Chương kết luận của luận văn là chương cuối cùng, nơi bạn trả lời các câu hỏi nghiên cứu, nêu đóng góp của mình, và cho thấy nghiên cứu đã thay đổi được điều gì.
Với học viên cao học và nghiên cứu sinh người Việt viết bằng tiếng Anh, đây là chương người chấm đọc kỹ nhất trong thế đối chiếu với chương mở đầu, chỗ mà một luận văn hoặc chốt được lập luận của mình, hoặc lặng lẽ tự bán rẻ nó. Bài viết này trả lời bảy câu hỏi mà học viên thạc sĩ và nghiên cứu sinh người Việt hay hỏi cố vấn MAAS nhất khi họ đi tới chương sáu.
Tác giả: Ban Phương pháp Nghiên cứu và Công bố MAAS · Hiệu đính bởi mentor chuyên môn của MAAS
Cập nhật lần cuối: 2026-06-22
Chuyên mục: research-methods

Chương kết luận của luận văn thực chất để làm gì?
Trả lời trực tiếp: Chương kết luận chỉ có một nhiệm vụ, đó là nói cho người đọc biết nghiên cứu của bạn cho phép ngành biết thêm điều gì mà trước đó chưa biết. Nó trả lời các câu hỏi nghiên cứu bạn đã đặt, gọi tên đóng góp của bạn, thừa nhận giới hạn và chỉ đường đi tiếp. Đây là một lập luận về ý nghĩa, không phải bản tóm tắt lại từng chương.
Bằng chứng: Bunton (2005), viết trên Journal of English for Academic Purposes và phân tích 45 chương kết luận của luận án tiến sĩ thuộc nhiều ngành, nhận thấy một chương kết luận mạnh làm nhiều hơn hẳn việc tóm tắt. Nó quay lại mục đích của nghiên cứu, củng cố khoảng không nghiên cứu mà luận án đã dựng, rồi phóng ra ngoài về phía ứng dụng và các công việc tiếp theo. Phần tóm tắt chỉ là một mảnh nhỏ trong một chương mà chức năng thật sự là khẳng định giá trị của những gì đã làm.
Ví dụ: Một học viên cao học ngành giáo dục được MAAS đồng hành viết chương kết luận kể lại ba phát hiện của mình rồi dừng. Cố vấn hỏi đúng một câu, rằng bây giờ điều gì đã thành đúng mà trước đó chưa đúng, và cả chương được dựng lại quanh câu trả lời, đọc vào như một đóng góp chứ không phải một bản tóm lược.
Chương kết luận khác chương bàn luận ở chỗ nào?
Trả lời trực tiếp: Chương bàn luận diễn giải kết quả thật chi tiết và lập luận rằng chúng có nghĩa gì, còn chương kết luận đứng cao hơn toàn bộ luận văn và nói tất cả cộng lại thành cái gì. Bàn luận làm việc sát dữ liệu, kết luận làm việc ở tầm của ngành. Lặp lại chương bàn luận trong chương kết luận là lỗi cấu trúc phổ biến nhất.
Bằng chứng: Swales và Feak (2012), trong Academic Writing for Graduate Students, mô tả chương kết luận là chương "kéo ống kính ra xa", đi từ kết quả cụ thể trở lại ý nghĩa rộng, hình ảnh phản chiếu của cái phễu ở chương mở đầu. Trong khi chương bàn luận trả lời câu hỏi những kết quả này có nghĩa gì, chương kết luận trả lời câu hỏi vì sao luận văn này đáng kể và điều gì nên xảy ra tiếp theo.
Ví dụ: Một nghiên cứu sinh người Việt ngành quản trị nộp một chương kết luận mà trên thực tế là chương bàn luận thứ hai. Cố vấn MAAS dùng bảng dưới đây để tách hai chương ra, chương bàn luận giữ phần diễn giải, chương kết luận được cắt xuống còn đóng góp, giới hạn và khuyến nghị, và phần trùng lặp mà người chấm chắc chắn sẽ bắt đã biến mất.
| Đặc điểm | Chương bàn luận | Chương kết luận |
|---|---|---|
| Độ cao | Sát dữ liệu | Trên toàn bộ luận văn |
| Câu hỏi cốt lõi | Kết quả có nghĩa gì? | Luận văn đóng góp gì? |
| Diễn giải mới | Có, đây đúng là chỗ của nó | Không, chỉ tổng hợp lại |
| Tài liệu | So kết quả với nghiên cứu trước | Nhắc lại khoảng trống nay đã lấp |
| Hướng nhìn về phía trước | Ngắn | Trung tâm, gồm nghiên cứu tiếp theo và thực tiễn |
Chương kết luận của luận văn cần đi qua những bước nào?
