Theoretical framework, tiếng Việt thường gọi là khung lý thuyết, là phần trong thesis hay dissertation gọi tên các khái niệm cốt lõi của nghiên cứu, đề xuất mối quan hệ giữa chúng và nêu rõ những lý thuyết đã được công nhận mà bạn dùng để diễn giải kết quả. Để viết phần này, bạn định nghĩa từng khái niệm cốt lõi từ nguồn học thuật, khảo sát những lý thuyết mà ngành của bạn đang dùng, giải thích vì sao chọn lý thuyết này thay vì phương án khác, rồi kiểm tra xem lựa chọn đó còn khớp với mục tiêu và phương pháp nghiên cứu hay không.
Bài viết này sẽ hướng dẫn bạn viết khung lý thuyết một cách hiệu quả, từ lúc định nghĩa khái niệm cho tới lúc bảo vệ được lựa chọn lý thuyết của mình trước người chấm (marker). Bạn cũng sẽ thấy một ví dụ cụ thể và năm lỗi hay làm khung lý thuyết yếu đi. Các nguồn học thuật dùng trong bài được liệt kê đầy đủ ở cuối để bạn tự đối chiếu.
Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật lần cuối: 2026-09-24
Chuyên mục: thesis-dissertation

Khung lý thuyết là gì và nó làm gì cho nghiên cứu của bạn?
Trả lời trực tiếp: Khung lý thuyết cho người đọc biết bạn đang mượn lý thuyết nào của ngành để nhìn đề tài. Lý thuyết đó quyết định cách bạn gọi tên khái niệm, cách đặt câu hỏi nghiên cứu và cách đọc dữ liệu thu được. Trong dissertation, phần này thường nằm ngay trong chương literature review chứ không tách thành một chương riêng, và nó là nền để các chương sau dựa vào.
Khung lý thuyết là nền tảng, hay lăng kính, mà một nghiên cứu dựa vào để định nghĩa khái niệm, đặt câu hỏi và diễn giải dữ liệu. Thư viện của National University mô tả phần này bằng cụm "foundation or lens". Sacred Heart University Library (2026) mô tả cụ thể hơn: phần này giới thiệu lý thuyết giải thích vì sao vấn đề nghiên cứu tồn tại, cùng các khái niệm chính, định nghĩa của chúng và những lý thuyết sẵn có mà nghiên cứu sử dụng, tất cả rút ra từ việc đọc tài liệu. Concordia University Chicago Library (n.d.) viết gọn trong một câu: "A theoretical framework consists of concepts and, together with their definitions and reference to relevant scholarly literature, existing theory that is used for your particular study". Nói cách khác, khung lý thuyết gồm các khái niệm, định nghĩa của chúng, và những lý thuyết có sẵn trong tài liệu học thuật mà chính nghiên cứu của bạn dùng tới.
Chữ "lăng kính" ở đây không phải cách nói cho hay. Hai người có thể nghiên cứu cùng một lớp học hay cùng một chuỗi cung ứng, rồi đi tới hai kết luận khác nhau mà đều có cơ sở, chỉ vì họ đọc dữ liệu qua hai lý thuyết khác nhau. Lấy một nghiên cứu về lý do nhân viên phản đối một hệ thống mới. Nếu dùng Technology Acceptance Model của Davis (1989), câu hỏi xoay quanh hai cấu trúc Davis đặt tên là cảm nhận hữu ích (perceived usefulness) và cảm nhận dễ sử dụng (perceived ease of use). Nếu dùng Theory of Planned Behaviour của Ajzen (1991), câu hỏi chuyển sang ba cấu trúc Ajzen đặt tên là thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Khung lý thuyết là chỗ bạn nói với người đọc, trước khi có dữ liệu nào, rằng bạn đang cầm lăng kính nào và vì sao.
Khung lý thuyết thật sự làm những việc gì?
Theo hướng dẫn của National University, khung lý thuyết neo cả nghiên cứu vào tri thức đã có. Nó xác định ranh giới của đề tài, định hướng câu hỏi nghiên cứu, dẫn dắt cách bạn đọc và chọn tài liệu, và ảnh hưởng trực tiếp tới lựa chọn phương pháp. Vì vậy, khi phần này mơ hồ, các chương sau thường lệch theo, vì câu hỏi nghiên cứu không có điểm tựa khái niệm để bám vào. Luft và cộng sự (2022), trong một bài báo bình duyệt viết cho người mới làm nghiên cứu giáo dục, thêm một phép thử về hướng đi: khung lý thuyết giải thích hiện tượng qua một lăng kính cụ thể, thách thức và mở rộng tri thức hiện có, nên một phần chỉ tóm lược điều người khác đã viết thì chưa làm được việc của nó. Nếu bạn từng bị nhận xét rằng chương hai "mới dừng ở mô tả", bài về literature review cho nghiên cứu sinh Việt phân tích kỹ ranh giới này.
