Skip to content
Quay lại BlogResearch Methods

Viết phần kết quả của bài báo nghiên cứu thế nào?

19 phút đọc3,734 từ

Phần kết quả của một bài báo nghiên cứu báo cáo các phát hiện của bạn đúng như thực tế và không kèm diễn giải, dùng phối hợp cả phần chữ, bảng và hình. Với nhà nghiên cứu và học viên người Việt, đây là lõi dữ kiện của một bản thảo nhắm Scopus, bởi nếu phần này hỏng thì người bình duyệt sẽ thôi tin phần còn lại của bài.

Bài viết này trả lời bảy câu hỏi mà nhà nghiên cứu người Việt hỏi cố vấn công bố của MAAS nhiều nhất ở giai đoạn viết phần kết quả.

Năm bài báo làm nền cho hướng dẫn dưới đây. Kotz và Cals (2013a) đặt ra trình tự các mục, gồm tuyển chọn mẫu, đặc điểm mẫu, phân tích chính, phân tích thứ cấp, rồi các phát hiện phụ trợ, cùng nguyên tắc không diễn giải ngay bên trong phần kết quả. Annesley (2010) hình dung phần kết quả như bằng chứng đặt lên bàn để phần thảo luận tranh luận về sau. Mensh và Kording (2017) gắn trình tự đó vào một câu hỏi trung tâm duy nhất mà cả bài phải trả lời. Schulz, Altman và Moher (2010), khi soạn tuyên bố CONSORT về cách báo cáo thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng, tách phần báo cáo khách quan, gồm dòng chảy người tham gia, dữ liệu nền và các kết cục kèm ước lượng, khỏi phần suy luận vốn thuộc về thảo luận. Wasserstein và Lazar (2016), trong tuyên bố của Hiệp hội Thống kê Hoa Kỳ về giá trị p, lập luận rằng một giá trị p đứng một mình sẽ giấu mất hướng, độ lớn và độ chính xác mà khoảng tin cậy cho thấy.

Tác giả: Ban Xuất bản Phương pháp Nghiên cứu MAAS · Một cố vấn chuyên ngành của MAAS thẩm định
Cập nhật lần cuối: 2026-06-26
Chuyên mục: research-methods

Không gian làm việc của MAAS EdTech
Đội ngũ MAAS EdTech


Phần kết quả là gì, và nó thật sự dùng để làm gì?

Trả lời trực tiếp: Phần kết quả trình bày các phát hiện của nghiên cứu đúng như thực tế, theo trình tự có tổ chức, không kèm diễn giải. Nó báo cáo điều bạn quan sát được, gồm tuyển chọn mẫu, đặc điểm mẫu, kết cục chính, rồi phát hiện thứ cấp và phát hiện ngoài dự kiến, và để dữ liệu tự lên tiếng. Diễn giải, ý nghĩa và đối chiếu với công trình khác thuộc về thảo luận.

Bằng chứng: Phần kết quả đưa ra một mô tả rõ ràng, ngắn gọn và khách quan về các phát hiện, viết chủ yếu ở thì quá khứ, và trình bày phát hiện mà không diễn giải vì phần diễn giải thuộc về thảo luận (Kotz & Cals, 2013a). Mục này nên cho thấy chính dữ liệu thay vì nói cho người đọc biết phải kết luận gì, tức bằng chứng được đặt lên bàn để phần thảo luận sau đó tranh luận về ý nghĩa của nó (Annesley, 2010).

Ví dụ: Một tác giả người Việt lần đầu viết bài mang tới cho cố vấn MAAS một phần kết quả đầy những cụm như "phát hiện quan trọng này chứng minh rằng". Cố vấn chỉ ra mỗi cụm đó là một diễn giải chứ không phải một kết quả, và hai người chuyển toàn bộ phán đoán sang phần thảo luận, để lại một mục chỉ báo cáo các con số, thứ mà người bình duyệt thấy đáng tin hơn hẳn.


Nên cấu trúc phần kết quả thế nào?

Trả lời trực tiếp: Hãy theo một trình tự dễ đoán, phản chiếu đúng phần phương pháp, gồm tuyển chọn hoặc tỉ lệ phản hồi, đặc điểm mẫu, kết quả từ các phân tích chính, rồi phân tích thứ cấp, và cuối cùng là những phát hiện ngoài dự kiến. Mỗi phương pháp bạn đã mô tả cần có một kết quả tương ứng. Cách này khiến mục dễ viết và cũng dễ để người bình duyệt soi lại.