Trả lời trực tiếp: Một chương kết luận đầy đủ đi qua một trình tự nhận ra được, gồm nhắc lại mục đích và câu hỏi, củng cố những gì nghiên cứu tìm ra và đóng góp, nêu giới hạn, đưa hàm ý thực tiễn hoặc khuyến nghị, rồi đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. Gọi tên từng bước khi viết nháp sẽ chặn bạn khỏi kết thúc luận văn bằng bản tóm tắt rồi quên phần đóng góp.

Bằng chứng: Bunton (2005) xác định những bước dưới đây là cấu trúc lặp lại của các chương kết luận luận án tiến sĩ, trong đó phần củng cố khoảng không nghiên cứu, gồm nhắc lại phát hiện, khẳng định đóng góp và so với tài liệu đã có, chính là trọng tâm của chương. Chen và Kuo (2012), viết trên The Asian ESP Journal và nghiên cứu luận văn thạc sĩ ngành ngôn ngữ học ứng dụng, xác nhận một khuôn mẫu tương tự ở bậc thạc sĩ, cho thấy cấu trúc này thu nhỏ được từ bậc tiến sĩ.
Ví dụ: Một khách hàng MAAS ngành tài chính có chương kết luận với phát hiện mạnh nhưng không nêu rõ đóng góp và cũng không có bước đề xuất nghiên cứu tiếp theo. Sau khi đi qua từng bước dưới đây, anh thêm hai mục ngắn, một mục gọi tên đóng góp lý thuyết, một mục đề xuất các nghiên cứu nối tiếp, và câu hỏi tiếp theo là gì của người chấm đã được trả lời trước khi kịp nêu ra.
| Bước (Bunton, 2005) | Bạn làm gì | Cụm từ dẫn |
|---|---|---|
| 1, Nhắc lại mục đích và câu hỏi | Nhắc người đọc luận văn đặt ra làm gì | "This study set out to…" |
| 2, Củng cố khoảng không nghiên cứu | Tổng hợp phát hiện chính và gọi tên đóng góp | "Taken together, these findings show…" |
| 3, Nêu giới hạn | Xác định nghiên cứu chứng minh được gì và không chứng minh được gì | "These results should be read in light of…" |
| 4, Hàm ý thực tiễn | Cho thấy phát hiện có nghĩa gì với thực hành hoặc chính sách | "For practitioners, this suggests…" |
| 5, Khuyến nghị nghiên cứu tiếp theo | Chỉ ra những câu hỏi kế tiếp mà công trình của bạn mở ra | "Future studies could examine…" |
Nêu đóng góp cho tri thức thế nào mà không nói quá?
Trả lời trực tiếp: Hãy nêu đóng góp tương xứng với bằng chứng bạn có. Gọi tên thứ thật sự mới, dù là thực nghiệm, lý thuyết hay thực tiễn, trong một hoặc hai câu rõ ràng, rồi khoanh vùng nó lại theo quần thể này, bối cảnh này, thiết kế này. Người chấm thưởng cho một tuyên bố chính xác và bảo vệ được nhiều hơn hẳn một tuyên bố rộng mà dữ liệu không đỡ nổi.
Bằng chứng: Bunton (2005) nhận thấy những chương kết luận thành công củng cố khoảng không nghiên cứu bằng cách nối phát hiện trở lại đúng khoảng trống đã gọi tên ở chương mở đầu, thay vì khẳng định suông về tầm quan trọng. Murray (2017), trong How to Write a Thesis, đóng khung đóng góp như một tuyên bố mà bạn phải bảo vệ được ở buổi vấn đáp, nghĩa là từng chữ phải sống sót trước câu hỏi làm sao bạn biết điều đó.