Hình dung khung lý thuyết như một hộp đồ nghề
Sheffield Hallam University Library (n.d.) gợi ý một cách hình dung dễ nhớ. Các lý thuyết, khái niệm và giả định trong khung giống những dụng cụ bạn chọn ra từ hộp đồ nghề cho một việc cụ thể, còn methodology giống cuốn hướng dẫn sử dụng cho biết bạn dùng các dụng cụ đó theo trình tự nào. Cách hình dung này giúp tách hai phần hay bị viết lẫn vào nhau trong bản nháp đầu, vì khung lý thuyết trả lời câu "bạn nhìn bằng gì", còn methodology trả lời câu "bạn làm như thế nào". Ví dụ, chọn SERVQUAL của Parasuraman và cộng sự (1988) là chọn dụng cụ, còn quyết định triển khai nó thành một bảng hỏi trên nhiều tình huống dịch vụ mới là đọc hướng dẫn sử dụng.
Theoretical framework và conceptual framework khác nhau thế nào, đề bài của bạn cần loại nào?
Trả lời trực tiếp: Theoretical framework dùng một lý thuyết có tên, đã được công nhận trong tài liệu, làm lăng kính cho nghiên cứu. Conceptual framework là cấu trúc do chính người nghiên cứu dựng lên từ các biến của đề tài, thường vẽ thành sơ đồ. Hai thuật ngữ này hay bị dùng lẫn như thể đồng nghĩa, nên trước khi viết, bạn cần đọc handbook (tài liệu hướng dẫn) của chương trình để biết đề bài đòi loại nào.
Grant và Osanloo (2014), trên Administrative Issues Journal, nhận xét rằng hai thuật ngữ này thường bị dùng thay cho nhau một cách thiếu chính xác, và hướng dẫn của National University cũng ghi nhận đúng tình trạng đó. Vì vậy việc đầu tiên nên làm là xác định chương trình của bạn thật sự yêu cầu loại nào. Nếu cần một bài so sánh đầy đủ, bạn có thể đọc thêm phân tích conceptual vs theoretical framework và hướng dẫn viết conceptual framework.
Ẩn dụ bản thiết kế ngôi nhà
Grant và Osanloo (2014) so sánh việc làm dissertation với việc xây một ngôi nhà, và hai tác giả nói rõ phép so sánh đó thuộc về khung nào: "We believe the blueprint is an appropriate analogy of the theoretical framework of the dissertation" (Grant & Osanloo, 2014, p. 12). Bản thiết kế là bản vẽ có sẵn, làm xong trước khi khởi công, và chính nó cho phép đổ móng cũng như quyết định mặt bằng các phòng. Điều đáng chú ý là hai tác giả không gán cho conceptual framework một bộ phận khác của ngôi nhà. Họ định nghĩa nó riêng, là cách người nghiên cứu hiểu vấn đề sẽ được khai thác ra sao và các biến quan hệ với nhau thế nào (Grant & Osanloo, 2014, p. 16). Nhiều người đọc lướt đoạn này rồi nhớ nhầm rằng conceptual framework mới là bản thiết kế, tức ngược hẳn với điều bài gốc viết.
Dissertation PhD và đề án ứng dụng thường dùng loại nào?
Theo National University, dissertation PhD theo hướng nghiên cứu hàn lâm, thường dài 80.000 hoặc 100.000 từ, được kỳ vọng dùng theoretical framework, còn các applied doctoral project, tức đề án ứng dụng ở bậc tiến sĩ, có thể dùng một trong hai loại tuỳ bản chất vấn đề. Khi đó conceptual framework là sản phẩm người nghiên cứu tự tổng hợp từ các biến và kết quả thực nghiệm liên quan. Du học sinh Việt hay gặp tình huống supervisor, tức người hướng dẫn, ghi bên lề chương lý thuyết câu "this reads like a conceptual framework". Trong nhiều trường hợp, điều họ muốn nói là bạn đang tự dựng mô hình từ các biến thay vì neo lập luận vào một lý thuyết đã được công nhận, tức một lý thuyết có tên tác giả và năm công bố đi kèm.