Bằng chứng: Một trình tự phổ biến và hiệu quả là tuyển chọn và phản hồi, đặc điểm mẫu, phân tích chính, phân tích thứ cấp, rồi các phát hiện phụ trợ, sao cho phần kết quả phản chiếu phần phương pháp và mỗi "bạn đã làm gì" đều có một "bạn tìm ra gì" đi kèm (Kotz & Cals, 2013a). Tổ chức cả bài quanh một câu hỏi trung tâm duy nhất giữ cho phần kết quả bám vào những phát hiện trả lời câu hỏi ấy, thay vì mọi con số bạn đã thu (Mensh & Kording, 2017).

Thành phần kết quả Nó báo cáo gì Lỗi thường gặp
Tuyển chọn và phản hồi Cách bạn có được mẫu, thường kèm sơ đồ dòng chảy Nhảy thẳng vào kết cục
Đặc điểm mẫu Nhân khẩu học và các biến nền, tức Bảng 1 Chôn các mô tả then chốt trong văn xuôi
Phân tích chính Những phát hiện trả lời câu hỏi chính của bạn Trộn lẫn kết quả thứ cấp vào
Phân tích thứ cấp Các phát hiện bổ sung đã dự trù từ trước Trình bày chúng như phân tích chính
Phụ trợ và ngoài dự kiến Phát hiện hậu kiểm, dùng để sinh giả thuyết Ám chỉ rằng chúng đã nằm trong kế hoạch

Ví dụ: Một học viên sau đại học được MAAS đồng hành đã báo cáo các kết cục trước khi mô tả người tham gia. Cố vấn sắp lại mục để mở đầu bằng phần tuyển chọn mẫu và một Bảng 1 về đặc điểm mẫu, và cùng khối dữ liệu ấy bỗng đọc ra như một chuỗi có kỷ luật mà người bình duyệt theo được.


Quyết định thế nào giữa đưa vào phần chữ và đưa vào bảng, hình?

Trả lời trực tiếp: Hãy dùng bảng và hình cho khối lượng dữ liệu lớn, còn phần chữ thì chỉ làm nổi bật những phát hiện ủng hộ giả thuyết của bạn hoặc những phát hiện nằm ngoài dự kiến. Đừng chép nguyên một bảng vào phần văn xuôi. Phần chữ và các mục trình bày dữ liệu cần phối hợp với nhau, chứ không lặp lại nhau.

Bằng chứng: Phần kết quả chạy tốt nhất khi phần chữ và các hình, bảng tương tác qua lại, với dữ liệu quan trọng nhất xuất hiện ở cả hai chỗ và bảng, hình gánh phần dữ liệu khối lượng lớn (Kotz & Cals, 2013a). Bảng và hình phải tự nó nói lên được nội dung, và chúng là phương tiện phù hợp cho các kết quả số dày đặc, trong khi phần chữ chỉ đường cho người đọc tới chỗ quan trọng nhất (Kotz & Cals, 2013b).

Ví dụ: Một nhà nghiên cứu người Việt đã gõ lại nguyên một bảng 20 dòng thành các câu văn. Cố vấn MAAS cắt phần văn xuôi xuống còn 2 câu làm nổi bật những dòng thật sự đáng kể và để bảng gánh phần còn lại, nhờ đó mục ngắn đi khoảng 1 trang và đọc rõ hơn nhiều.


Báo cáo thống kê đúng cách thế nào?

Trả lời trực tiếp: Hãy báo cáo cỡ hiệu ứng, chẳng hạn chênh lệch trung bình, tỉ số chênh hay nguy cơ tương đối, kèm khoảng tin cậy 95% của chúng, và đưa số tuyệt đối bên cạnh tỉ lệ phần trăm. Đừng bao giờ báo cáo một kết quả chỉ bằng giá trị p. Hãy giữ số thập phân nhất quán và ghép mỗi thước đo xu hướng trung tâm với thước đo độ phân tán của nó.

