứu tương lai, nhưng giữ ngôn ngữ cân xứng, tránh rút khẳng định nhân quả từ dữ liệu tương quan, và tránh khái quát hoá vượt ra ngoài mẫu của mình. Hãy kết bằng một kết luận ngắn và cụ thể, không phải một lời nhắc lại to tát.
Bằng chứng: Tác giả được nhắc nhở đừng diễn giải quá đà các phát hiện hay kéo kết luận đi xa hơn mức dữ liệu chống đỡ được, và nên phân biệt điều nghiên cứu chứng minh với điều nó mới chỉ gợi ý (Cals & Kotz, 2013). Một phần thảo luận có kỷ luật tách bạch kết quả đã chứng minh khỏi phần suy đoán, và gắn nhãn rõ cho phần suy đoán (Ghasemi et al. 2019), đúng thứ kỷ luật mà Annesley (2010) mô tả là khác biệt giữa một lời tranh luận kết thúc được bồi thẩm đoàn chấp nhận và một lời không được chấp nhận.
Ví dụ: Bản thảo của một khách hàng MAAS kết luận rằng can thiệp của bạn ấy "nên được áp dụng trên toàn quốc" chỉ dựa trên một nghiên cứu thí điểm nhỏ. Cố vấn diễn đạt lại khẳng định đó thành một luận cứ cho việc mở rộng sang thử nghiệm quy mô lớn hơn, một hàm ý cân xứng mà người bình duyệt Q1 sẽ chấp nhận thay vì đánh dấu là quá tay.
Những lỗi nào ở phần thảo luận khiến bài bị từ chối, và tác giả người Việt tránh chúng ra sao?
Trả lời trực tiếp: Những nguyên nhân lặp đi lặp lại gồm lặp lại kết quả thay vì diễn giải, phớt lờ tài liệu trái chiều, giấu hạn chế, khẳng định quá tay, và chôn phát hiện chính dưới lớp bối cảnh. Cách tránh là viết nháp phần thảo luận theo một cấu trúc có sẵn, rồi xin nhận xét phát triển từ một cố vấn đã từng bình duyệt bài báo ở phía bên kia bàn.
Bằng chứng: Phần thảo luận thường hỏng khi tác giả kể lại kết quả mà không diễn giải, hoặc kéo kết luận vượt quá bằng chứng (Hess, 2004). Sản lượng công bố của các đại học Việt Nam trên Scopus và Web of Science tăng 41,6% chỉ trong một năm, tính năm 2018 so với 2017, nhanh hơn mức tăng 34,7% của tổng số công bố toàn quốc trong cùng giai đoạn (Nguyen et al., 2021), nên một phần thảo luận lập luận tốt là cách rẻ để tác giả người Việt nâng bản thảo lên trên ngưỡng bị từ chối thay vì đánh mất nó ở chặng cuối.
| Lỗi | Vì sao người bình duyệt từ chối | Cách sửa |
|---|---|---|
| Lặp lại kết quả | Không thêm diễn giải nào | Giải thích từng phát hiện có nghĩa gì |
| Phớt lờ nghiên cứu trái chiều | Trông như đọc có chọn lọc | Xử lý thẳng chỗ bất đồng |
| Giấu hạn chế | Mất lòng tin khi bị phát hiện | Công khai ràng buộc thật từ sớm |
| Khẳng định hàm ý quá tay | Bằng chứng không đỡ nổi | Giữ khẳng định cân xứng |
| Chôn mất phát hiện chính | Người bình duyệt bỏ lỡ đóng góp | Mở đầu bằng kết quả chính |
Ví dụ: Một cố vấn MAAS đã đồng hành cùng một tác giả người Việt qua mô hình Outline, Draft rồi Final, trong đó bản outline chốt năm thành phần của phần thảo luận, bản draft diễn giải thay vì kể lại, và bản final trau ngôn ngữ cho rõ với người viết tiếng Anh như ngoại ngữ. Tác giả vẫn là tác giả suốt chặng đường, còn cố vấn góp ý ở từng bước chứ không viết mục đó thay bạn ấy.