Khung lý thuyết nằm ở đâu trong dissertation?
Trả lời trực tiếp: Trong phần lớn dissertation, theoretical framework nằm bên trong chương literature review, và chỉ nên tách thành chương riêng khi nghiên cứu dùng nhiều lý thuyết phức tạp. Vị trí cụ thể thay đổi theo trường, có nơi còn đặt phần này trong chương mở đầu, nên bạn cần đối chiếu cấu trúc mà handbook của chương trình mình quy định trước khi viết.
Ví dụ, hướng dẫn của Lee University Library (n.d.) đặt phần này thành một mục trong chương mở đầu, trước literature review. Để hình dung tỷ lệ, có thể nhìn vào handbook môn LD7201 của Northumbria University (n.d.), một trường ở Anh. Dissertation thạc sĩ ở môn này dài 12.000 từ, trong đó chương 2 Background Research and Literature Review, nơi chứa phần khung lý thuyết, được khuyến nghị khoảng 3.500 từ. Cùng ở Northumbria nhưng khác chương trình, dissertation tự chọn 60 tín chỉ NX0480 tại Newcastle Business School lại quy định 15.000 từ. Hai con số này cho thấy vì sao không nên đem số của một môn áp thẳng sang môn khác. Đây là quy định của từng chương trình cụ thể chứ không phải chuẩn chung, nên bạn cần đối chiếu handbook của chính mình trước khi chia số từ.
Khung lý thuyết cũng cần khớp với những gì bạn đã hứa ở chương mở đầu, như phân tích trong hướng dẫn viết dissertation introduction. Nếu bạn muốn nhìn toàn cảnh cấu trúc dissertation theo từng chương, hãy đọc cẩm nang viết dissertation của MAAS.
Bốn bước viết khung lý thuyết
Trả lời trực tiếp: Viết khung lý thuyết gồm bốn bước. Bạn định nghĩa các khái niệm cốt lõi từ nguồn học thuật, khảo sát những lý thuyết mà ngành của bạn đang dùng, giải thích vì sao chọn lý thuyết đó thay vì các lý thuyết cạnh tranh, rồi kiểm tra xem nó còn khớp với câu hỏi nghiên cứu và phương pháp. Bốn bước đi từ khái niệm tới một lựa chọn có lập luận bảo vệ.

Quy trình dưới đây tổng hợp từ bốn nguồn hướng dẫn học thuật, gồm hình ảnh hộp đồ nghề của Sheffield Hallam, quy trình tám bước của National University, checklist của Concordia University Chicago và bài báo bình duyệt của Luft và cộng sự (2022). Các nguồn mô tả trình tự theo cách hơi khác nhau, nhưng đều cùng một hướng, đi từ khái niệm, tới các lý thuyết ứng viên, tới một lựa chọn được bảo vệ, rồi tới bước kiểm tra độ khớp.
Bước 1: Định nghĩa khái niệm cốt lõi từ nguồn học thuật
University of Southern California Libraries (2026) mô tả khung lý thuyết gồm các khái niệm, định nghĩa của chúng và phần dẫn tới tài liệu học thuật liên quan. Vì các khái niệm đó nằm sẵn trong câu hỏi nghiên cứu và phát biểu vấn đề của bạn, hãy bắt đầu từ chính hai chỗ này. Concordia University Chicago Library (n.d.) gợi ý liệt kê các khái niệm và biến mà câu hỏi nghiên cứu ngụ ý, và tách rõ đâu là biến độc lập, đâu là biến phụ thuộc. Với mỗi khái niệm, hãy tìm hai tới ba định nghĩa của các tác giả khác nhau, so sánh chúng, rồi nói rõ bạn theo định nghĩa nào và vì sao. Một khái niệm chỉ có một định nghĩa lấy từ một nguồn thường là dấu hiệu bạn đọc chưa đủ rộng. Riêng khái niệm satisfaction đã có ít nhất hai cách hiểu cạnh tranh nhau. Oliver (1980) coi nó là khoảng cách giữa kỳ vọng và trải nghiệm thực tế, còn truyền thống SERVQUAL của Parasuraman và cộng sự (1988) coi nó là một phán đoán tổng hợp trên nhiều chiều đo cùng lúc.
