Để viết khung lý thuyết, bạn định nghĩa từng khái niệm cốt lõi từ nguồn học thuật, khảo sát những lý thuyết mà ngành mình đã dùng, giải thích vì sao chọn lý thuyết này thay vì phương án khác, rồi kiểm tra độ khớp giữa lựa chọn đó với mục tiêu và phương pháp nghiên cứu. Bản thân khung lý thuyết, trong tài liệu tiếng Anh gọi là theoretical framework, là phần trong luận văn xác định các khái niệm cốt lõi, đề xuất mối quan hệ giữa chúng và nêu rõ những lý thuyết đã được thiết lập mà bạn sẽ dùng để diễn giải kết quả.
Mọi khẳng định trong bài đều bắt nguồn từ 25 nguồn học thuật, phần lớn là hướng dẫn thư viện đại học, bài báo bình duyệt về phương pháp nghiên cứu, và một handbook môn học tại Northumbria University ở Anh, danh sách đầy đủ nằm ở mục Nguồn tham khảo cuối bài để bạn tự đối chiếu.
Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật lần cuối: 2026-07-20
Chuyên mục: thesis-dissertation
KHUNG LÝ THUYẾT LÀ GÌ VÀ LÀM GÌ CHO NGHIÊN CỨU CỦA BẠN
Trả lời trực tiếp: khung lý thuyết là lăng kính lý thuyết mà một nghiên cứu dựa vào để định nghĩa khái niệm, đặt câu hỏi và diễn giải dữ liệu. Nó nêu rõ bạn mượn lý thuyết đã được công nhận nào của ngành để đọc vấn đề của mình. Trong tài liệu tiếng Anh, phần này gọi là theoretical framework, thường nằm trong chương tổng quan tài liệu.
Khung lý thuyết là nền tảng, hay lăng kính lý thuyết, mà một nghiên cứu dựa vào để định nghĩa khái niệm, đặt câu hỏi và diễn giải dữ liệu. Thư viện học thuật của National University mô tả phần này đúng nghĩa là "foundation or lens" của toàn bộ công trình, còn theo Sacred Heart University Library (2026), phần này giới thiệu và mô tả lý thuyết giải thích vì sao vấn đề nghiên cứu tồn tại, cùng các khái niệm, định nghĩa của chúng và những lý thuyết sẵn có mà nghiên cứu sử dụng, tất cả dựa trên việc đọc tài liệu có hệ thống. Khi phần này vững, người đọc hiểu ngay bạn đang nhìn vấn đề qua lăng kính nào và vì sao kết quả của bạn có thể đối thoại với những nghiên cứu đi trước. Hướng dẫn của Concordia University Chicago Library viết rõ: "A theoretical framework consists of concepts and, together with their definitions and reference to relevant scholarly literature, existing theory that is used for your particular study" (Concordia University Chicago Library, n.d.), nghĩa là khung lý thuyết gồm các khái niệm, định nghĩa đi kèm, và những lý thuyết sẵn có trong tài liệu học thuật liên quan mà nghiên cứu của bạn dùng.
Chữ "lăng kính" ở đây không phải cách nói bóng bẩy. Hai người có thể nghiên cứu cùng một lớp học, cùng một chuỗi cung ứng, và đi đến hai kết luận khác nhau nhưng đều có cơ sở, chỉ vì họ đọc dữ liệu qua hai lý thuyết khác nhau. Một nghiên cứu về vì sao nhân viên phản kháng hệ thống mới sẽ đọc theo một hướng khi dùng Technology Acceptance Model (Davis, 1989), nơi câu hỏi trở thành cảm nhận hữu ích và cảm nhận dễ sử dụng, 2 cấu trúc mà Davis đặt tên, và đọc theo một hướng khác khi dùng Theory of Planned Behaviour (Ajzen, 1991), nơi câu hỏi trở thành thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi, 3 cấu trúc mà Ajzen đặt tên.
