Skip to content
Quay lại BlogDissertation

Phương pháp nghiên cứu (methodology) là gì và viết chương thế nào?

33 phút đọc6,445 từ

Chương phương pháp nghiên cứu, trong tài liệu tiếng Anh gọi là methodology, thuật lại bạn đã làm gì và vì sao mỗi lựa chọn trả lời được câu hỏi nghiên cứu, đủ chi tiết để người khác có thể lặp lại nghiên cứu. Bạn viết chương này ở thì quá khứ, như một biên bản những quyết định đã thực hiện: thiết kế, người tham gia hoặc nguồn dữ liệu, cách thu thập, cách phân tích, đạo đức nghiên cứu và những giới hạn bạn chấp nhận.

Bài viết này dành cho du học sinh Việt đang làm dissertation tại UK và Úc. Mọi nhận định trong bài đều dẫn về hướng dẫn của thư viện đại học hoặc bài báo học thuật bình duyệt, và danh mục nguồn đầy đủ nằm ở cuối bài để bạn tra lại khi cần.

Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật lần cuối: 2026-07-20
Category: thesis-dissertation


PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LÀ GÌ: METHODS VÀ METHODOLOGY, CÁI BẪY KHI TIẾNG VIỆT CHỈ CÓ MỘT TỪ

Trả lời trực tiếp: phương pháp nghiên cứu trong tiếng Anh tách làm hai tầng, đúng cách Creswell và Creswell (2023) trình bày trong sách giáo trình thiết kế nghiên cứu của họ. Methods là các kỹ thuật và bước cụ thể bạn đã thực hiện. Methodology là tầng lập luận giải thích vì sao chọn những kỹ thuật đó. Chương ba của luận văn phải có cả hai, nhưng tầng lập luận mới là thứ người chấm tìm.

Tiếng Việt chỉ có một cụm từ "phương pháp nghiên cứu" cho cả methods lẫn methodology. Vì vậy không ít bạn viết chương ba như một danh sách thao tác: phát bao nhiêu bảng hỏi, phỏng vấn bao nhiêu người, chạy phần mềm gì. Trong tiếng Anh học thuật, hai từ này lại chỉ hai tầng khác nhau: methods là các kỹ thuật bạn dùng và những bước cụ thể bạn đã thực hiện, trong khi methodology bao trùm cả nền tảng triết học định hình toàn bộ quá trình nghiên cứu (University of Southampton Library, n.d.). Dawson (2009, as cited in University of Sunderland Library, n.d.) gọi methodology là triết lý hay nguyên tắc chung dẫn dắt cách nghiên cứu được tiến hành, và chính tầng lập luận này mới là thứ hay bị bỏ rơi khi hai khái niệm gộp vào một cụm từ tiếng Việt.

Vì vậy, một chương methodology hoàn chỉnh vừa trình bày các phương pháp đã dùng, vừa thuật lại những quyết định bạn đã đưa ra và những thách thức bạn đã gặp trên đường đi (University of Southampton Library, n.d.). Nếu bạn muốn đặt chương này vào toàn cảnh luận văn theo từng chương, cẩm nang viết dissertation của MAAS là điểm bắt đầu phù hợp.


NGƯỜI CHẤM Ở UK VÀ ÚC ĐỌC CHƯƠNG NÀY NHƯ THẾ NÀO

Trả lời trực tiếp: Người chấm tìm trước tiên mối liên hệ giữa mỗi lựa chọn phương pháp và câu hỏi nghiên cứu, cùng ảnh hưởng của lựa chọn đó lên độ tin cậy của kết quả. Khung lý thuyết bạn đã chọn quyết định cả cách chọn phương pháp lẫn cách diễn giải dữ liệu, nên lập luận đã xây ở chương lý thuyết phải còn nhìn thấy được ở đây. Handbook của chương trình luôn đứng trên mọi khuôn mẫu chung.

Điều người chấm tìm trước tiên là mối liên hệ giữa mỗi lựa chọn và câu hỏi nghiên cứu (University of Southampton Library, n.d.), đúng tiêu chí đầu tiên trong bốn bước lập luận mà Ravitch và Riggan (2017) mô tả. Kỹ thuật tinh vi đến đâu không quan trọng bằng việc bạn có ý thức được lựa chọn đó ảnh hưởng thế nào đến độ tin cậy và giá trị của kết quả. Monash University (n.d.) lưu ý thêm rằng khung lý thuyết bạn chọn ảnh hưởng trực tiếp đến cả cách chọn phương pháp lẫn cách diễn giải dữ liệu, đúng mối nối mà Ravitch và Riggan (2017) mô tả giữa khung khái niệm và thiết kế nghiên cứu, nên chương ba phải nối lại được với nền móng bạn đã đặt ở chương lý thuyết. Nếu phần nền đó còn lỏng, bạn nên đọc lại hướng dẫn viết theoretical framework trước khi viết tiếp.