Bước 2: Khảo sát những lý thuyết ngành của bạn đang dùng
Mỗi ngành có một bộ lý thuyết quen thuộc mà các nghiên cứu trước đã dùng đi dùng lại, và Sheffield Hallam khuyên bạn khảo sát bộ đồ nghề này trước khi tìm ra ngoài. Theo National University, cách làm cụ thể là tìm tài liệu theo đúng từ khoá của các biến trong câu hỏi nghiên cứu, rồi xem các nghiên cứu tương tự đã dựa vào lý thuyết nào để giải thích quan hệ giữa các biến đó.
Gọi tên các lý thuyết ra thì bước này rõ hơn nhiều. Một nghiên cứu về mức độ chấp nhận công nghệ gần như chắc chắn sẽ gặp Technology Acceptance Model, do Davis (1989) công bố trên MIS Quarterly, và Theory of Planned Behaviour, do Ajzen (1991) công bố trên Organizational Behavior and Human Decision Processes. Một nghiên cứu về chất lượng dịch vụ sẽ gặp SERVQUAL với năm chiều đo, do Parasuraman và cộng sự (1988) công bố trên Journal of Retailing. Một nghiên cứu về sự hài lòng sẽ gặp mô hình expectancy-disconfirmation mà Oliver (1980) trình bày trên Journal of Marketing Research. Một nghiên cứu định tính phân tích dữ liệu phỏng vấn sẽ gặp quy trình sáu bước phân tích chủ đề (thematic analysis) mà Braun và Clarke (2006) công bố trên Qualitative Research in Psychology. Bốn trong năm khung này đã được dùng hơn 3 thập kỷ, riêng khung của Braun và Clarke (2006) cũng đã gần 20 năm, và độ bền đó quan trọng vì một lý do thực dụng hơn là uy tín. Một lý thuyết được dùng nhiều thì đi kèm cả một kho thang đo đã công bố, nên bạn thừa hưởng công cụ người khác đã kiểm định thay vì tự dựng từ đầu.
Các ngành khác cũng có bộ mặc định riêng. Ngành giáo dục hay dùng Bloom's taxonomy của Bloom (1956) và khái niệm zone of proximal development mà Vygotsky (1978) trình bày trong bản tiếng Anh đầu tiên do Harvard University Press ấn hành. Ngành chiến lược hay dùng resource-based view mà Barney (1991) công bố trên Journal of Management, và mô hình năm lực lượng cạnh tranh mà Porter (1979) công bố trên Harvard Business Review. Ngành nghiên cứu tổ chức hay dùng cultural dimensions của Hofstede (1980) và mô hình bốn giai đoạn phát triển nhóm mà Tuckman (1965) công bố trên Psychological Bulletin. Đây là những lựa chọn mặc định theo ngành chứ không phải luật bắt buộc, nhưng biết chúng giúp bạn nhận ra ngay khi lựa chọn của mình đi khác lối quen, và khi đó bạn cần thêm một đoạn giải thích ở Bước 3.
Vì các biến sinh ra từ câu hỏi nghiên cứu, bước này chỉ chạy trơn khi câu hỏi đã đủ sắc. Nếu chưa, bạn nên quay lại hướng dẫn viết research questions và objectives trước.
Bước 3: Giải thích vì sao chọn lý thuyết này chứ không chọn lý thuyết khác
Bước này là chỗ tách một khung lý thuyết tốt khỏi một khung lý thuyết trung bình. National University yêu cầu người viết chủ động tìm cả những lý thuyết mâu thuẫn hoặc cạnh tranh với lựa chọn của mình, còn Sheffield Hallam nhấn mạnh việc nêu điểm mạnh, giới hạn của lý thuyết được chọn và mức độ phù hợp của nó với đề tài. Với một nghiên cứu về công nghệ, điều đó có nghĩa là nhắc tới cả Unified Theory of Acceptance and Use of Technology bên cạnh Technology Acceptance Model, chứ không chỉ nêu lý thuyết bạn định giữ lại.