KHUNG NÀY THỰC SỰ LÀM NHỮNG VIỆC GÌ
Theo National University, truy cập ngày 2/7/2026, theoretical framework neo giữ toàn bộ nghiên cứu: nó xác định ranh giới của đề tài, định hướng câu hỏi nghiên cứu, dẫn dắt cách bạn đọc và chọn lọc tài liệu, và ảnh hưởng trực tiếp đến lựa chọn phương pháp. Vì vậy, khi framework mơ hồ thì các chương sau thường lệch theo, bởi câu hỏi nghiên cứu không có điểm tựa khái niệm để bám vào. Một lưu ý quan trọng từ bài báo bình duyệt của Luft và cộng sự (2022): theoretical framework giải thích hiện tượng qua một lăng kính cụ thể, thách thức và mở rộng tri thức hiện có, vì vậy một phần chỉ tóm lược những gì người khác đã viết thì chưa làm được việc của nó. Nếu bạn từng bị nhận xét rằng chương hai "mới dừng ở mô tả", bài viết về literature review cho nghiên cứu sinh Việt phân tích kỹ ranh giới đó.
HÌNH DUNG BỘ ĐỒ NGHỀ
Thư viện Sheffield Hallam University (Sheffield Hallam University Library, n.d.), truy cập ngày 2/7/2026, gợi ý một cách hình dung dễ nhớ: các lý thuyết, khái niệm và giả định trong framework giống như những công cụ bạn chọn ra từ hộp đồ nghề để làm việc với dữ liệu, trong khi methodology giống cuốn hướng dẫn sử dụng cho biết bạn dùng những công cụ đó theo trình tự nào. Cách hình dung này giúp tách bạch hai phần hay bị viết lẫn vào nhau: framework trả lời "nhìn bằng gì", methodology trả lời "làm như thế nào". Ví dụ, chọn SERVQUAL của Parasuraman và cộng sự (1988) là chọn công cụ, còn quyết định chạy nó thành một bảng hỏi trên nhiều tình huống dịch vụ khác nhau mới là đọc hướng dẫn sử dụng.
KHUNG LÝ THUYẾT HAY KHUNG KHÁI NIỆM: ĐỀ BÀI CỦA BẠN CẦN LOẠI NÀO
Trả lời trực tiếp: theoretical framework mượn một lý thuyết có tên, đã được công nhận trong tài liệu, làm lăng kính cho nghiên cứu. Conceptual framework là cấu trúc do chính người nghiên cứu dựng lên từ các biến của đề tài, thường trình bày dưới dạng sơ đồ. Grant và Osanloo (2014), trên Administrative Issues Journal, nhận xét rằng hai thuật ngữ này thường xuyên bị dùng thay thế cho nhau một cách thiếu chính xác, và National University, truy cập ngày 2/7/2026, cũng ghi nhận đúng tình trạng đó, vì vậy việc đầu tiên bạn nên làm là đọc kỹ yêu cầu của chương trình xem đề bài thực sự đòi loại nào. Nếu cần một bài so sánh trọn vẹn, bạn có thể đọc thêm phân tích conceptual vs theoretical framework và hướng dẫn viết conceptual framework.
ẨN DỤ BẢN VẼ NGÔI NHÀ
Grant và Osanloo (2014), trong một bài công bố trên Administrative Issues Journal, so sánh việc dựng luận văn với việc xây một ngôi nhà: theoretical framework giống bản vẽ tổng thể cho thấy hình dáng và kết cấu chịu lực của cả công trình, trong khi conceptual framework giống bản vẽ mặt bằng cho thấy từng phòng nối với nhau ra sao trong chính ngôi nhà đó. Nói cách khác, một bên là hệ quy chiếu bạn mượn từ ngành, một bên là bản đồ bạn tự vẽ cho câu hỏi cụ thể của mình.
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VÀ ĐỀ ÁN ỨNG DỤNG THƯỜNG DÙNG LOẠI NÀO
Theo National University, luận án PhD theo hướng nghiên cứu hàn lâm, thường dài 80.000 hay 100.000 từ, được kỳ vọng dùng theoretical framework, trong khi các đề án doctoral ứng dụng có thể dùng một trong hai loại tùy bản chất vấn đề. Conceptual framework khi đó là sản phẩm tổng hợp của người nghiên cứu từ các biến và kết quả thực nghiệm liên quan. Với du học sinh Việt, một tình huống quen thuộc là supervisor phê "this reads like a conceptual framework" bên lề chương lý thuyết: trong không ít trường hợp, điều họ muốn nói là bạn đang tự dựng mô hình từ các biến thay vì neo lập luận vào một lý thuyết đã được thiết lập.