Bảng đối chiếu cách báo cáo đúng bốn loại thống kê, gồm chênh lệch giữa các nhóm, tỉ lệ, xu hướng trung tâm và ý nghĩa thống kê, với những cách cần tránh
Chỉ một giá trị p thì giấu mất độ lớn và hướng của hiệu ứng

Bằng chứng: Tác giả nên đưa cỡ hiệu ứng kèm khoảng tin cậy 95%, không bao giờ báo cáo kết quả chỉ với giá trị p, và luôn cho số tuyệt đối bên cạnh các thước đo tương đối, với trung bình đi kèm độ lệch chuẩn và trung vị đi kèm khoảng tứ phân vị (Kotz & Cals, 2013a). Trên thực tế, điều đó nghĩa là viết một tỉ lệ dưới dạng 33 trong 150 người tham gia (22%) thay vì một con số phần trăm trơ trọi không có mẫu số, bởi chính số đếm mới cho người đọc phán đoán được phát hiện này khái quát tới đâu. Khoảng tin cậy giàu thông tin hơn giá trị p vì nó cho thấy hướng, độ lớn và độ chính xác của một hiệu ứng, còn diễn giải chỉ dựa trên giá trị p thì dễ dẫn tới sai lệch (Wasserstein & Lazar, 2016). Tuyên bố của Hiệp hội Thống kê Hoa Kỳ nói thẳng về giới hạn này, rằng "a p-value, or statistical significance, does not measure the size of an effect or the importance of a result" (Wasserstein & Lazar, 2016, p. 132).

Thống kê Báo cáo dưới dạng Cần tránh
Chênh lệch giữa các nhóm Cỡ hiệu ứng kèm khoảng tin cậy 95% Chỉ ghi "p < 0,05"
Tỉ lệ Số đếm tuyệt đối kèm phần trăm, ví dụ 33/150 (22%) Phần trăm không có mẫu số
Xu hướng trung tâm Trung bình kèm độ lệch chuẩn, hoặc trung vị kèm khoảng tứ phân vị Trung bình trơ trọi, không có độ phân tán
Ý nghĩa thống kê Ghi "có ý nghĩa thống kê" kèm tên kiểm định Dùng chữ "có ý nghĩa" tuỳ tiện

Ví dụ: Một khách hàng của dịch vụ Cố vấn Công bố MAAS báo cáo mọi phép so sánh đều là "có ý nghĩa (p < 0,05)". Cố vấn giúp bạn ấy bổ sung cỡ hiệu ứng và khoảng tin cậy, nhờ đó cùng những kết quả ấy trở nên diễn giải được, và một người bình duyệt Q1 vốn sẽ gạch bản gốc đã chấp nhận cách báo cáo mới.

Khi cái khó nằm ở phần phân tích chứ không nằm ở câu chữ, dịch vụ Dự án Dữ liệu và Lập trình đi cùng bạn qua từng bước phương pháp và từng dòng kết xuất, cho tới khi bạn tự giải thích được mỗi kết quả.


Phần kết quả nên dùng thì nào và giọng văn nào?

Trả lời trực tiếp: Hãy viết phần kết quả ở thì quá khứ và bằng ngôn ngữ trung tính. Tránh những từ lén đưa diễn giải vào, chẳng hạn "đáng chú ý", "nổi bật" hay "chứng minh". Với các kết quả cùng loại, hãy dùng đúng một cách diễn đạt và đúng một trình tự thay vì đi tìm từ đồng nghĩa, bởi làm vậy chỉ khiến người đọc rối thêm.

Bằng chứng: Phần kết quả viết chủ yếu ở thì quá khứ, và tác giả được khuyên tránh những từ như "remarkably" hay "strikingly" vốn hàm ý diễn giải, đồng thời dùng cách diễn đạt giống nhau cho các kết quả giống nhau thay vì đổi chữ cho đẹp văn (Kotz & Cals, 2013a). Trình bày các phát hiện như dữ liệu cần được trưng ra, chứ không như kết luận cần được biện hộ, giữ đúng giọng trung tính mà người bình duyệt trông đợi (Annesley, 2010).

Ví dụ: Một học viên sau đại học người Việt viết bằng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai đã dùng ba cách diễn đạt khác nhau cho cùng một phép so sánh. Cố vấn MAAS chuẩn hoá chúng về một khuôn duy nhất, và chính sự nhất quán đó làm câu văn đọc lên có vẻ chính xác thay vì có vẻ lưỡng lự.


Phần kết quả khác phần thảo luận ở chỗ nào?