Cũng theo Monash University (n.d.), mức độ chi tiết và trọng tâm của chương này khác nhau đáng kể giữa các ngành: một luận văn kỹ thuật, một nghiên cứu định tính trong giáo dục theo khung của Braun và Clarke (2006) và một đề tài tài chính chạy hồi quy OLS sẽ nhấn vào những phần rất khác nhau. Vì vậy, mọi khuôn mẫu chung, kể cả bài viết này, đều phải nhường chỗ cho handbook của chính chương trình bạn đang học khi hai bên nói khác nhau (University of Sunderland Library, n.d.).


KHUNG CHƯƠNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: MỞ, THÂN, KẾT VÀ CÁC LỚP LỰA CHỌN

Trả lời trực tiếp: Chương này cũng có phần mở, phần thân và phần kết như mọi chương khác. Phần mở nhắc lại vấn đề nghiên cứu và các câu hỏi nghiên cứu. Phần thân chia theo tiểu mục quen thuộc: thiết kế, người tham gia, công cụ, quy trình và đạo đức nghiên cứu, theo mô hình research onion xếp lựa chọn thành từng lớp, dù không phải lớp nào cũng áp dụng cho mọi đề tài.

Về hình thức, chương methodology cũng có phần mở, phần thân và phần kết như mọi chương khác trong luận văn (University of Sunderland Library, n.d.), một cấu trúc Creswell và Creswell (2023) cũng khuyến nghị cho chương thiết kế nghiên cứu. Phần mở nên nhắc lại vấn đề nghiên cứu và các câu hỏi nghiên cứu, để người đọc có điểm quy chiếu trước khi bước vào chuỗi quyết định phương pháp (University of Southampton Library, n.d.), đúng vị trí mà Ravitch và Riggan (2017) đặt khung khái niệm trong trình tự lập luận. Nếu câu hỏi nghiên cứu của bạn còn chưa sắc, hãy quay lại hướng dẫn viết research questions và objectives trước, vì mọi lập luận trong chương ba đều quy chiếu về nó.

Với phần thân, O'Siochru (2022, as cited in University of Sunderland Library, n.d.) gợi ý các tiểu mục quen thuộc: thiết kế nghiên cứu, người tham gia, công cụ và tài liệu, quy trình, và đạo đức nghiên cứu. Một cách hình dung khác là mô hình research onion của Saunders và cộng sự (2015), trong đó các lựa chọn xếp thành từng lớp từ ngoài vào trong, từ triết lý nghiên cứu ở lớp ngoài cùng đến kỹ thuật thu thập dữ liệu ở lõi. Tuy nhiên không phải lớp nào cũng áp dụng cho mọi đề tài, nên bạn chỉ trình bày những lớp thực sự liên quan đến nghiên cứu của mình (University of Southampton Library, n.d.).


CHỌN THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU: ĐỊNH LƯỢNG, ĐỊNH TÍNH HAY HỖN HỢP

Trả lời trực tiếp: Ba hướng tiếp cận phổ biến là định lượng, định tính và hỗn hợp. Định lượng đo lường diện rộng nhưng không tự giải thích được vì sao. Định tính đi sâu vào trải nghiệm và ý nghĩa, đổi lại mẫu nhỏ nên phải thận trọng khi khái quát hóa. Thiết kế hỗn hợp kết hợp cả hai nhưng đòi nhiều thời gian và kỹ năng hơn.

Ba hướng tiếp cận phổ biến của một thiết kế nghiên cứu là định lượng, định tính và hỗn hợp (Creswell & Creswell, 2023), và mỗi hướng cần một lập luận biện minh riêng theo khung của Ravitch và Riggan (2017). Dữ liệu định lượng cho phép đo lường trên diện rộng và kiểm tra mối quan hệ giữa các biến, thường qua hồi quy OLS chạy trên SPSS, nhưng thường không tự giải thích được vì sao con số lại như vậy. Dữ liệu định tính đi sâu vào trải nghiệm và ý nghĩa, thường mã hoá theo khung sáu bước phân tích chủ đề của Braun và Clarke (2006), đổi lại mẫu nhỏ khiến việc khái quát hóa phải rất thận trọng. Thiết kế hỗn hợp kết hợp điểm mạnh của cả hai nhưng đòi nhiều thời gian và kỹ năng xử lý hơn (University of Westminster, n.d.-c). Câu hỏi đáng đặt ra khi chọn không phải là hướng nào mạnh hơn về lý thuyết, mà là hướng nào trả lời đúng câu hỏi bạn đã cam kết ở chương mở đầu.

