Chuyên mục: writing-tips
Cập nhật lần cuối: 2026-09-04
Một bạn nộp bài thuật lại rất cẩn thận và chính xác về một bài báo nghiên cứu, rồi nhận về lời phê là quá thiên về mô tả. Không câu nào trong bài sai cả. Chuyện nằm ở chỗ phần lớn bài chỉ kể lại bài báo nói gì, còn thứ người chấm tìm là bạn nghĩ gì về nó và vì sao lại nghĩ vậy.
Trả lời thẳng: Một bài critical review tóm tắt thật ngắn và đánh giá thật dài. UNSW Sydney (n.d.) nêu rằng phần tóm tắt "should occupy about one-third of the review". Toàn bộ phần còn lại mang phán đoán của chính bạn về công trình đó, dựa trên tiêu chí và bằng chứng chứ không dựa trên cảm tính.
Chữ làm phần lớn sinh viên hiểu lệch. Phê bình không có nghĩa là chê. UNSW Sydney (n.d.) nói thẳng rằng "at university, being critical does not mean criticising negatively", và một bài thấy nghiên cứu thuyết phục thì vẫn phê bình đúng mức như một bài thấy nghiên cứu có lỗ hổng, miễn là nó nói được vì sao, theo tiêu chí rõ ràng.
Bài này nói về việc được tóm tắt bao nhiêu, nghiên cứu đã đo được sinh viên sai ở đâu, cấu trúc các trường công bố, những tiêu chí bạn đem ra đánh giá, chỗ điểm số thật sự nằm, và cách phản bác mà vẫn lịch sự.
Phần tóm tắt được chiếm bao nhiêu bài?
Trả lời thẳng: Không có một đáp án duy nhất, và chính điều đó mới là phát hiện chứ không phải chỗ thiếu của bài này. Hướng dẫn đã công bố trải từ một hai đoạn cho tới nửa bài, nên tỉ lệ ghi trong đề bài của bạn thắng mọi thứ bạn đọc trên mạng, kể cả bài viết này.
Ba nơi cho con số quanh một phần ba. UNSW Sydney (n.d.) đưa ra "about one-quarter to one-third of the entire review", Ontario Tech University (n.d.) ghi "the summary should only make up about a third of the critical review", còn Zabin (2003), viết cho Carleton College, dặn sinh viên "do NOT spend more than one-third or so of the paper summarizing the book".
Nhưng có nơi đứng xa hẳn con số đó. Purdue Online Writing Lab (n.d.) bảo người viết "determine what kind of balance to strike between your summary information and your evaluation" và nói thêm rằng "often the ratio is half and half", dù cũng chính trang ấy dặn giữ phần tóm tắt cho ngắn và hỏi giảng viên trước. Federation University Australia (2025) cũng đặt trọng số hai phần tóm tắt và phê bình ở mức xấp xỉ bằng nhau.
Ở đầu chặt nhất, một tạp chí chặn thẳng phần kể lại. Intergenerational Justice Review dặn người viết rằng "a review is not re-narration. The second part of a review should not make up more than 60% of the review", và đề xuất chia khoảng 10%, 60% và 30% cho bối cảnh, nội dung và đánh giá (Intergenerational Justice Review, 2025). Cũng bản hướng dẫn ấy gọi các con số đó là "merely indicators for orientation".
Có nơi bỏ hẳn phần trăm và đếm bằng đoạn. Trent University (n.d.) khuyên "keep the summary of the work short! A paragraph or two should be sufficient", còn UNSW Sydney (n.d.) đặt 1 đoạn mở bài cho review một bài báo và 2 hoặc 3 đoạn cho review một cuốn sách. Không nguồn nào sai cả, và bài học thực tế là tỉ lệ này thuộc về từng nơi.
Nghiên cứu đã đo được sinh viên sai ở đâu?