Trả lời trực tiếp: Phần kết quả báo cáo, còn phần thảo luận diễn giải. Phần kết quả nêu bạn tìm ra gì, theo trình tự, kèm thống kê chống lưng. Phần thảo luận giải thích những phát hiện đó có nghĩa gì, chúng so với công trình trước ra sao, và hạn chế cùng hàm ý của chúng là gì. Giữ hai phần tách bạch là một trong những tín hiệu rõ nhất của tác giả có kỷ luật.

Bằng chứng: Các phát hiện nên được trình bày trong phần kết quả mà không kèm diễn giải, bởi phần diễn giải thuộc về thảo luận (Kotz & Cals, 2013a). Các chuẩn báo cáo củng cố ranh giới này bằng cách quy định rõ những thông tin khách quan nào thuộc phần kết quả, gồm dòng chảy người tham gia, dữ liệu nền, các kết cục kèm ước lượng, tách khỏi những suy luận rút ra về sau (Schulz et al. 2010).

Ví dụ: Một khách hàng MAAS cứ trôi dần sang lối viết "điều này gợi ý rằng" ngay trong phần kết quả. Cố vấn dùng mô hình Outline, Draft rồi Final để chốt lại câu nào là phát hiện và câu nào là diễn giải, nhờ đó phần kết quả chỉ báo cáo còn phần thảo luận mới lập luận, không chồng lấn nhau.


Những lỗi nào ở phần kết quả khiến bài bị từ chối, và tác giả người Việt tránh chúng ra sao?

Trả lời trực tiếp: Các nguyên nhân lặp lại gồm diễn giải phát hiện ngay trong phần kết quả, báo cáo giá trị p không kèm cỡ hiệu ứng, chép lại bảng biểu vào phần chữ, trình bày kết cục trước khi mô tả mẫu, và báo cáo thiếu nhất quán. Cách tránh là viết nháp theo cấu trúc có sẵn và xin nhận xét từ một cố vấn đã từng thẩm định bản thảo ở phía người bình duyệt.

Bằng chứng: Phần kết quả thường hỏng khi tác giả diễn giải thay vì báo cáo, bỏ mất khoảng tin cậy, hoặc chép nguyên các bảng biểu vào phần văn xuôi (Kotz & Cals, 2013a và Wasserstein & Lazar, 2016). Annesley (2010) gọi tên kỷ luật nằm dưới đó, rằng hãy ngửa bài ra, tức trình chính bằng chứng, thay vì nói trước cho người bình duyệt biết phải rút kết luận nào khi phần thảo luận còn chưa giành được quyền đó. Khi ngày càng nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam nhắm tạp chí Scopus Q1 và Q2, một phần kết quả sạch sẽ và báo cáo đúng chuẩn là cách rẻ để vượt ngưỡng phương pháp, thay vì đánh mất một nghiên cứu vững vì những lỗi lẽ ra tránh được.

Lỗi Vì sao người bình duyệt từ chối Cách sửa
Diễn giải trong phần kết quả Làm nhoè ranh giới bằng chứng và lập luận Chuyển mọi phán đoán sang phần thảo luận
Giá trị p không kèm cỡ hiệu ứng Giấu mất độ lớn và độ chính xác Thêm ước lượng kèm khoảng tin cậy 95%
Chép lại bảng vào phần chữ Tốn chỗ mà không thêm gì Chỉ làm nổi bật các dòng then chốt
Kết cục đứng trước phần mẫu Người bình duyệt không xét được tính giá trị Mở đầu bằng tuyển chọn mẫu và Bảng 1
Báo cáo thiếu nhất quán Trông cẩu thả Dùng một trình tự và một cách diễn đạt

Ví dụ: Một cố vấn MAAS đã đồng hành cùng một tác giả người Việt qua mô hình Outline, Draft rồi Final, trong đó bản outline chốt trình tự báo cáo, bản draft báo cáo mà không diễn giải, và bản final trau ngôn ngữ cho rõ với người viết tiếng Anh như ngoại ngữ. Tác giả vẫn là tác giả suốt chặng đường, còn cố vấn góp ý ở từng bước chứ không viết mục đó thay.


Câu hỏi thường gặp

Phần kết quả nên dài bao nhiêu?
Không có độ dài cố định, và phần kết quả thường ngắn gọn vì bảng cùng hình đã gánh phần lớn dữ liệu. Hãy báo cáo mọi phát hiện trả lời câu hỏi nghiên cứu của bạn, bỏ ra ngoài những con số không trả lời gì, và để các mục trình bày dữ liệu gánh phần số liệu dày.