CÁC CÁCH THU DỮ LIỆU VÀ ĐÁNH ĐỔI CỦA TỪNG CÁCH

Mỗi cách thu dữ liệu mang theo một đánh đổi mà bạn nên gọi tên ngay trong chương. Phỏng vấn có thể theo cấu trúc chặt, bán cấu trúc hoặc mở hoàn toàn, và càng mở thì dữ liệu càng giàu nhưng càng khó so sánh giữa những người trả lời (University of Westminster, n.d.-c), một đánh đổi cũng hiện diện rõ khi mã hoá theo khung của Braun và Clarke (2006). Thảo luận nhóm tập trung khai thác được sự tương tác giữa các thành viên, tuy nhiên chính hiệu ứng nhóm đó có thể khiến một vài ý kiến lấn át và làm người khác ngại nói thật (University of Westminster, n.d.-c), điều Creswell và Creswell (2023) cũng liệt vào hạn chế cố hữu của thiết kế định tính nhóm. Với thực nghiệm, cách diễn đạt chuẩn mực là kết quả ủng hộ hoặc không ủng hộ giả thuyết, thay vì chứng minh giả thuyết đúng, và giữ đúng sắc thái này trong bài viết cũng là một tín hiệu cho thấy bạn hiểu giới hạn của bằng chứng (University of Westminster, n.d.-c), điều Busse và August (2020) cũng xếp vào dấu hiệu của một phần methods đáng tin.

DỮ LIỆU SƠ CẤP, THỨ CẤP VÀ DISSERTATION DÙNG TÀI LIỆU CÓ SẴN

Dữ liệu sơ cấp là dữ liệu bạn tự thu thập cho chính nghiên cứu này, còn dữ liệu thứ cấp do người khác thu thập và bạn sử dụng lại cho câu hỏi của mình (University of Westminster, n.d.-c), một phân biệt Creswell và Creswell (2023) cũng dùng làm điểm khởi đầu khi chọn thiết kế. Nhiều bạn làm dissertation hoàn toàn trên tài liệu có sẵn, tra qua Google Scholar hoặc Web of Science, tưởng rằng như vậy thì không cần chương methodology, nhưng thực tế ngược lại: bạn vẫn phải giải thích cách mình tiếp cận giai đoạn nghiên cứu, bao gồm việc đã chọn những tài liệu nào, theo tiêu chí gì và phân tích chúng ra sao, dù phần này có thể không đứng thành một chương riêng (University of Southampton Library, n.d.).


GIẢI THÍCH LÝ DO CHO TỪNG LỰA CHỌN

Trả lời trực tiếp: Một chương thuyết phục đi qua bốn bước cho mỗi lựa chọn: nêu vì sao phương pháp phù hợp với câu hỏi nghiên cứu, cân lợi ích với các giới hạn và cách bạn đã giảm thiểu chúng, ghi nhận các phương án đã cân nhắc rồi loại, và dẫn nguồn học thuật ủng hộ lựa chọn cuối cùng. Điểm yếu phổ biến nhất trong văn viết phương pháp là phần giải thích lý do này vắng mặt.

Một chương methodology thuyết phục đi qua bốn bước lập luận cho mỗi lựa chọn (University of Westminster, n.d.-b), gần với logic biện minh mà Creswell và Creswell (2023) cũng đề xuất, đúng tinh thần khung khái niệm mà Ravitch và Riggan (2017) mô tả, nối câu hỏi nghiên cứu với lý do chọn từng phương pháp thay vì liệt kê phương pháp một cách rời rạc. Nêu vì sao phương pháp phù hợp với câu hỏi nghiên cứu, cân lợi ích của nó với các giới hạn và cách bạn đã giảm thiểu những giới hạn đó, ghi nhận các phương án bạn đã cân nhắc rồi loại, và dẫn nguồn học thuật ủng hộ lựa chọn cuối cùng. Bốn bước này nghe có vẻ hiển nhiên, nhưng nghiên cứu về cách viết bài báo khoa học cho thấy dấu hiệu của một phần methods tốt chính là phần giải thích lý do, và điểm yếu phổ biến nhất trong văn viết phương pháp là lý do đó vắng mặt hoàn toàn (Busse & August, 2020). Nói cách khác, người đọc không chỉ cần biết bạn đã làm gì, mà cần biết vì sao bạn làm như vậy thay vì một cách khác.


VIẾT ĐỂ NGƯỜI KHÁC LẶP LẠI ĐƯỢC: PHÉP THỬ ĐỘ CHI TIẾT

Trả lời trực tiếp: Nếu chỉ giữ một tiêu chuẩn, hãy giữ phép thử tái lập: viết như biên bản quyết định đủ chi tiết để một người lạ có thể lặp lại hoặc điều chỉnh nghiên cứu của bạn. Mô tả cách thu thập dữ liệu, từ tuyển chọn đến tổ chức thực hiện, và đưa tài liệu bổ trợ như bảng hỏi vào phụ lục thay vì chèn vào chương.