KHUNG LÝ THUYẾT NẰM Ở ĐÂU TRONG LUẬN VĂN
Trả lời trực tiếp: theoretical framework thường nằm bên trong chương literature review, và chỉ nên tách thành một chương riêng khi nghiên cứu làm việc với nhiều lý thuyết phức tạp. Vị trí cụ thể thay đổi theo trường, chẳng hạn hướng dẫn của Lee University (Lee University Library, n.d.), truy cập ngày 2/7/2026, đặt phần này như một mục trong chương mở đầu, trước literature review.
Để hình dung tỷ lệ, có thể nhìn vào handbook môn LD7201 của Northumbria University (Northumbria University, n.d.), một trường tại Anh: luận văn thạc sĩ dài 12.000 từ, trong đó chương 2 Background Research and Literature Review, nơi chứa phần framework, được khuyến nghị khoảng 3.500 từ. Cùng ở Northumbria nhưng khác chương trình, luận văn tự chọn 60 tín chỉ [NX0480 tại Newcastle Business School](/vi/blog/nx0480-newcastle-business-school-masters-dissertation-guide) lại quy định 15.000 từ, minh hoạ rõ vì sao con số của một môn không nên đem áp thẳng sang môn khác. Tuy nhiên đây là con số của một chương trình cụ thể chứ chưa phải chuẩn chung, vì mỗi trường quy định khác nhau, nên bạn cần đối chiếu handbook của chính chương trình mình trước khi phân bổ số từ. Phần framework cũng cần khớp với những gì bạn đã hứa ở chương mở đầu, như phân tích trong [hướng dẫn viết dissertation introduction](/blog/how-to-write-dissertation-introduction), và nếu bạn muốn nhìn toàn cảnh hành trình luận văn theo từng chương, hãy đọc [cẩm nang viết dissertation của MAAS](/vi/resources/how-to-write-a-dissertation).
4 BƯỚC VIẾT KHUNG LÝ THUYẾT
Trả lời trực tiếp: 4 bước gồm định nghĩa khái niệm cốt lõi từ nguồn học thuật, khảo sát những lý thuyết ngành bạn đang dùng, biện minh lựa chọn của mình trước các lý thuyết cạnh tranh, và kiểm lại xem lý thuyết đã chọn còn khớp với câu hỏi nghiên cứu và phương pháp hay không.
Quy trình 4 bước dưới đây tổng hợp từ 4 nguồn hướng dẫn học thuật: hộp đồ nghề của Sheffield Hallam, quy trình 8 bước của National University, checklist của Concordia University Chicago và bài báo bình duyệt của Luft và cộng sự (2022). Mỗi bước đều ghi rõ nguồn để bạn tra lại khi cần.
BƯỚC 1: ĐỊNH NGHĨA KHÁI NIỆM CỐT LÕI TỪ NGUỒN HỌC THUẬT
Bắt đầu bằng việc liệt kê các khái niệm và biến mà câu hỏi nghiên cứu của bạn ngụ ý, tách rõ đâu là biến độc lập, đâu là biến phụ thuộc, theo checklist của Concordia University Chicago (Concordia University Chicago Library, n.d.), truy cập ngày 2/7/2026. Với mỗi khái niệm, hãy tìm ít nhất 2 đến 3 định nghĩa từ các tác giả khác nhau trong tài liệu học thuật, so sánh chúng, rồi nêu rõ bạn theo định nghĩa nào và vì sao, đúng như mô tả của thư viện University of Southern California, cập nhật ngày 24/6/2026, rằng một framework gồm các khái niệm cùng định nghĩa của chúng và tham chiếu tới tài liệu học thuật liên quan. Một khái niệm chỉ có một định nghĩa duy nhất, lấy từ một nguồn duy nhất, thường là dấu hiệu của việc đọc chưa đủ rộng. Riêng khái niệm satisfaction đã có ít nhất 2 định nghĩa cạnh tranh nhau: Oliver (1980) coi nó là khoảng cách giữa kỳ vọng và trải nghiệm thực tế, trong khi truyền thống SERVQUAL của Parasuraman và cộng sự (1988) coi nó là một phán đoán tổng hợp trên nhiều chiều đo cùng lúc. University of Southern California Libraries (2026) mô tả khung lý thuyết gồm các khái niệm cùng định nghĩa của chúng và phần dẫn tới tài liệu học thuật liên quan, nên hãy bắt đầu ngay từ chỗ câu hỏi nghiên cứu và phát biểu vấn đề của bạn đang đứng.