Trả lời thẳng: Sinh viên lấy ý kiến cá nhân thay cho đánh giá. Wingate (2012) phân tích 60 bài luận năm nhất kèm nhận xét của 5 giảng viên và thấy phần lớn người viết điểm thấp "had not developed a position, rather they had presented lists of facts from the literature, or stated their personal opinions". Đó đúng là lỗi mà một bài critical review sinh ra để phơi bày.
Cũng nghiên cứu ấy, đăng trên Journal of English for Academic Purposes, khảo sát xem sinh viên hiểu chữ phê bình ra sao, và ghi rằng "there seems to be little awareness of the need to evaluate and analyse sources: less than half of the respondents mentioned the need for evidence, and only eight the need for analysis" (Wingate, 2012). Giảng viên cũng thấy điều đó, với 14 lời phê trên các bài điểm thấp nói thẳng là bài thiếu tính phê bình.
Phần đính chính quan trọng ngang phần chẩn đoán. Woodward-Kron (2002), phân tích 20 bài luận đạt điểm cao của giáo sinh trên cùng tạp chí, thấy rằng "forms of descriptive writing such as naming, taxonomising, and reporting are intrinsic to students' attempts at critical analysis". Mô tả đặt sai chỗ mới là lỗi, còn bản thân việc mô tả thì không.
Đánh giá cũng là chuyện ngôn ngữ chứ không chỉ là chuyện tư duy. Aull và Lancaster (2014), trên Written Communication, đối chiếu "over 4,000 argumentative essays written by incoming first-year university students" với văn của người viết trình độ cao hơn và của học giả đã công bố. Lam và Crosthwaite (2018) xem 60 bài lấy mẫu, gồm 20 bài của người bản ngữ và 40 bài của người Hồng Kông viết bằng ngôn ngữ hai, và thấy nhóm bản ngữ dùng nhiều phương tiện tương tác với người đọc hơn hẳn. Nếu phần đánh giá của bạn đọc lên phẳng lì thì thứ còn thiếu thường là cách rào đón và cách quy nguồn, chứ không phải ý tưởng.
Bản thân thể loại này có thật và có tên. Gardner và Nesi (2013), trên Applied Linguistics, phân loại "all 2858 BAWE (British Academic Written English) corpus texts actually produced by undergraduate and taught postgraduate university students in England for assessment purposes", và nhóm bài phê bình nằm trong đó. Giảng viên của bạn không tự nghĩ ra một khuôn riêng.
Cấu trúc chuẩn của một bài critical review là gì?
Trả lời thẳng: Bốn phần, gồm mở bài, một đoạn tóm tắt ngắn, phần đánh giá, và kết luận. University College London (n.d.) đặt trọng lượng đúng chỗ, khi nêu rằng "evaluation is the most important part in a critical review". Phần đánh giá là thân bài chứ không phải một đoạn khép lại ở cuối.

University of Kent (n.d.) đưa ra cùng hình dạng ấy cho bài ngắn, mô tả "a simple structure for a short review of a book or journal article (c. 500-1000 words)" chạy từ mở bài qua tóm tắt, điểm mạnh, điểm yếu rồi kết luận. Vượt quá khoảng 1000 từ thì Kent khuyên đi theo từng phần của văn bản gốc thay vì tách khối.
Bạn giữ số luận điểm đem ra đánh giá cho ít. Australian National University (n.d.) dặn sinh viên "critically discuss 2-3 key issues raised in the text. This section is the core of your review", và một bài nêu 8 điểm vụn đọc lên thành danh sách, còn một bài triển khai 3 điểm mới đọc ra thành lập luận.
Kết luận lại là phần bạn có thể bỏ được. Federation University Australia (2025) ghi rằng "in a critical review of 800 words, a conclusion might not even be necessary", còn Ontario Tech University (n.d.) mô tả phần kết luận là "usually a very short paragraph". Trent University (n.d.) thì bảo bạn đưa phán quyết lên trước, gói trong "a clear 1-2 sentence thesis statement".