Nếu chỉ giữ một tiêu chuẩn duy nhất cho chương ba, hãy giữ phép thử tái lập. Viết như một biên bản quyết định đủ chi tiết để một người chưa từng gặp bạn có thể lặp lại hoặc điều chỉnh nghiên cứu và tin vào kết quả. Đây không phải là cách nói hình ảnh: hướng dẫn của thư viện Southampton yêu cầu mô tả cách thu thập dữ liệu, từ khâu tuyển chọn người tham gia đến các bước tổ chức thực hiện, ở mức người khác lặp lại được, và những tài liệu bổ trợ như bảng hỏi hay hướng dẫn phỏng vấn thì đưa vào phụ lục thay vì chèn hết vào chương (University of Southampton Library, n.d.). Hướng dẫn của Westminster liệt kê cụ thể những gì cần ghi lại về quy trình để việc lặp lại khả thi (University of Westminster, n.d.-c), còn Busse and August (2020) nhắc rằng một phần methods đầy đủ phải nêu được bối cảnh, thiết kế, cách tuyển chọn, các biến số, cách phân tích và phê duyệt đạo đức, đồng thời phủ mọi mục tiêu mà bài nghiên cứu báo cáo. Chuẩn mực này không phải do MAAS tự đặt ra: các bộ chuẩn báo cáo chính thức như APA Style JARS tồn tại chính là để bảo đảm nghiên cứu được thuật lại đủ minh bạch cho người khác kiểm tra (American Psychological Association, n.d.). Một số ngành khoa học sức khoẻ và giáo dục còn có bộ chuẩn báo cáo riêng cho từng loại thiết kế, như PRISMA cho tổng quan hệ thống hoặc COREQ cho nghiên cứu định tính dùng phỏng vấn, và dùng đúng bộ chuẩn của thiết kế mình, nếu ngành có, là một tín hiệu thêm cho thấy bạn nắm được chuẩn mực báo cáo của lĩnh vực.

Bảng dưới đây là phép thử độ chi tiết bạn có thể tự chạy trước khi nộp: đọc từng tiểu mục và hỏi một người lạ có dựng lại được phần đó chỉ từ những gì bạn viết hay không.

Tiểu mục trong chương Người lạ phải dựng lại được điều gì từ phần bạn viết
Thiết kế nghiên cứu Hướng tiếp cận định lượng, định tính hay hỗn hợp, và lô gích nối nó với câu hỏi nghiên cứu
Người tham gia hoặc nguồn dữ liệu Ai hoặc nguồn nào, số lượng bao nhiêu, được tuyển chọn hay lựa chọn theo tiêu chí gì
Công cụ và tài liệu Bảng hỏi, hướng dẫn phỏng vấn, thang đo hay bộ dữ liệu nào đã dùng, kèm bản đầy đủ trong phụ lục
Quy trình thu thập Trình tự các bước, thời gian, bối cảnh và cách bạn xử lý những tình huống phát sinh
Phân tích Kỹ thuật phân tích, phần mềm và các bước đưa dữ liệu từ dạng thô đến kết quả
Đạo đức nghiên cứu Nghiên cứu được phê duyệt thế nào, người tham gia đồng ý ra sao, dữ liệu được lưu ở đâu

Về độ dài, mỗi chương trình phân bổ số từ khác nhau cho chương này, nên thay vì tin một tỷ lệ chung nào đó, bạn đối chiếu trực tiếp phần phân bổ số từ trong handbook của môn mình.


CÔNG CỤ VÀ PHẦN MỀM THƯỜNG GẶP TRONG CHƯƠNG PHƯƠNG PHÁP

Trả lời trực tiếp: Chọn công cụ đúng cũng là một phần của lập luận phương pháp, không phải chi tiết kỹ thuật tách rời. Với khảo sát định lượng, Qualtrics và Google Forms phát bảng hỏi trực tuyến, còn dữ liệu thường được phân tích trên SPSS hoặc R. Với phỏng vấn định tính, buổi nói chuyện được ghi âm qua Zoom hoặc Teams rồi gỡ băng trước khi mã hóa.