Ví dụ: Một nghiên cứu sinh người Việt ngành y tế công cộng viết rằng nghiên cứu của mình "thay đổi hoàn toàn hiểu biết" về một hành vi. Cố vấn MAAS đặt lại thành một đóng góp thực nghiệm cụ thể và có ranh giới, tức bằng chứng mới từ một quần thể ít được nghiên cứu, với các giới hạn nêu ngay trong cùng một hơi. Tuyên bố nhỏ hơn lại mạnh hơn, và nó đứng vững gọn gàng ở buổi vấn đáp.
Viết phần giới hạn và khuyến nghị thế nào để luận văn mạnh lên?
Trả lời trực tiếp: Hãy coi giới hạn là nền móng thành thật cho các khuyến nghị của bạn, đừng coi nó là lời xin lỗi. Nêu thẳng từng giới hạn có thật, giải thích nó ảnh hưởng tới cái gì và không ảnh hưởng tới cái gì, rồi để nó mở thẳng sang một khuyến nghị hoặc một hướng nghiên cứu tiếp theo. Một giới hạn đặt khéo làm luận văn trông đáng tin hơn chứ không kém đi.
Bằng chứng: Murray (2017) lập luận rằng người chấm đọc phần giới hạn như một phép thử về óc phán đoán, bởi ứng viên gọi tên rõ ranh giới của mình là người thể hiện đúng năng lực tự nhận thức phê phán mà một tấm bằng tiến sĩ chứng nhận. Bunton (2005) cho thấy các bước khuyến nghị và đề xuất nghiên cứu tiếp theo là thành phần tiêu chuẩn và được chờ đợi, nên thiếu chúng thì chương đọc vào như một lập luận bỏ dở chứ không phải một lập luận khiêm tốn.
Ví dụ: Một nghiên cứu sinh là khách hàng của MAAS chôn giới hạn về chọn mẫu vào một câu mang giọng thanh minh. Cố vấn biến nó thành một cấu trúc đi cặp, giới hạn trước rồi tới nghiên cứu tương lai mà chính giới hạn đó biện minh. Thứ trông như điểm yếu đã thành bàn đạp cho phần khuyến nghị của bạn.
Chương kết luận nên dài bao nhiêu, và tuyệt đối không được làm gì?
Trả lời trực tiếp: Theo một mốc ước lượng thô, chương kết luận chiếm khoảng 5–8% luận văn, thường vài trang ở bậc thạc sĩ và dài hơn với luận án tiến sĩ, nhưng đi đủ các bước quan trọng hơn độ dài. Có đúng một luật cứng, đó là chương kết luận không bao giờ được đưa vào dữ liệu mới, kết quả mới, hay một lập luận mới mà phần thân chưa dựng.
Bằng chứng: Swales và Feak (2012) cùng Murray (2017) đều cảnh báo rằng chất liệu mới trong chương kết luận là dấu hiệu của một phần phân tích chưa hoàn tất ở đúng chỗ của nó, bởi mọi thứ ở đây đáng lẽ đã phải được kiếm về từ phần thân. Bunton (2005) nhận thấy ngay cả chương kết luận ngắn cũng chạy tốt khi đi đủ các bước cốt lõi, còn chương dài lại hỏng khi nó chỉ chạy lại chương bàn luận.
Ví dụ: Một khách hàng MAAS ngành giáo dục nhét một phát hiện phụ mới vào chương kết luận vì "nó không hợp chỗ nào khác". Cố vấn chuyển nó ngược về chương kết quả, nơi nó được chứng minh tử tế, và chương kết luận quay lại đúng nhiệm vụ của nó là tổng hợp chứ không phải phân tích mới.
Người Việt và người học tiếng Anh hay mắc lỗi kết luận nào nhất?
Trả lời trực tiếp: Kiểu lỗi thường gặp nhất trong luận văn viết bằng ngôn ngữ thứ hai là một chương kết luận tóm tắt rất kỹ nhưng nêu đóng góp rất yếu, người viết kể lại từng chương mà không bao giờ mài sắc đúng tuyên bố người chấm đang chờ. Hai vấn đề hay gặp khác là thiếu hẳn bước đề xuất nghiên cứu tiếp theo và một chương kết luận trôi ngược về chương bàn luận.