Phần kết quả có nên đưa giá trị p không?
Bạn có thể báo cáo giá trị p, nhưng đừng bao giờ để nó đứng một mình. Hãy ghép nó với cỡ hiệu ứng và khoảng tin cậy 95% để người đọc thấy hướng, độ lớn và độ chính xác của hiệu ứng (Wasserstein & Lazar, 2016). Một khoảng tin cậy giàu thông tin hơn một giá trị p báo cáo tách rời.

Tôi gộp phần kết quả và phần thảo luận được không?
Một số tạp chí cho phép mục gộp "Results and Discussion", và vài ngành còn thích cách đó hơn. Hãy đọc hướng dẫn tác giả của tạp chí đích trước. Nếu gộp, bạn vẫn phải giữ phần báo cáo tách bạch rõ với phần diễn giải, để người bình duyệt thấy được chỗ nào bằng chứng dừng lại và chỗ nào lập luận bắt đầu.

Phần kết quả nên viết ở thì nào?
Chủ yếu ở thì quá khứ, bởi bạn đang báo cáo những gì mình quan sát được trong một nghiên cứu đã hoàn tất (Kotz & Cals, 2013a). Hãy dùng từ ngữ trung tính và tránh những trạng từ mang tính diễn giải như "remarkably" hay "strikingly", vốn thuộc về phần thảo luận chứ không thuộc phần báo cáo phát hiện.

Bảng và hình có lặp lại phần chữ không?
Không. Bảng và hình phải tự nó nói lên được nội dung và gánh phần dữ liệu chi tiết, còn phần chữ chỉ làm nổi bật những phát hiện quan trọng nhất hoặc nằm ngoài dự kiến (Kotz & Cals, 2013b). Chép nguyên một bảng vào văn xuôi vừa tốn chỗ vừa không thêm gì cho người đọc lẫn người bình duyệt.

MAAS có giúp tôi viết phần kết quả tốt hơn được không?
Có. Dịch vụ Cố vấn Công bố của MAAS đồng hành cùng nhà nghiên cứu người Việt trong việc dựng cấu trúc phần kết quả, chọn thứ gì thuộc về bảng và thứ gì thuộc về phần chữ, cùng cách báo cáo thống kê cho đúng, theo mô hình chia chặng, kèm nhận xét từ các cố vấn trình độ tiến sĩ. Bạn đặt lịch tư vấn qua trang liên hệ của MAAS.


Sẵn sàng đưa phần kết quả của bạn tới chuẩn Q1?

Một phần kết quả mạnh báo cáo các phát hiện rõ ràng và để dành phần diễn giải cho thảo luận, việc này dễ hơn nhiều khi có một cố vấn đã từng thẩm định bản thảo từ phía người bình duyệt. Dịch vụ Cố vấn Công bố của MAAS ghép bạn với một cố vấn trình độ tiến sĩ, với 23% chuyên gia của MAAS có học vị tiến sĩ, cho một buổi tư vấn miễn phí 20 phút, ghép bạn với đúng cố vấn trong vòng 48 giờ khi mạng lưới đã phủ ngành đó, hoặc khoảng 2 tuần nếu MAAS phải tuyển thêm, và cùng bạn đặt mục tiêu điểm ba bậc Pass, Merit hoặc Distinction ngay từ đầu, kèm 45 ngày hỗ trợ sau khi nộp bài. MAAS đồng hành, còn bạn vẫn là tác giả ở mọi bước.

Đặt buổi tư vấn Cố vấn Công bố với MAAS Academic Mentoring →


Bài hướng dẫn liên quan


Tài liệu tham khảo


Bài viết này thuộc chuỗi MAAS Journal dành cho học viên sau đại học và nhà nghiên cứu người Việt đang học tập ở nước ngoài. Dịch vụ Cố vấn Công bố của MAAS là một đối tác tư vấn, và MAAS đồng hành cùng tác giả theo mô hình giao việc chia chặng, với nhận xét phát triển từ các cố vấn trình độ tiến sĩ đã công bố trên Scopus. MAAS không viết hộ, không nộp bài thay, và không bảo đảm bài được chấp nhận.

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.