Chọn công cụ đúng cũng là một phần của lập luận phương pháp, không phải chi tiết kỹ thuật tách rời khỏi phần còn lại của chương. Với khảo sát định lượng, Qualtrics và Google Forms là hai công cụ phát bảng hỏi trực tuyến phổ biến, còn dữ liệu thu về thường được làm sạch và phân tích trên SPSS hoặc chạy hồi quy OLS trực tiếp trên R. Với phỏng vấn định tính, buổi nói chuyện thường được ghi âm qua Zoom hoặc Microsoft Teams rồi gỡ băng trước khi mã hoá theo khung của Braun và Clarke (2006). Dù chọn công cụ nào, bạn vẫn cần giải thích vì sao nó phù hợp với câu hỏi nghiên cứu, đúng bốn bước lập luận mà Ravitch và Riggan (2017) mô tả, chứ không chỉ liệt kê tên phần mềm đã dùng.


VALIDITY VÀ RELIABILITY NÓI BẰNG NGÔN NGỮ THƯỜNG

Trả lời trực tiếp: Hai thuật ngữ giữ nguyên tiếng Anh vì bài nộp bằng tiếng Anh. Validity hỏi công cụ và thiết kế của bạn có thực sự đo đúng cái bạn định đo hay không, còn internal validity và external validity nhìn vào độ chính xác bên trong và mức khái quát ra ngoài mẫu. Reliability nói về tính nhất quán, tức đo lại trong điều kiện tương tự sẽ cho kết quả tương tự.

Hai thuật ngữ này nên giữ nguyên tiếng Anh vì bài của bạn nộp bằng tiếng Anh, nhưng ý nghĩa của chúng có thể nói giản dị hơn nhiều. Validity hỏi liệu công cụ và thiết kế của bạn có thực sự đo đúng cái bạn định đo hay không. Trong đó, internal validity nhìn vào việc kết quả có phản ánh đúng mối quan hệ bạn nghiên cứu hay bị yếu tố khác chen vào, còn external validity hỏi kết quả đó khái quát được đến đâu ra ngoài mẫu của bạn (University of Southampton Library, n.d.). Reliability lại nói về tính nhất quán: nếu công cụ được thiết kế và triển khai ổn định, một lần đo khác trong điều kiện tương tự sẽ cho kết quả tương tự (University of Southampton Library, n.d.). Hướng dẫn của University of Southampton Library viết rõ: "Reliability refers to the consistency with which you designed and implemented your research instrument(s)" (University of Southampton Library, n.d.), nghĩa là độ tin cậy nói về tính nhất quán trong cách bạn thiết kế và triển khai công cụ nghiên cứu của mình. Creswell và Creswell (2023) xếp cả hai khái niệm này vào phần đánh giá chất lượng thiết kế, và lưu ý rằng validity với reliability được đặt tên khác đi ở nhánh định tính, nơi các thuật ngữ như credibility và trustworthiness thường thay thế. Khi thảo luận hai khái niệm này, bạn không cần tuyên bố nghiên cứu của mình hoàn hảo. Điều người chấm chờ là bạn chỉ ra được thiết kế của mình mạnh ở đâu, dễ tổn thương ở đâu và bạn đã làm gì với chỗ dễ tổn thương đó.


Trả lời trực tiếp: Dissertation ở UK hay Úc thường là lần đầu bạn gặp consent form và ethics approval. Đạo đức nghiên cứu là chuẩn mực hành vi định hướng cách bạn ứng xử với quyền của người tham gia nghiên cứu. Bốn câu hỏi kiểm tra là người tham gia có đồng ý sau khi được thông tin đầy đủ không, họ có quyền rút lui không, danh tính được giữ kín ra sao, và cách dữ liệu được lưu trữ.

Dissertation ở UK hay Úc thường là lần đầu bạn gặp consent form và ethics approval. Nếu ở bậc cử nhân tại Việt Nam bạn chưa từng phải nộp hồ sơ đạo đức nghiên cứu, phần này đáng được chuẩn bị sớm thay vì để đến khi sắp thu dữ liệu. Về khái niệm, đạo đức nghiên cứu là chuẩn mực hành vi định hướng cách bạn ứng xử với quyền của những người trở thành đối tượng của nghiên cứu hoặc chịu ảnh hưởng từ nó (Saunders et al. 2015, as cited in University of Westminster, n.d.-a). Nhiều quy trình phê duyệt đạo đức ở Anh tham chiếu khung nguyên tắc của Economic and Social Research Council (ESRC), dù mỗi trường tự đặt quy trình nộp và thời gian xét duyệt riêng, và một số ngành còn đối chiếu thêm hướng dẫn của UK Research Integrity Office (UKRIO).