Bằng chứng: Nguyen và Pramoolsook (2016), viết trên Global Journal of Foreign Language Teaching và phân tích chương kết luận của các luận văn thạc sĩ TESOL do học viên cao học người Việt viết, nhận thấy bước suy luận và đóng góp có mặt ở mọi chương, còn các bước khác chỉ được hiện thực hoá ở mức quy ước. Nghiên cứu của họ nói thẳng rằng "these findings indicate not only a linear structure in composing the concluding chapters by this group of Vietnamese writers but also the rhetorical influence of Vietnamese written discourse on their English writing" (Nguyen & Pramoolsook, 2016, p. 2). Paltridge và Starfield (2019), trong Thesis and Dissertation Writing in a Second Language, nhận xét rộng hơn rằng người viết luận văn bằng ngôn ngữ thứ hai thường thuần thục các bước mô tả và tóm tắt nhưng lại xem nhẹ bước đánh giá, tức bước khẳng định ý nghĩa.
Ví dụ: Một học viên thạc sĩ người Việt viết chương kết luận tóm tắt cả 5 chương nhưng không bao giờ nói ngành nên rút ra điều gì từ công trình của mình. Cố vấn MAAS dùng bước đóng góp làm một bảng kiểm một câu, mở bằng cụm luận văn này cho thấy rằng, và tuyên bố vốn ẩn suốt 40 trang cuối cùng đã xuất hiện đúng chỗ người chấm tìm nó.
Câu hỏi thường gặp
Chương kết luận của luận văn nên dài bao nhiêu?
Một mốc phổ biến là 5–8% tổng số từ. Ở bậc thạc sĩ, con số đó thường gói gọn trong ít trang, còn luận án tiến sĩ cần nhiều hơn. Hãy coi đây là một khoảng ước lượng, và luôn theo hướng dẫn cụ thể của khoa và của người hướng dẫn thay vì bất kỳ con số chung nào.
Chương bàn luận và chương kết luận khác nhau thế nào?
Bàn luận là nơi bạn phân tích kỹ từng kết quả và tranh biện về ý nghĩa của chúng. Kết luận đứng ở tầm cao hơn hẳn, tổng kết xem cả luận văn đóng góp được gì, giới hạn tới đâu, và điều gì nên xảy ra tiếp theo. Hãy tránh chạy lại phần phân tích ấy một lần nữa ở chương cuối.
Tôi có được đưa phát hiện mới vào chương kết luận không?
Không. Chương kết luận tổng hợp lại chất liệu mà phần thân đã dựng xong. Dữ liệu, kết quả hay lập luận mới thuộc về chương trước đó, nơi chúng được chứng minh tử tế trước khi bạn dựa vào chúng.
Nêu đóng góp thế nào mà không nói quá?
Hãy gọi tên thứ thật sự mới trong một hoặc hai câu, rồi khoanh nó vào quần thể, bối cảnh và thiết kế của bạn. Một đóng góp chính xác và bảo vệ được, sống sót trước câu hỏi làm sao bạn biết điều đó, mạnh hơn một tuyên bố rộng mà dữ liệu không đỡ nổi.
Phần giới hạn nên đặt ở chương bàn luận hay chương kết luận?
Cả hai đều có thể là quy ước, tuỳ ngành và tuỳ khoa, nhưng chương kết luận là chỗ tự nhiên khi bạn ghép từng giới hạn với đúng khuyến nghị hoặc hướng nghiên cứu tiếp theo mà nó biện minh. Hãy theo cấu trúc mà người hướng dẫn của bạn ưa dùng.
MAAS có hỗ trợ tôi viết chương kết luận luận văn không?
Có. Cố vấn Học thuật của MAAS đồng hành cùng nhà nghiên cứu Việt ở chương kết luận, ánh xạ các bước của Bunton, mài sắc tuyên bố đóng góp, và căn chỉnh chương này khớp với chương mở đầu, theo mô hình chạy theo từng giai đoạn cùng các cố vấn cấp Tiến sĩ. Đặt lịch tư vấn qua trang liên hệ.