BƯỚC 2: KHẢO SÁT BỘ LÝ THUYẾT NGÀNH BẠN ĐÃ QUEN DÙNG
Mỗi ngành có một bộ lý thuyết quen thuộc mà các nghiên cứu trước đã dùng đi dùng lại, và Sheffield Hallam khuyên bạn khảo sát bộ đồ nghề chuẩn này trước khi quyết định. Cách làm cụ thể, theo National University, là tìm kiếm tài liệu theo đúng từ khóa của các biến trong câu hỏi nghiên cứu, xem những nghiên cứu tương tự đã dựa vào lý thuyết nào để giải thích mối quan hệ giữa các biến đó. Gọi tên các lý thuyết đó ra thì bước này rõ hơn nhiều. Một nghiên cứu về mức độ chấp nhận công nghệ gần như chắc chắn sẽ gặp Technology Acceptance Model của Davis (1989), công bố trên MIS Quarterly, và Theory of Planned Behaviour của Ajzen (1991), công bố trên Organizational Behavior and Human Decision Processes. Một nghiên cứu về chất lượng dịch vụ sẽ gặp SERVQUAL cùng 5 chiều đo của nó, do Parasuraman và cộng sự (1988) công bố trên Journal of Retailing. Một nghiên cứu về sự hài lòng sẽ gặp mô hình expectancy-disconfirmation của Oliver (1980), công bố trên Journal of Marketing Research. Còn một nghiên cứu định tính phân tích dữ liệu phỏng vấn sẽ gặp quy trình 6 bước phân tích chủ đề của Braun và Clarke (2006), công bố trên Qualitative Research in Psychology. 5 khung này đều đã được dùng hơn 3 thập kỷ, và điều đó quan trọng vì một lý do thực dụng hơn là uy tín. Một lý thuyết được dùng nhiều thì đi kèm cả một kho thang đo đã công bố, nên bạn thừa hưởng công cụ mà người khác đã kiểm định thay vì tự dựng từ đầu.
Mỗi ngành cũng có bộ mặc định riêng của mình. Ngành giáo dục quen dùng Bloom's taxonomy (Bloom, 1956) và khái niệm zone of proximal development của Vygotsky (1978), bản tiếng Anh đầu tiên do Harvard University Press ấn hành. Ngành chiến lược quen dùng resource-based view của Barney (1991), công bố trên Journal of Management, và mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Porter (1979), công bố trên Harvard Business Review. Ngành nghiên cứu tổ chức quen dùng cultural dimensions của Hofstede (1980) và mô hình 4 giai đoạn phát triển nhóm của Tuckman (1965), công bố trên Psychological Bulletin. Đây là những khung mặc định theo ngành, không phải luật bắt buộc, nhưng biết chúng giúp bạn nhận ra ngay khi lựa chọn của mình đang đi chệch khỏi lối mòn quen thuộc và cần thêm một đoạn giải thích vì sao.
Vì các biến này sinh ra từ câu hỏi nghiên cứu, bước này chỉ chạy trơn khi câu hỏi đã được mài sắc, và nếu chưa thì bạn nên quay lại hướng dẫn viết research questions và objectives trước.