Khi viết tiểu mục ethics, bốn câu hỏi kiểm tra của thư viện Southampton là một khung rà soát gọn: người tham gia có đồng ý sau khi được thông tin đầy đủ không, họ có được quyền rút lui không, danh tính và thông tin của họ được giữ kín ra sao, và dữ liệu được lưu trữ như thế nào (University of Southampton Library, n.d.). Ở Anh, cách lưu trữ và xử lý dữ liệu người tham gia còn phải khớp với General Data Protection Regulation (GDPR), nên phần ethics thường nêu rõ dữ liệu được mã hoá hoặc ẩn danh ra sao trước khi lưu. Một phần methods đầy đủ cũng nêu rõ nghiên cứu đã được phê duyệt đạo đức như thế nào (Busse & August, 2020), vì vậy bạn nên ghi lại quy trình xin phê duyệt của khoa mình ngay từ khi bắt đầu, khi mọi chi tiết còn tươi, thay vì tái dựng lại từ trí nhớ vào tuần cuối.


LIMITATIONS: NÓI RA GIỚI HẠN KHÔNG PHẢI LÀ TỰ HẠI MÌNH

Trả lời trực tiếp: Delimitation là ranh giới bạn chủ động đặt cho nghiên cứu, còn limitation là ràng buộc ngoài tầm kiểm soát ảnh hưởng đến khái quát hóa, validity hoặc reliability. Văn hóa chấm ở UK và Úc xem thảo luận giới hạn trung thực là dấu hiệu năng lực nghiên cứu, không phải lời thú nhận thất bại. Đừng bao giờ bỏ qua limitations, hãy trình bày chúng theo ràng buộc thực tế rồi khép lại xây dựng.

Trước hết cần tách hai khái niệm hay bị lẫn. Delimitation là ranh giới bạn chủ động đặt cho nghiên cứu, tức những gì nó bao gồm và loại trừ theo lựa chọn của bạn, còn limitation là ràng buộc nằm ngoài tầm kiểm soát và ảnh hưởng đến khả năng khái quát hóa, validity hoặc reliability của kết quả (University of Westminster, n.d.-b). Creswell và Creswell (2023) đặt cả hai khái niệm này vào cùng phần đánh giá thiết kế, ngay sau phần validity và reliability đã bàn ở trên.

Tâm lý muốn giấu điểm yếu của bài đi là điều dễ hiểu, nhất là khi bạn lớn lên trong môi trường học tập coi việc nhận sai sót là mất điểm. Tuy nhiên văn hóa chấm ở UK và Úc vận hành theo chiều ngược lại, khi việc thảo luận giới hạn một cách trung thực được xem là dấu hiệu của năng lực nghiên cứu chứ không phải lời thú nhận thất bại (University of Westminster, n.d.-b). Hướng dẫn của Southampton cũng dứt khoát ở điểm này: đừng bao giờ bỏ qua limitations, hãy trình bày chúng theo những ràng buộc thực tế như thời gian, phạm vi hoặc khả năng tiếp cận dữ liệu, rồi khép lại bằng một ghi nhận mang tính xây dựng về những gì nghiên cứu vẫn đạt được trong các ràng buộc đó (University of Southampton Library, n.d.). Người chấm gần như chắc chắn nhìn thấy các giới hạn ấy dù bạn có viết ra hay không, nên khác biệt duy nhất là ai gọi tên chúng trước và với thái độ nào.


THÌ QUÁ KHỨ, NGÔI VIẾT VÀ NHỮNG LỖI LÀM MẤT LÒNG TIN

Trả lời trực tiếp: Chương methodology viết ở thì quá khứ vì nghiên cứu đã được tiến hành và các quyết định đã được thực hiện. Người viết tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai dễ mắc lỗi giữ nguyên thì tương lai từ đề cương khi chuyển sang chương ba. Về ngôi viết, ngôi thứ ba được chấp nhận rộng rãi hơn dù một số ngành chấp nhận ngôi thứ nhất, nên chọn một ngôi và giữ nhất quán.

Chương methodology viết ở thì quá khứ (University of Southampton Library, n.d.). Busse và August (2020) nhấn mạnh cùng một điểm theo cách khác: một phần methods đáng tin phải đọc như biên bản của việc đã làm, không phải kế hoạch của việc sẽ làm. Nghiên cứu đã được tiến hành và các quyết định đã được thực hiện: bạn thuật lại chúng như những hành động hoàn tất. Với người viết tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai, đây là lỗi trượt rất dễ mắc khi bạn soạn đề cương ở thì tương lai rồi chuyển nó thành chương ba mà quên đổi thì, nên một vòng rà riêng chỉ để kiểm tra thì động từ là khoản đầu tư nhỏ mà đáng giá.

Về ngôi viết, ngôi thứ ba được chấp nhận rộng rãi hơn, nhưng một số ngành chấp nhận ngôi thứ nhất. Điều quan trọng là chọn một ngôi, giữ nhất quán trong cả chương, và đối chiếu hướng dẫn của supervisor cùng các bài báo đã đăng trong ngành mình trước khi quyết (University of Southampton Library, n.d.). Cuối cùng, một lỗi cấu trúc làm mất lòng tin nhanh hơn cả lỗi ngữ pháp là biến chương ba thành một bài điểm tài liệu về phương pháp của các nghiên cứu khác, trong khi nhiệm vụ của nó là thuật lại và lập luận cho nghiên cứu của chính bạn (University of Southampton Library, n.d.). Nếu bạn muốn xem phần điểm tài liệu đúng nghĩa nên làm gì và ở đâu, hướng dẫn viết literature review phân tích kỹ ranh giới đó.