Hướng dẫn này lấy từ đâu
Lời khuyên về cấu trúc ở trên dựa trên các hướng dẫn viết bài đã qua bình duyệt, đăng trên BMJ, Clinical Chemistry, Journal of Clinical Epidemiology, Respiratory Care và International Journal of Endocrinology and Metabolism trong khoảng 1999 tới 2019, chứ không dựa vào một quy chuẩn nội bộ nào. Nó đứng cạnh các nghiên cứu riêng biệt về việc phần thảo luận và phần hạn chế thật sự được viết và được bình duyệt ra sao trên thực tế, gồm một cuộc rà 400 bài trên Journal of Clinical Epidemiology (Ioannidis, 2007), một nghiên cứu về từ chối trước bình duyệt trên Parasites & Vectors (Dantas-Torres, 2022), và một nghiên cứu trắc lượng thư mục về các đại học Việt Nam trên Heliyon (Nguyen et al., 2021).
Câu hỏi thường gặp
Phần thảo luận nên dài bao nhiêu?
Không có độ dài cố định, nhưng phần thảo luận thường tương đương phần mở đầu và ngắn hơn phần kết quả gộp lại. Chất lượng quan trọng hơn số từ, bởi 2 tới 4 trang tập trung và diễn giải rõ ràng vẫn hơn một phần thảo luận dài mà chỉ lặp lại dữ liệu.

Tôi gộp phần kết quả và phần thảo luận được không?
Một số tạp chí cho phép mục gộp "Results and Discussion", và vài ngành còn thích cách đó hơn. Hãy đọc hướng dẫn tác giả của tạp chí đích trước. Nếu gộp, bạn vẫn phải giữ phần diễn giải tách bạch với phần báo cáo, để người bình duyệt thấy được chỗ nào bằng chứng dừng lại và chỗ nào lập luận bắt đầu.
Phần thảo luận có nên nhắc lại các con số ở phần kết quả không?
Hãy trích lại vài con số then chốt cho vừa đủ để neo một diễn giải, nhưng đừng lập lại toàn bộ bảng biểu. Nhiệm vụ của phần thảo luận là giải thích những con số ấy có nghĩa gì, chứ không phải trình bày chúng lần nữa. Hãy dẫn người đọc quay lại bảng và hình thay vì tái tạo chúng.
Phần hạn chế đặt ở đâu, trong phần thảo luận hay thành một mục riêng?
Phần lớn tạp chí đặt hạn chế bên trong phần thảo luận, thường ngay trước hàm ý và kết luận. Một số ít đòi hẳn một tiểu mục riêng. Dù theo cách nào, hãy nêu chúng trung thực và giải thích tác động của chúng thay vì liệt kê cho có.
Phần thảo luận khác phần kết luận ở chỗ nào?
Phần thảo luận diễn giải và lập luận, còn phần kết luận là một bản tổng hợp ngắn và sau cùng về điều nghiên cứu cho thấy và ý nghĩa của điều đó. Ở nhiều tạp chí, kết luận là đoạn khép lại của phần thảo luận chứ không đứng thành một tiêu đề riêng. Hãy giữ nó cụ thể và gắn với bằng chứng của bạn.
Bài bị từ chối trước cả khi người bình duyệt nhìn thấy có thường xuyên không?
Khá thường xuyên. Dantas-Torres (2022) báo cáo tỉ lệ từ chối trước bình duyệt là 39% ở chính tạp chí của ông và lên tới 78% ở JAMA Internal Medicine với những bản thảo nhận trong năm 2017. Trình bày kém và tiếng Anh kém nằm trong mười nguyên nhân phổ biến nhất mà ông liệt kê, và một phần thảo luận lập luận rõ ràng, có cấu trúc, xử lý thẳng cả hai điều đó.
Người bình duyệt có thật sự kiểm tra xem tôi có thừa nhận hạn chế của nghiên cứu không?
Rất kỹ. Ioannidis (2007) thấy chỉ 17% trong 400 bài khảo sát ở các tạp chí hàng đầu dùng dù chỉ một từ thừa nhận hạn chế, và không bài nào bàn tới việc hạn chế đó có thể làm đổi kết luận ra sao. Một phần thảo luận gọi tên hạn chế của mình một cách trung thực nổi bật lên chính vì rất ít bài làm thế.
MAAS có giúp tôi viết phần thảo luận tốt hơn được không?
Có. Dịch vụ Cố vấn Công bố của MAAS đồng hành cùng nhà nghiên cứu người Việt trong việc diễn giải phát hiện, dựng cấu trúc phần thảo luận, đối chiếu với tài liệu và viết phần hạn chế trung thực, theo mô hình chia chặng, kèm nhận xét từ các cố vấn trình độ tiến sĩ. Bạn đặt lịch tư vấn qua trang liên hệ của MAAS.
Sẵn sàng đưa phần thảo luận của bạn tới chuẩn Q1?