BƯỚC 3: GIẢI THÍCH VÌ SAO CHỌN LÝ THUYẾT NÀY CHỨ KHÔNG PHƯƠNG ÁN KHÁC
Bước giải thích lựa chọn này là bước tách một framework tốt khỏi một framework trung bình. National University, truy cập ngày 2/7/2026, yêu cầu người viết chủ động tìm cả những lý thuyết mâu thuẫn với lựa chọn của mình, còn Sheffield Hallam, truy cập ngày 2/7/2026, nhấn mạnh việc nêu điểm mạnh, giới hạn của lý thuyết được chọn và mức độ nhất quán của nó với đề tài. Chọn một lý thuyết quen thuộc, đã được ngành dùng nhiều, quả thật là phương án an toàn và dễ tìm tài liệu. Tuy nhiên, nếu bạn chưa từng đặt nó cạnh một phương án đối lập thì marker khó có cơ sở để tin rằng lựa chọn ấy xuất phát từ cân nhắc thay vì thói quen, và phần lập luận vì thế mất đi sức nặng đáng lẽ phải có. Viết một đoạn ngắn cho từng phương án bị loại, nói rõ nó thiếu gì so với đề tài của bạn, là cách rẻ nhất để chứng minh lựa chọn có cơ sở, và trên thực tế 2 đến 3 đoạn so sánh như vậy thường là đủ.
BƯỚC 4: KIỂM TRA ĐỘ KHỚP VỚI MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Bước cuối trong quy trình 8 bước của National University, truy cập ngày 2/7/2026, là rà lại toàn tuyến: lý thuyết đã chọn có còn thẳng hàng với mục tiêu nghiên cứu, phát biểu vấn đề, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu và kế hoạch phân tích hay không. Concordia University Chicago, truy cập ngày 2/7/2026, bổ sung một việc hay bị bỏ qua: nêu rõ các giả định mà lý thuyết mang theo, vì mọi lý thuyết đều nhìn thế giới qua một số tiền đề nhất định và người đọc cần biết bạn ý thức được điều đó. Khi một mắt xích lệch, chẳng hạn lý thuyết thiên về định lượng trong khi dữ liệu của bạn là phỏng vấn sâu, thì nên điều chỉnh ngay ở bước này thay vì để giám khảo phát hiện hộ.
4 bước này cũng là chặng mà phần lớn học viên nhận ra mình đang làm một mình. Cố vấn học thuật ghép bạn với một chuyên gia cấp cao đúng chuyên ngành, người đọc từng bản nháp của khung lý thuyết và chất vấn phần lập luận, còn bạn vẫn là người chấp bút.
VÍ DỤ CỤ THỂ: BA ĐỊNH NGHĨA CUSTOMER SATISFACTION
Trả lời trực tiếp: một khung lý thuyết mạnh không tuyên bố một định nghĩa rồi đi tiếp. Nó đặt cạnh nhau vài định nghĩa cạnh tranh của cùng một khái niệm, cân nhắc từng cái, rồi nói rõ nghiên cứu này chọn định nghĩa nào và vì sao định nghĩa đó phục vụ câu hỏi nghiên cứu tốt hơn.
Một ví dụ mẫu quen thuộc nằm đúng trong địa hạt ngành business, nơi phần lớn du học sinh Việt tại RMIT hay Monash theo học: một nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng. Người viết đặt cạnh nhau 3 định nghĩa customer satisfaction từ các giáo trình marketing kinh điển, chẳng hạn của Thomassen (2003), của Kotler và cộng sự (2024), giáo trình tái bản lần thứ 17, và của Zeithaml và cộng sự (2024), giáo trình tái bản lần thứ 8, chỉ ra điểm mỗi định nghĩa nhấn mạnh, rồi lập luận vì sao định nghĩa của Thomassen khớp nhất với bối cảnh doanh nghiệp đang nghiên cứu và chọn nó làm định nghĩa làm việc. Từ đó, các lý thuyết liên quan về kỳ vọng và cảm nhận của khách hàng được đưa vào, thể hiện bằng một mô hình trực quan, và cuối cùng toàn bộ khung được nối ngược lại với mục tiêu nghiên cứu. Trình tự so sánh, chọn, lập mô hình rồi nối về mục tiêu này chính là phiên bản thu nhỏ của 4 bước ở trên, và bạn có thể lặp lại nó cho gần như mọi khái niệm trung tâm.