KẾT CHƯƠNG NHƯ THẾ NÀO

Trả lời trực tiếp: Phần kết của chương ba làm bốn việc trong một dung lượng ngắn. Tóm lại các phương pháp đã dùng và độ khớp của chúng với mục tiêu nghiên cứu, lập luận ngắn gọn vì sao cách tiếp cận vẫn phù hợp dù có những giới hạn đã nêu, gợi ý những cải thiện khả thi cho nghiên cứu tương lai, và bắc cầu sang chương kết quả để người đọc bước tiếp không bị hụt.

Phần kết của chương ba làm bốn việc trong một dung lượng ngắn (University of Westminster, n.d.-b), khép lại đúng vòng lập luận mà Creswell và Creswell (2023) mô tả cho một thiết kế nghiên cứu mạch lạc. Tóm lại các phương pháp đã dùng và độ khớp của chúng với mục tiêu nghiên cứu, lập luận ngắn gọn vì sao cách tiếp cận vẫn phù hợp dù có những giới hạn đã nêu, gợi ý những cải thiện khả thi cho nghiên cứu tương lai, và bắc cầu sang chương kết quả để người đọc bước tiếp không bị hụt. Một phần kết như vậy cho người chấm tín hiệu rằng bạn nhìn được toàn cục thay vì chỉ đi hết từng tiểu mục theo quán tính.


CÂU HỎI THƯỜNG GẶP

Methods và methodology khác nhau thế nào khi tiếng Việt đều dịch là "phương pháp nghiên cứu"?
Methods là các kỹ thuật và những bước cụ thể bạn đã thực hiện trong nghiên cứu, còn methodology bao trùm cả nền tảng triết học định hình toàn bộ quá trình nghiên cứu (University of Southampton Library, n.d.). Dawson (2009, as cited in University of Sunderland Library, n.d.) gọi tầng thứ hai này là triết lý hay nguyên tắc chung dẫn dắt cách nghiên cứu được tiến hành. Khi viết chương ba, bạn cần cả hai tầng: vừa mô tả thao tác, vừa cho thấy lô gích đứng sau các thao tác đó.

Chương phương pháp nghiên cứu (methodology) viết ở thì quá khứ hay hiện tại?
Thì quá khứ, vì nghiên cứu đã được tiến hành và các quyết định phương pháp đã được thực hiện, nên chương này thuật lại chúng như những hành động đã hoàn tất (University of Southampton Library, n.d.). Busse và August (2020) mô tả cùng quy tắc này khi bàn về cách viết phần methods của một bài báo khoa học.

Có được xưng "I" trong chương phương pháp nghiên cứu không?
Tùy ngành của bạn: ngôi thứ ba được chấp nhận rộng rãi hơn, nhưng một số ngành định tính, kiểu phân tích chủ đề theo Braun và Clarke (2006), chấp nhận ngôi thứ nhất rộng rãi hơn các ngành định lượng. Bạn nên chọn một ngôi, giữ nhất quán trong cả chương, và đối chiếu hướng dẫn của supervisor cùng các bài báo đã đăng trong ngành mình (University of Southampton Library, n.d.).

Limitation và delimitation khác gì nhau?
Delimitation là ranh giới bạn chủ động đặt cho nghiên cứu, tức những gì nó bao gồm và loại trừ theo lựa chọn của bạn. Limitation là ràng buộc nằm ngoài tầm kiểm soát của bạn và ảnh hưởng đến khả năng khái quát hóa, validity hoặc reliability của kết quả (University of Westminster, n.d.-b).

Dissertation chỉ dùng dữ liệu thứ cấp có cần chương methodology không?
Có, dù phần này có thể không đứng thành một chương riêng: bạn vẫn cần giải thích cách mình tiếp cận giai đoạn nghiên cứu, bao gồm việc đã chọn và phân tích các tài liệu như thế nào và vì sao (University of Southampton Library, n.d.). Creswell và Creswell (2023) xếp loại này vào thiết kế dùng tài liệu có sẵn, vẫn đòi một lập luận phương pháp đầy đủ như mọi thiết kế khác.