Nhìn nhanh thì chương kết luận luận văn dài bao nhiêu?
Chương kết luận chiếm chừng 5 tới 8% luận văn, con số rút từ nghiên cứu của Bunton (2005) trên 45 chương. Bậc thạc sĩ thường gói gọn trong ít trang, luận án tiến sĩ cần nhiều hơn, và đi đủ năm bước vẫn đáng giá hơn số trang.
Sẵn sàng viết một chương kết luận mà người chấm nhớ được?
Chương kết luận là thứ cuối cùng người chấm đọc và nó quyết định thứ họ mang theo vào buổi vấn đáp, dễ làm đúng hơn nhiều khi có một cố vấn từng hướng dẫn và từng chấm luận văn. Cố vấn Học thuật của MAAS ghép bạn với một cố vấn cấp Tiến sĩ, 23% chuyên gia của chúng tôi có học vị tiến sĩ, cho một buổi tư vấn miễn phí dài 20 phút, ghép bạn với đúng cố vấn trong vòng 48 giờ khi mạng lưới đã phủ chuyên ngành đó, hoặc khoảng 2 tuần nếu MAAS phải tuyển thêm cho hồ sơ của bạn, và cùng bạn đặt mục tiêu điểm ba bậc Pass, Merit hoặc Distinction ngay từ đầu kèm bảo hành sau nộp bài 45 ngày. Chúng tôi đồng hành, bạn vẫn là tác giả ở mọi bước.
Đặt lịch tư vấn cố vấn luận văn cùng MAAS →
Bài liên quan
- Viết câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu thế nào?, những câu hỏi mà chương kết luận phải khép lại
- Nghiên cứu sinh viết tổng quan tài liệu thế nào?, lĩnh vực mà đóng góp của bạn đang đối thoại cùng
- Viết đề cương nghiên cứu tiến sĩ thế nào?, nơi lập luận của luận án lần đầu thành hình
- Dịch vụ Cố vấn Học thuật, các bậc đồng hành cho luận văn và luận án
- Trung tâm tài nguyên Cố vấn Luận văn, hướng dẫn và mẫu theo từng chương
- Gặp gỡ mạng lưới chuyên gia MAAS, các cố vấn cấp Tiến sĩ từng hướng dẫn và chấm luận văn
Công cụ & tài nguyên
- Academic Phrasebank, The University of Manchester, các cụm từ dẫn dắt cho phần kết luận và khuyến nghị
- Conclusions, Australian National University, một tài nguyên lập kế hoạch cho chương kết luận luận văn
Tài liệu tham khảo
- Bunton, D. (2005). The structure of PhD conclusion chapters. Journal of English for Academic Purposes, 4(3), 207–224. https://doi.org/10.1016/j.jeap.2005.03.004
- Chen, T.-Y., & Kuo, C.-H. (2012). A genre-based analysis of the information structure of master's theses in applied linguistics. The Asian ESP Journal, 8(1), 24–52.
- Murray, R. (2017). How to write a thesis (4th ed.). Open University Press.
- Nguyen, T. T. L., & Pramoolsook, I. (2016). A move-based analysis of TESOL master's thesis conclusion chapters by Vietnamese postgraduates. Global Journal of Foreign Language Teaching, 6(1), 2–12.
- Paltridge, B., & Starfield, S. (2019). Thesis and dissertation writing in a second language: A handbook for students and their supervisors (2nd ed.). Routledge.
- Swales, J. M., & Feak, C. B. (2012). Academic writing for graduate students: Essential tasks and skills (3rd ed.). University of Michigan Press.
Bài viết này thuộc chuỗi MAAS Journal dành cho học viên cao học và nhà nghiên cứu người Việt đang học tập ở nước ngoài. Cố vấn Học thuật của MAAS là một đối tác đồng hành, chúng tôi hướng dẫn tác giả theo mô hình bàn giao từng giai đoạn với nhận xét phát triển từ các cố vấn cấp Tiến sĩ. Chúng tôi không viết hộ, không nộp hộ, và không bảo đảm bài được nhận đăng thay cho tác giả.