MARKER ĐỌC PHẦN NÀY NHƯ THẾ NÀO
Trả lời trực tiếp: điều tách một framework tốt khỏi một framework yếu, trong mắt người chấm, là lựa chọn lý thuyết có được bảo vệ hay chỉ được mô tả. Các trang kỹ năng học thuật của University of Portsmouth (University of Portsmouth, n.d.), truy cập ngày 2/7/2026, phân biệt 3 động từ mấu chốt trong đề bài Anh: analyse đòi tách vấn đề thành các phần và xem xét từng phần, critically evaluate đòi cân nhắc cả bằng chứng thuận và nghịch trước khi kết luận, justify đòi đưa ra lý do có bằng chứng cho quyết định của mình. Một minh họa từ thang điểm của Northumbria University cho thấy ranh giới hai band nằm ở đâu: band 60-69 được mô tả là giải thích tốt nhưng chưa bảo vệ trọn vẹn lựa chọn, trong khi band 70-79 đòi lựa chọn được bảo vệ rõ ràng kèm theo việc nêu giới hạn của chính nó. Khoảng cách 10 điểm giữa hai band đó, trên nhiều thang thạc sĩ Anh, chính là ranh giới giữa Merit và Distinction. Cùng một lô gích chấm chạy tiếp sang chương phương pháp, nơi mọi lựa chọn cũng phải trả lời được câu "tại sao", như phân tích trong hướng dẫn viết methodology.
NHỮNG LỖI THƯỜNG GẶP LÀM YẾU KHUNG LÝ THUYẾT
Trả lời trực tiếp: 5 lỗi chiếm phần lớn các khung lý thuyết bị đánh giá yếu, gồm dùng lẫn theoretical với conceptual framework, liệt kê lý thuyết mà không chọn lấy một, chọn lý thuyết mà phương pháp không kiểm được, tự định nghĩa khái niệm bằng lời mình thay vì dẫn từ nguồn, và không quay lại khung lý thuyết ở chương thảo luận.
5 lỗi dưới đây xuất hiện lặp đi lặp lại trong các bản nháp mà cố vấn MAAS đọc, và tất cả đều tránh được nếu phát hiện sớm:
- Dùng lẫn theoretical và conceptual framework như thể chúng đồng nghĩa, trong khi Grant và Osanloo (2014) đã chỉ rõ đây là hai tầng bản vẽ khác nhau của cùng ngôi nhà. Sự nhầm lẫn này thường hiện rõ ngay trong 2 trang đầu, trước khi người chấm kịp xét tới nội dung.
- Nộp một bản tóm lược tài liệu và coi đó là framework. Luft, Jeong, Idsardi và Gardner (2022) nhắc rằng framework phải diễn giải hiện tượng qua một lăng kính lý thuyết cụ thể, thay vì dừng ở việc kể lại ai đã nói gì.
- Nêu tên một lý thuyết rồi dùng luôn, bỏ qua toàn bộ câu chuyện vì sao chọn nó chứ không phương án khác. Theo descriptor của Northumbria, đây chính là kiểu bài đứng lại ở band 60-69. Một lựa chọn không có cơ sở thường bị chất vấn ngay trong buổi viva, vốn thường kéo dài 60 đến 90 phút.
- Chọn framework xong rồi bỏ quên nó, khiến các chương phân tích và kết luận không còn nối lại với mục tiêu và lăng kính đã đặt ra, trái với bước kiểm tra thẳng hàng mà National University, truy cập ngày 2/7/2026, khuyến nghị.
- Dựa chủ yếu vào textbook thay vì bài báo journal. Handbook của Northumbria yêu cầu literature review rút từ nghiên cứu đăng trên tạp chí học thuật và đánh giá có phê phán, nên một danh mục tài liệu toàn giáo trình sẽ tự giới hạn band điểm.
CÂU HỎI THƯỜNG GẶP
Khung lý thuyết trong luận văn là gì?