Nêu giới hạn của nghiên cứu có làm mất điểm không?
Thường là ngược lại: thảo luận giới hạn một cách trung thực được xem là dấu hiệu của năng lực nghiên cứu, và hướng dẫn học thuật khuyên bạn đừng bao giờ bỏ qua limitations mà hãy trình bày chúng theo các ràng buộc thực tế rồi khép lại một cách xây dựng (University of Westminster, n.d.-b; University of Southampton Library, n.d.). Ravitch và Riggan (2017) xem đây là một phần của tính trung thực trong khung khái niệm, không phải một lời thú nhận thất bại.

Cần viết chi tiết đến mức nào là đủ?
Đủ để một nhà nghiên cứu khác có thể lặp lại hoặc điều chỉnh nghiên cứu của bạn, và phần methods phải phủ mọi mục tiêu mà dissertation báo cáo. Tài liệu bổ trợ như bảng hỏi hay hướng dẫn phỏng vấn đưa vào phụ lục, còn số từ cụ thể thì đối chiếu handbook của chương trình bạn học (University of Southampton Library, n.d.; Busse & August, 2020).


KHI BẠN MUỐN MỘT NGƯỜI ĐỌC SÂU CHƯƠNG BA TRƯỚC NGƯỜI CHẤM

Trả lời trực tiếp: Chương methodology là nơi mọi quyết định của bạn bị đọc kỹ nhất. Phần lớn điểm yếu nằm ở lập luận: phương pháp chưa nối chặt với câu hỏi, lý do lựa chọn còn vắng, hoặc chi tiết chưa đủ để người khác lặp lại. Cố vấn học thuật của MAAS đặt câu hỏi về độ khớp giữa phương pháp và câu hỏi nghiên cứu, và soi những chỗ biên bản quyết định còn hụt chi tiết.

Chương methodology là nơi mọi quyết định của bạn bị đọc kỹ nhất. Phần lớn điểm yếu của nó không nằm ở ngữ pháp mà nằm ở những mắt xích lập luận: phương pháp chưa nối chặt với câu hỏi, lý do lựa chọn còn vắng, hoặc chi tiết chưa đủ để người khác lặp lại. Khi làm việc cùng cố vấn học thuật của MAAS, bạn nhận được phản hồi có cấu trúc trên chính bản thảo và lập luận thiết kế của mình: cố vấn đặt câu hỏi về độ khớp giữa phương pháp và câu hỏi nghiên cứu, soi những chỗ biên bản quyết định còn hụt chi tiết, và đồng hành với bạn qua từng vòng sửa cho đến khi chương ba đứng vững trước phép thử tái lập. Tìm hiểu cách MAAS đồng hành tại dịch vụ Academic Mentoring.


Tài liệu tham khảo

American Psychological Association. (n.d.). APA Style journal article reporting standards (APA Style JARS). APA Style. Retrieved July 2, 2026, from https://apastyle.apa.org/jars

Braun, V., & Clarke, V. (2006). Using thematic analysis in psychology. Qualitative Research in Psychology, 3(2), 77–101. https://doi.org/10.1191/1478088706qp063oa

Busse, C., & August, E. (2020). How to write and publish a research paper for a peer-reviewed journal. Journal of Cancer Education, 36(5), 909–913. https://doi.org/10.1007/s13187-020-01751-z

Creswell, J. W., & Creswell, J. D. (2023). Research design: Qualitative, quantitative, and mixed methods approaches (6th ed.). SAGE Publications.

Monash University. (n.d.). Methods thesis chapter. Student Academic Success. Retrieved July 2, 2026, from https://www.monash.edu/student-academic-success/excel-at-writing/how-to-write/thesis-chapter/methods-thesis-chapter

Ravitch, S. M., & Riggan, M. (2017). Reason & rigor: How conceptual frameworks guide research (2nd ed.). SAGE Publications.

Saunders, M. N. K., Lewis, P., & Thornhill, A. (2015). Research methods for business students (7th ed.). Pearson Education Limited.

University of Southampton Library. (n.d.). Methodology. Writing the Dissertation, Guides for Success. Retrieved July 2, 2026, from https://library.soton.ac.uk/writing_the_dissertation/methodology

University of Sunderland Library. (n.d.). Writing your dissertation: Methods/methodology. Study Skills. Retrieved July 2, 2026, from https://libraryguides.sunderland.ac.uk/Dissertations/Method

University of Westminster. (n.d.-a). Ethics. Dissertations 4: Methodology. Retrieved July 2, 2026, from https://libguides.westminster.ac.uk/methodology-for-dissertations/ethics

University of Westminster. (n.d.-b). Methodology. Dissertations 4: Methodology. Retrieved July 2, 2026, from https://libguides.westminster.ac.uk/methodology-for-dissertations/methodology

University of Westminster. (n.d.-c). Methods. Dissertations 4: Methodology. Retrieved July 2, 2026, from https://libguides.westminster.ac.uk/methodology-for-dissertations/methods

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.