Chọn lý thuyết mà cả khoa đang dùng có vẻ là phương án an toàn, và sự quen thuộc đúng là giúp bạn ít áp sai một lý thuyết mình chỉ hiểu một nửa. Vấn đề là một lựa chọn chưa từng được đặt cạnh phương án khác thì người chấm không có cách nào biết nó đến từ cân nhắc hay chỉ từ thói quen, và chính phần cân nhắc hiện ra trên trang giấy mới biến một đoạn mô tả thành một lập luận. Viết một đoạn ngắn cho mỗi phương án bị loại, nói rõ nó thiếu gì so với đề tài của bạn, là cách đơn giản nhất để cho thấy lựa chọn của bạn có cơ sở. Trên thực tế, hai tới ba đoạn so sánh như vậy thường là đủ.
Bước 4: Kiểm tra độ khớp với mục tiêu và phương pháp
Bước cuối trong quy trình tám bước của National University là rà lại toàn bộ chuỗi, xem lý thuyết đã chọn còn thẳng hàng với mục tiêu nghiên cứu, phát biểu vấn đề, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu và kế hoạch phân tích hay không. Bản nháp thay đổi dần theo thời gian, nên một lý thuyết chọn từ đầu có thể không còn hợp với nghiên cứu bạn đang thật sự làm. Concordia University Chicago Library bổ sung một việc hay bị bỏ qua là nêu rõ các giả định mà lý thuyết mang theo, vì mọi lý thuyết đều nhìn thế giới qua một số tiền đề, và người đọc cần biết bạn ý thức được điều đó. Khi một mắt xích lệch, chẳng hạn lý thuyết thiên về đo lường định lượng trong khi dữ liệu của bạn là phỏng vấn sâu, bạn nên điều chỉnh ngay ở bước này thay vì để người chấm phát hiện ra.
Bốn bước này cũng là chặng mà nhiều người nhận ra mình đang làm một mình. Dịch vụ cố vấn thesis, dissertation ghép bạn với một chuyên gia cấp cao đúng chuyên ngành, người đọc từng bản nháp khung lý thuyết và chất vấn phần lập luận, còn bạn vẫn là người viết.
Ví dụ cụ thể: ba định nghĩa customer satisfaction
Trả lời trực tiếp: Một khung lý thuyết mạnh không nêu một định nghĩa rồi đi tiếp. Nó đặt cạnh nhau vài định nghĩa cạnh tranh của cùng một khái niệm, cân nhắc từng định nghĩa, rồi nói rõ nghiên cứu chọn định nghĩa nào và vì sao nó hợp với bối cảnh hơn. Sau đó nó phác mối quan hệ giữa các khái niệm bằng một mô hình đơn giản và nối lý thuyết đã chọn về mục tiêu nghiên cứu.
Ví dụ này nằm đúng trong ngành business, nơi phần lớn du học sinh Việt tại RMIT hay Monash theo học. Giả sử bạn nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng. Bạn đặt cạnh nhau ba định nghĩa customer satisfaction từ các giáo trình marketing kinh điển, chẳng hạn của Thomassen (2003), của Kotler và cộng sự (2024) trong lần tái bản thứ 17, và của Zeithaml và cộng sự (2024) trong lần tái bản thứ 8. Bạn chỉ ra mỗi định nghĩa nhấn mạnh điều gì, rồi lập luận vì sao định nghĩa của Thomassen khớp nhất với bối cảnh doanh nghiệp đang nghiên cứu và chọn nó làm định nghĩa làm việc. Từ đó, các lý thuyết về kỳ vọng và cảm nhận của khách hàng được đưa vào, thể hiện bằng một mô hình trực quan, và cuối cùng cả khung được nối ngược về mục tiêu nghiên cứu. Giáo trình ở đây chỉ dùng cho bước so sánh định nghĩa, còn phần lý thuyết và bằng chứng vẫn cần dựa vào bài báo khoa học, như lỗi thứ năm ở phần sau nhắc lại.
Điều đáng học ở ví dụ này là hình dạng chứ không phải chủ đề. Mỗi khái niệm trung tâm đều đi qua cùng ba nhịp: đây là các định nghĩa cạnh tranh, đây là định nghĩa nghiên cứu này chọn, và đây là lý do lựa chọn đó phục vụ đúng mục tiêu nghiên cứu. Trình tự so sánh, chọn, lập mô hình rồi nối về mục tiêu chính là bốn bước ở trên thu nhỏ lại, và bạn có thể lặp lại nó cho gần như mọi khái niệm trung tâm.
Người chấm đọc phần khung lý thuyết như thế nào?