Theoretical framework là nền tảng, hay lăng kính, mà nghiên cứu dựa vào để định nghĩa khái niệm và diễn giải kết quả, theo cách mô tả của National University. Nó nêu rõ những lý thuyết đã được thiết lập nào sẽ dẫn dắt cách bạn đọc dữ liệu. Trong một luận văn thạc sĩ, phần này thường chiếm khoảng 1.500 đến 2.000 từ, nằm bên trong chương 2.
Khung lý thuyết khác tổng quan tài liệu (literature review) ở điểm nào?
Literature review khảo sát rộng những gì ngành đã biết về đề tài, còn theoretical framework chọn lọc từ đó một lăng kính cụ thể và lập luận cho lựa chọn ấy. Theo Luft và cộng sự (2022), một chương chỉ dừng ở tóm lược tài liệu, dù đầy đủ đến đâu, vẫn chưa phải là một framework. Literature review có thể bao quát 40 đến 60 nguồn, trong khi khung lý thuyết chỉ giữ lại 2 hoặc 3 nguồn mà nghiên cứu thực sự dùng để tư duy.
Khung lý thuyết khác khung khái niệm (conceptual framework) thế nào?
Theoretical framework mượn một lý thuyết có tên từ tài liệu làm hệ quy chiếu. Conceptual framework do người nghiên cứu tự dựng từ các biến của đề tài, thường ở dạng sơ đồ. Grant và Osanloo (2014) cùng National University đều lưu ý hai thuật ngữ này hay bị dùng lẫn dù không đồng nghĩa.
Khung lý thuyết nên dài bao nhiêu?
Chưa có trường đại học hay nghiên cứu bình duyệt nào ấn định một độ dài chuẩn cho phần này, và vị trí cũng thay đổi theo trường: thường để trong chương literature review, chỉ tách chương riêng khi lý thuyết nhiều và phức tạp. Một minh họa từ handbook LD7201 của Northumbria: chương 2 chứa framework khoảng 3.500 từ trong luận văn 12.000 từ, nhưng đó là số của một chương trình cụ thể, bạn cần đối chiếu handbook của mình.
Chọn lý thuyết phù hợp cho khung lý thuyết bằng cách nào?
Theo quy trình 8 bước của National University, hãy tìm tài liệu theo từ khóa của các biến trong câu hỏi nghiên cứu, xem các nghiên cứu tương tự đã dùng lý thuyết nào, chủ động tìm cả lý thuyết mâu thuẫn, rồi kiểm tra độ thẳng hàng với mục tiêu và phương pháp. Sheffield Hallam bổ sung việc cân nhắc điểm mạnh và giới hạn của từng ứng viên trước khi chốt.
Khung lý thuyết nằm ở chương nào trong luận văn?
Thường nằm trong chương literature review, dù có trường như Lee University đặt phần này trong chương mở đầu, và chỉ tách riêng khi làm việc với nhiều lý thuyết phức tạp. Ở Northumbria, môn LD7201 đặt phần này trong chương 2 Background Research and Literature Review. Vị trí cụ thể ở chương trình của bạn do handbook và supervisor quyết định.
ĐỒNG HÀNH THEO TỪNG CHƯƠNG LUẬN VĂN CỦA BẠN
Hành trình 12.000 từ hiếm khi khó đều nhau: có người vướng ở câu hỏi nghiên cứu, có người vướng đúng ở chỗ chọn và bảo vệ framework, có người chỉ cần một người đọc đủ sâu cho chương phân tích. Khi làm việc cùng cố vấn học thuật của MAAS, bạn nhận được phản hồi có cấu trúc trên chính bản thảo và tư duy của mình ở từng chặng, từ định hình đề tài, dựng framework, thiết kế phương pháp cho đến kết luận, thay vì một khuôn mẫu chung cho mọi luận văn. Cố vấn giữ vai trò người đặt câu hỏi và soi giới hạn trong lập luận. Phần viết và các quyết định học thuật cuối cùng vẫn thuộc về bạn. Tìm hiểu cách MAAS đồng hành tại dịch vụ Academic Mentoring.