Bản thân độ dài cũng khác nhau theo nơi đăng. University of North Carolina Writing Center (n.d.) nhận xét rằng trên báo và tạp chí học thuật, bài review "rarely exceed 1000 words", Massey University (n.d.) đưa ra 100 tới 500 từ cho một book review thông thường và tới 1.500 từ cho bài học thuật, còn Purdue Online Writing Lab (n.d.) đặt mức điển hình ở 500 tới 750 từ.
Bạn đang đánh giá chính xác những gì?
Trả lời thẳng: Bốn thứ, gồm ý nghĩa của đóng góp, phương pháp, lập luận cùng bằng chứng của nó, và cách viết cùng cấu trúc. UNSW Sydney (n.d.) công bố đây là bộ tiêu chí của trường, kèm câu hỏi định hướng cho từng tiêu chí, và điều đó biến một mệnh lệnh mơ hồ thành một bộ câu hỏi trả lời được.
Ý nghĩa đóng góp hỏi tác giả định làm gì và làm tới đâu. Australian National University (n.d.) thêm một lời cảnh báo cứu sinh viên khỏi cái bẫy hay gặp, khi ghi rằng "it is seldom useful to criticise a writer for not doing something they never intended to do". Bạn đọc mục tiêu tác giả nêu ra trước khi phán về phạm vi.
Phương pháp hỏi cách làm có hợp với câu hỏi không, và kết quả có gánh nổi sức nặng người ta đặt lên nó không. Lập luận và bằng chứng thì hỏi bài có nêu một lập trường rõ ràng không, và bằng chứng có đỡ được kết luận hay chỉ đi kèm nó. University of North Carolina Writing Center (n.d.) gói cả nhiệm vụ trong 1 câu, rằng "the most important element of a review is that it is a commentary, not merely a summary".
Khâu đọc mới là nơi phần đánh giá thật sự được sinh ra. The University of Melbourne (n.d.) nhận xét rằng "asking critical questions helps you to read actively and avoid getting carried away by the details of a text because these questions often require synthesis and interpretation of the whole text". Australian National University (n.d.) công bố 11 câu hỏi như vậy, phủ mục tiêu, lý thuyết, khái niệm, lập luận, phương pháp, bằng chứng, giá trị, tài liệu, đóng góp, văn phong và kết luận.
The University of Sydney (2026) đưa ra phép thử gọn nhất để biết một bài đã bước sang lối viết phê bình chưa, khi nêu rằng "while persuasive writing requires you to have your own point of view on an issue or topic, critical writing requires you to consider at least two points of view, including your own".
Điểm số và thời gian thật sự nằm ở đâu?
Trả lời thẳng: Phần phân tích ăn nhiều điểm hơn phần tóm tắt, và phần lớn thời gian của bạn trôi đi trước khi bạn viết. Một phiếu chấm đã công bố chia bài critical review thành 5 hạng mục, mỗi hạng mục 20%, trong đó 2 hạng mục nói về phân tích và chỉ 1 hạng mục là tóm tắt, tức phân tích đáng giá gấp đôi việc kể lại.
Phiếu chấm ấy đến từ một môn ngành máy tính ở University of Toronto (n.d.), nơi các hạng mục Summary, Overall Quality of Analysis, Support of Analysis, Organization and Content và Mechanics mỗi hạng mục ăn 20%. Oxford Brookes University (n.d.) nói cùng nguyên tắc mà không kèm con số, khi ghi rằng "the evaluation and judgement parts normally count for more marks".
Ngân sách thời gian còn đáng ngạc nhiên hơn ngân sách điểm. Queen's University (n.d.) công bố một kế hoạch 12 bước kèm phần trăm cho từng bước, dành 20% cho khâu đọc kỹ, 15% cho khâu dựng bản phân tích và 7% cho khâu dựng tiêu chí đánh giá, so với 20% cho khâu viết bản nháp đầu. Cộng 3 bước chuẩn bị ấy lại thì có 42% tổng thời gian trôi qua trước khi bạn viết câu đầu tiên.