Một phần thảo luận mạnh diễn giải các phát hiện, đặt chúng vào tài liệu và giới hạn chúng trung thực, và việc đó dễ làm đúng hơn nhiều khi có một cố vấn đã từng thẩm định bản thảo từ phía người bình duyệt. Dịch vụ Cố vấn Công bố của MAAS ghép bạn với một cố vấn trình độ tiến sĩ, với 23% chuyên gia của MAAS có học vị tiến sĩ, cho một buổi tư vấn miễn phí 20 phút, ghép bạn với đúng cố vấn trong vòng 48 giờ khi mạng lưới đã phủ ngành đó, hoặc khoảng hai tuần nếu MAAS phải tuyển thêm, và cùng bạn đặt mục tiêu điểm ba bậc Pass, Merit hoặc Distinction ngay từ đầu, kèm 45 ngày hỗ trợ sau khi nộp bài. MAAS đồng hành, còn bạn vẫn là tác giả ở mọi bước.
Đặt buổi tư vấn Cố vấn Công bố với MAAS Academic Mentoring →
Bài hướng dẫn liên quan
- Viết phần kết quả của bài báo nghiên cứu thế nào?: báo cáo những phát hiện mà phần thảo luận sẽ diễn giải
- Chọn kiểm định thống kê phù hợp cho một công bố Q1 thế nào?: làm đúng phần phân tích trước khi diễn giải
- Trả lời nhận xét của người bình duyệt cho tạp chí Scopus thế nào?: bảo vệ diễn giải của bạn sau khi nộp
- Chọn tạp chí Scopus phù hợp cho bài của bạn thế nào?: ghép đóng góp của bạn với đúng nơi đăng
- Dịch vụ Cố vấn Công bố: các bậc dịch vụ đầy đủ cho hỗ trợ Scopus Q1 và Q2
- Trung tâm tài nguyên công bố Scopus: các cẩm nang trải suốt hành trình nộp bài
- Gặp đội ngũ chuyên gia MAAS: những cố vấn trình độ tiến sĩ đứng sau dịch vụ cố vấn công bố
Tài liệu tham khảo
- Annesley, T. M. (2010). The discussion section: Your closing argument. Clinical Chemistry, 56(11), 1671–1674. https://doi.org/10.1373/clinchem.2010.155358
- Cals, J. W. L., & Kotz, D. (2013). Effective writing and publishing scientific papers, part VI: Discussion. Journal of Clinical Epidemiology, 66(10), 1064. https://doi.org/10.1016/j.jclinepi.2013.04.017
- Dantas-Torres, F. (2022). Top 10 reasons your manuscript may be rejected without review. Parasites & Vectors, 15, Article 418. https://doi.org/10.1186/s13071-022-05543-w
- Docherty, M., & Smith, R. (1999). The case for structuring the discussion of scientific papers: Much the same as that for structuring abstracts. BMJ, 318(7193), 1224–1225. https://doi.org/10.1136/bmj.318.7193.1224
- Ghasemi, A., Bahadoran, Z., Mirmiran, P., Hosseinpanah, F., Shiva, N., & Zadeh-Vakili, A. (2019). The principles of biomedical scientific writing: Discussion. International Journal of Endocrinology and Metabolism, 17(3), Article e95415. https://doi.org/10.5812/ijem.95415
- Hess, D. R. (2004). How to write an effective discussion. Respiratory Care, 49(10), 1238–1241.
- Ioannidis, J. P. A. (2007). Limitations are not properly acknowledged in the scientific literature. Journal of Clinical Epidemiology, 60(4), 324–329. https://doi.org/10.1016/j.jclinepi.2006.09.011
- Nguyen, N. D., Nguyen, T. D., & Dao, K. T. (2021). Effects of institutional policies and characteristics on research productivity at Vietnam science and technology universities. Heliyon, 7(1), Article e06024. https://doi.org/10.1016/j.heliyon.2021.e06024
Bài viết này thuộc chuỗi MAAS Journal dành cho học viên sau đại học và nhà nghiên cứu người Việt đang học tập ở nước ngoài. Dịch vụ Cố vấn Công bố của MAAS là một đối tác tư vấn, và MAAS đồng hành cùng tác giả theo mô hình giao việc chia chặng, với nhận xét phát triển từ các cố vấn trình độ tiến sĩ đã công bố trên Scopus. MAAS không viết hộ, không nộp bài thay, và không bảo đảm bài được chấp nhận.