Trả lời trực tiếp: Người chấm đánh giá khung lý thuyết chủ yếu ở chỗ lựa chọn lý thuyết có được bảo vệ hay chỉ được mô tả. Đề bài ở Anh phân biệt rõ phân tích, đánh giá phản biện và biện minh, và phần này thường bị đọc theo cả ba cùng lúc. Khoảng cách giữa một band khá và band cao hơn thường nằm ở câu hỏi vì sao chọn lý thuyết này mà không chọn lý thuyết khác.
Các trang kỹ năng học thuật của University of Portsmouth (n.d.) phân biệt ba động từ hay gặp trong đề bài ở Anh. Analyse đòi bạn tách vấn đề thành từng phần rồi xem xét quan hệ giữa chúng. Critically evaluate đòi bạn cân nhắc cả lập luận và bằng chứng ủng hộ lẫn phản đối trước khi đưa ra kết luận. Justify đòi bạn đưa ra lý do có bằng chứng cho quyết định của mình. Phần khung lý thuyết thường được đọc theo cả ba yêu cầu đó.
Thang điểm môn LD7201 của Northumbria, một minh hoạ của riêng một trường chứ không phải quy định chung, cho thấy ranh giới giữa hai band mỏng tới mức nào. Band, tức khoảng điểm, 60-69 được mô tả là giải thích tốt nhưng chưa biện minh trọn vẹn cho lựa chọn, còn band 70-79 đòi lựa chọn được biện minh rõ ràng, kèm việc nêu giới hạn của chính nó. Khoảng cách 10 điểm giữa hai band đó, trên phần lớn thang điểm thạc sĩ ở Anh, chính là ranh giới giữa Merit và Distinction, hai mức điểm khá và giỏi trên thang điểm Anh. Điều tách hai band không phải là đọc thêm hay thêm lý thuyết, mà là phần này có trả lời được câu hỏi vì sao chọn lý thuyết này hay không. Cùng một cách chấm đó tiếp tục ở chương phương pháp, nơi mọi lựa chọn cũng phải trả lời được câu "tại sao", như phân tích trong hướng dẫn viết methodology.
Những lỗi thường gặp làm yếu khung lý thuyết
Trả lời trực tiếp: Năm lỗi chiếm phần lớn các khung lý thuyết bị đánh giá yếu. Đó là dùng lẫn theoretical với conceptual framework, chỉ tóm lược tài liệu mà không chọn lăng kính, nêu tên lý thuyết mà không bảo vệ lựa chọn, bỏ quên khung lý thuyết ở các chương phân tích và thảo luận, và dựa vào giáo trình thay vì bài báo khoa học.
Năm lỗi dưới đây lặp lại nhiều lần trong các bản nháp mà cố vấn MAAS đọc, và đều tránh được nếu phát hiện sớm.
- Dùng lẫn theoretical và conceptual framework: Grant và Osanloo (2014) đã chỉ rõ đây là hai thứ khác nhau. Nếu handbook yêu cầu một loại mà bạn nộp loại kia, người chấm thường nhận ra ngay trong 2 trang đầu, trước khi kịp xét tới nội dung.
- Nộp một bản tóm lược tài liệu và gọi đó là khung lý thuyết: Luft, Jeong, Idsardi và Gardner (2022) nhắc rằng khung lý thuyết phải diễn giải hiện tượng qua một lăng kính cụ thể, không dừng ở việc kể lại ai đã nói gì.
- Nêu tên một lý thuyết rồi dùng luôn mà không giải thích vì sao chọn nó: Theo thang điểm của Northumbria, đây là kiểu bài dừng ở band 60-69. Nếu chương trình của bạn có buổi viva, tức buổi bảo vệ miệng thường kéo dài 60 đến 90 phút, một lựa chọn không có lập luận đi kèm rất dễ bị hỏi lại.
- Chọn khung lý thuyết xong rồi bỏ quên nó: Khi các chương phân tích và kết luận không quay lại lăng kính đã đặt ra, người đọc có lý do để nghi ngờ khung đó có thật sự định hình nghiên cứu hay không, trái với bước kiểm tra độ khớp mà National University khuyến nghị.
- Dựa chủ yếu vào giáo trình thay vì bài báo khoa học: Handbook của Northumbria yêu cầu literature review rút từ nghiên cứu đăng trên tạp chí học thuật và đánh giá chúng có phê phán, nên một danh mục toàn giáo trình sẽ tự giới hạn mức điểm của phần này.