NGUỒN THAM KHẢO
- Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179–211. https://doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-T
- Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of Management, 17(1), 99–120. https://doi.org/10.1177/014920639101700108
- Bloom, B. S. (1956). Taxonomy of educational objectives: The classification of educational goals, handbook I: Cognitive domain. David McKay.
- Braun, V., & Clarke, V. (2006). Using thematic analysis in psychology. Qualitative Research in Psychology, 3(2), 77–101. https://doi.org/10.1191/1478088706qp063oa
- Davis, F. D. (1989). Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of information technology. MIS Quarterly, 13(3), 319–340. https://doi.org/10.2307/249008
- Oliver, R. L. (1980). A cognitive model of the antecedents and consequences of satisfaction decisions. Journal of Marketing Research, 17(4), 460–469. https://doi.org/10.1177/002224378001700405
- Parasuraman, A., Zeithaml, V. A., & Berry, L. L. (1988). SERVQUAL: A multiple-item scale for measuring consumer perceptions of service quality. Journal of Retailing, 64(1), 12–40.
- Concordia University Chicago Library. (n.d.). Theoretical frameworks. Retrieved July 2, 2026, from https://libguides.cuchicago.edu/research_center/theoretical_frameworks
- Grant, C., & Osanloo, A. (2014). Understanding, selecting, and integrating a theoretical framework in dissertation research: Creating the blueprint for your "house". Administrative Issues Journal, 4(2), 12–26. https://files.eric.ed.gov/fulltext/EJ1058505.pdf
- Hofstede, G. (1980). Culture's consequences: International differences in work-related values. Sage Publications.
- Kotler, P., Keller, K. L., & Chernev, A. (2024). Marketing management (17th ed.). Pearson.
- Lee University Library. (n.d.). Theoretical framework: Developing your research study. Retrieved July 2, 2026, from https://leeuniversity.libguides.com/research_study_guide/theoretical_framework
- Luft, J. A., Jeong, S., Idsardi, R., & Gardner, G. (2022). Literature reviews, theoretical frameworks, and conceptual frameworks: An introduction for new biology education researchers. CBE—Life Sciences Education, 21(3), Article rm33. https://doi.org/10.1187/cbe.21-05-0134
- National University Library. (n.d.-a). Theoretical framework. Retrieved July 2, 2026, from https://resources.nu.edu/researchtools/theoreticalframework
- National University Library. (n.d.-b). Theoretical vs conceptual framework. Retrieved July 2, 2026, from https://resources.nu.edu/c.php?g=1446805&p=10752288
- Northumbria University. (n.d.). LD7201 master's dissertation module handbook [Unpublished course document]. Newcastle upon Tyne, UK.
- Porter, M. E. (1979). How competitive forces shape strategy. Harvard Business Review, 57(2), 137–145.
- Sacred Heart University Library. (2026, March 9). Theoretical framework: Organizing academic research papers. Retrieved July 2, 2026, from https://library.sacredheart.edu/c.php?g=29803&p=185919
- Sheffield Hallam University Library. (n.d.). Doing a research project: The theoretical framework. Retrieved July 2, 2026, from https://libguides.shu.ac.uk/researchprojects/theoretical-framework
- Thomassen, J. P. R. (2003). Klanttevredenheid: De zin en onzin [Customer satisfaction: Sense and nonsense]. Vakmedianet Management.
- Tuckman, B. W. (1965). Developmental sequence in small groups. Psychological Bulletin, 63(6), 384–399. https://doi.org/10.1037/h0022100
- University of Portsmouth. (n.d.). Essays: Task words. Retrieved July 2, 2026, from https://www.port.ac.uk/student-life/help-and-advice/study-skills/written-assignments/essays-task-words
- University of Southern California Libraries. (2026, June 24). Theoretical framework: Organizing your social sciences research paper. Retrieved July 2, 2026, from https://libguides.usc.edu/writingguide/theoreticalframework
- Vygotsky, L. S. (1978). Mind in society: The development of higher psychological processes. Harvard University Press.
- Zeithaml, V. A., Bitner, M. J., Gremler, D. D., & Mende, M. (2024). Services marketing: Integrating customer focus across the firm (8th ed.). McGraw Hill.