Câu hỏi thường gặp
Khung lý thuyết (theoretical framework) trong dissertation là gì?
Theo cách mô tả của National University, theoretical framework là nền tảng, hay lăng kính, mà nghiên cứu dựa vào để định nghĩa khái niệm và diễn giải kết quả. Nó nêu rõ những lý thuyết đã được công nhận nào sẽ dẫn dắt cách bạn đọc dữ liệu. Trong một dissertation thạc sĩ, phần này thường nằm bên trong chương 2.
Khung lý thuyết khác literature review ở điểm nào?
Literature review khảo sát rộng những gì ngành đã biết về đề tài, còn khung lý thuyết chọn ra từ đó một lăng kính cụ thể và lập luận cho lựa chọn ấy. Theo Luft và cộng sự (2022), một chương chỉ tóm lược tài liệu, dù đầy đủ tới đâu, vẫn chưa phải là khung lý thuyết. Literature review có thể bao quát hàng chục nguồn, trong khi khung lý thuyết chỉ giữ lại 2 hoặc 3 nguồn mà nghiên cứu thật sự dùng để tư duy.
Theoretical framework khác conceptual framework thế nào?
Theoretical framework dùng một lý thuyết có tên trong tài liệu làm hệ quy chiếu. Conceptual framework do người nghiên cứu tự dựng từ các biến của đề tài, thường ở dạng sơ đồ. Grant và Osanloo (2014) cùng National University đều lưu ý hai thuật ngữ này hay bị dùng lẫn dù không đồng nghĩa.
Khung lý thuyết nên dài bao nhiêu?
Chưa có trường đại học hay nghiên cứu bình duyệt nào trong danh mục tham khảo ấn định một độ dài chuẩn cho phần này, và vị trí của nó cũng thay đổi theo trường. Handbook LD7201 của Northumbria là một minh hoạ về tỷ lệ, với chương 2 chứa khung lý thuyết dài khoảng 3.500 từ trong một dissertation 12.000 từ. Con số đáng tin nhất vẫn là con số trong handbook của chính chương trình bạn.
Chọn lý thuyết phù hợp cho nghiên cứu bằng cách nào?
Theo quy trình tám bước của National University, bạn tìm tài liệu theo từ khoá của các biến trong câu hỏi nghiên cứu, xem các nghiên cứu tương tự đã dùng lý thuyết nào, chủ động tìm cả lý thuyết mâu thuẫn, rồi kiểm tra độ khớp với mục tiêu và phương pháp. Sheffield Hallam bổ sung việc cân nhắc điểm mạnh và giới hạn của từng lý thuyết ứng viên trước khi chốt.
Khung lý thuyết nằm ở chương nào trong dissertation?
Thường nằm trong chương literature review, dù có trường như Lee University đặt phần này trong chương mở đầu, và chỉ tách riêng khi nghiên cứu dùng nhiều lý thuyết phức tạp. Ở Northumbria, môn LD7201 đặt phần này trong chương 2 Background Research and Literature Review. Vị trí cụ thể ở chương trình của bạn do handbook và supervisor quyết định.
Khi bạn cần một người đọc kỹ chương lý thuyết
Chọn giữa các lý thuyết sẽ dễ hơn khi bạn được lập luận thành lời với một người đã đọc nhiều chương như thế và biết người chấm hay hỏi vặn ở đâu. Dissertation hiếm khi khó đều ở mọi chương. Có người vướng ở câu hỏi nghiên cứu, có người vướng đúng ở chỗ chọn và bảo vệ khung lý thuyết, có người chỉ cần một người đọc đủ sâu cho chương phân tích. Khi làm việc cùng cố vấn học thuật của MAAS, bạn nhận phản hồi có cấu trúc trên chính bản thảo của mình ở từng chặng, từ định hình đề tài, dựng khung lý thuyết, thiết kế phương pháp cho tới kết luận. Cố vấn đặt câu hỏi và chỉ ra giới hạn trong lập luận, còn phần viết và các quyết định học thuật cuối cùng vẫn thuộc về bạn. Tìm hiểu cách MAAS đồng hành tại dịch vụ cố vấn thesis, dissertation.
References
- Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179–211. https://doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-T
- Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of Management, 17(1), 99–120. https://doi.org/10.1177/014920639101700108
- Bloom, B. S. (1956). Taxonomy of educational objectives: The classification of educational goals, handbook I: Cognitive domain. David McKay.
- Braun, V., & Clarke, V. (2006). Using thematic analysis in psychology. Qualitative Research in Psychology, 3(2), 77–101. https://doi.org/10.1191/1478088706qp063oa
- Davis, F. D. (1989). Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of information technology. MIS Quarterly, 13(3), 319–340. https://doi.org/10.2307/249008
- Oliver, R. L. (1980). A cognitive model of the antecedents and consequences of satisfaction decisions. Journal of Marketing Research, 17(4), 460–469. https://doi.org/10.1177/002224378001700405
- Parasuraman, A., Zeithaml, V. A., & Berry, L. L. (1988). SERVQUAL: A multiple-item scale for measuring consumer perceptions of service quality. Journal of Retailing, 64(1), 12–40.
- Concordia University Chicago Library. (n.d.). Theoretical frameworks. Retrieved July 2, 2026, from https://libguides.cuchicago.edu/research_center/theoretical_frameworks
- Grant, C., & Osanloo, A. (2014). Understanding, selecting, and integrating a theoretical framework in dissertation research: Creating the blueprint for your "house". Administrative Issues Journal, 4(2), 12–26. https://files.eric.ed.gov/fulltext/EJ1058505.pdf
- Hofstede, G. (1980). Culture's consequences: International differences in work-related values. Sage Publications.
- Kotler, P., Keller, K. L., & Chernev, A. (2024). Marketing management (17th ed.). Pearson.
- Lee University Library. (n.d.). Theoretical framework: Developing your research study. Retrieved July 2, 2026, from https://leeuniversity.libguides.com/research_study_guide/theoretical_framework
- Luft, J. A., Jeong, S., Idsardi, R., & Gardner, G. (2022). Literature reviews, theoretical frameworks, and conceptual frameworks: An introduction for new biology education researchers. CBE—Life Sciences Education, 21(3), Article rm33. https://doi.org/10.1187/cbe.21-05-0134
- National University Library. (n.d.-a). Theoretical framework. Retrieved July 2, 2026, from https://resources.nu.edu/researchtools/theoreticalframework
- National University Library. (n.d.-b). Theoretical vs conceptual framework. Retrieved July 2, 2026, from https://resources.nu.edu/c.php?g=1446805&p=10752288
- Northumbria University. (n.d.). LD7201 master's dissertation module handbook [Unpublished course document]. Newcastle upon Tyne, UK.
- Porter, M. E. (1979). How competitive forces shape strategy. Harvard Business Review, 57(2), 137–145.
- Sacred Heart University Library. (2026, March 9). Theoretical framework: Organizing academic research papers. Retrieved July 2, 2026, from https://library.sacredheart.edu/c.php?g=29803&p=185919
- Sheffield Hallam University Library. (n.d.). Doing a research project: The theoretical framework. Retrieved July 2, 2026, from https://libguides.shu.ac.uk/researchprojects/theoretical-framework
- Thomassen, J. P. R. (2003). Klanttevredenheid: De zin en onzin [Customer satisfaction: Sense and nonsense]. Vakmedianet Management.
- Tuckman, B. W. (1965). Developmental sequence in small groups. Psychological Bulletin, 63(6), 384–399. https://doi.org/10.1037/h0022100
- University of Portsmouth. (n.d.). Essays: Task words. Retrieved July 2, 2026, from https://www.port.ac.uk/student-life/help-and-advice/study-skills/written-assignments/essays-task-words
- University of Southern California Libraries. (2026, June 24). Theoretical framework: Organizing your social sciences research paper. Retrieved July 2, 2026, from https://libguides.usc.edu/writingguide/theoreticalframework
- Vygotsky, L. S. (1978). Mind in society: The development of higher psychological processes. Harvard University Press.
- Zeithaml, V. A., Bitner, M. J., Gremler, D. D., & Mende, M. (2024). Services marketing: Integrating customer focus across the firm (8th ed.). McGraw Hill.
Giấy phép mở. Bài học này được phát hành theo giấy phép Creative Commons Ghi công 4.0 Quốc tế (CC BY 4.0). Bạn được chia sẻ, dịch và chỉnh sửa cho bất kỳ mục đích nào, kể cả mục đích thương mại, miễn là ghi công MAAS Education Technology JSC và dẫn liên kết về trang này. Bản trích dẫn được có mã DOI vĩnh viễn lưu tại Zenodo.