Hệ quả khi lập kế hoạch thì rất cụ thể. Nếu bài critical review đến hạn sau 10 ngày thì khoảng 4 ngày thuộc về khâu đọc và dựng tiêu chí, mà đó đúng là khâu sinh viên cắt bớt khi hạn nộp siết lại. Queen's University (n.d.) cũng ghi rằng "the number of criteria will depend on the length of your review", nên một bài dài 1 trang cần ít tiêu chí hơn chứ không phải cần tiêu chí nông hơn.
Phản bác thế nào cho khỏi mất lịch sự?
Trả lời thẳng: Bạn dùng động từ có mức độ, thừa nhận cái công trình làm được trước khi gọi tên giới hạn của nó, và diễn đạt vấn đề thành hướng cải thiện thay vì thành lời kết tội. University of Leeds Library (n.d.) gói bước đi nền tảng ấy thành lối viết "not only describe what happened, but also identify the significance of what happened".
Academic Phrasebank của The University of Manchester (n.d.) cung cấp sẵn khuôn cho dạng xây dựng, trong đó có "the study would have been more interesting if it had included …", tức gọi tên một khoảng trống mà không công kích tác giả. Cùng nguồn ấy đưa cả dạng nói thẳng như "the main weakness of the study is the failure to address how …" cho những ca vấn đề nằm ở trung tâm.
Thứ tự quan trọng ngang với từ ngữ. Australian National University (n.d.) dặn sinh viên "make clear the author's own argument before you criticise and evaluate it", vì một lời phê rơi xuống trước khi người đọc kịp hiểu lập trường của tác giả sẽ bị đọc thành đọc nhầm chứ không thành một phản bác.
Kiểu hỏng này có tài liệu ghi lại. University College London (n.d.) in ra một đoạn mẫu diễn giải nguồn rồi dừng ở đó, kèm lời phê rằng "this is not a good example of critical writing, as the writer has not made any critical comment". Thêm một nguồn mà không thêm một phán đoán thì đoạn văn vẫn nằm ở mức mô tả, và điều đó quay lại đúng thứ Wingate (2012) tìm thấy trên 60 bài luận.
Câu hỏi thường gặp
Có được dùng ngôi thứ nhất trong bài critical review không?
Thường là được, và nhiều ngành còn mong bạn dùng, vì bài review là phán đoán của chính bạn. Bạn kiểm hướng dẫn môn, và nếu ngôi thứ nhất bị hạn chế thì diễn đạt phần đánh giá qua bằng chứng, kiểu "cỡ mẫu giới hạn tuyên bố này" thay vì "tôi thấy mẫu hơi nhỏ".
Một bài critical review nên trích bao nhiêu nguồn?
Ít hơn một bài luận, vì văn bản được review mới là nguồn chính. Bạn vẫn trích những công trình dùng để đánh giá nó, chẳng hạn một tài liệu về phương pháp hay một nghiên cứu đối chứng. Bài trích dẫn trong bài tập đại học nói về chỗ đặt trích dẫn.
Critical review có phải là peer review không?
Không. Peer review là việc tư vấn cho ban biên tập xem có nên đăng hay không, và nó được giữ kín. Critical review là một bài viết của sinh viên, được chấm điểm, bàn về một công trình đã công bố. Tiêu chí đánh giá có phần trùng nhau, nhưng người đọc và mục đích thì khác hẳn.
Nếu tôi đồng ý với mọi thứ trong bài báo thì sao?
Thì bạn nói vậy và biện minh theo tiêu chí. Đồng ý có lý do là lối viết phê bình, còn đồng ý theo cảm tính thì không. Bạn gọi tên những gì nghiên cứu làm tốt, nêu các giới hạn mà chính tác giả đã thừa nhận, rồi nói điều gì sẽ làm tuyên bố ấy vững hơn nữa.
Tài nguyên liên quan
- Viết bài luận bậc đại học: cấu trúc chung mà bài này chuyên biệt hoá
- Giải nghĩa động từ đề bài: "đánh giá" và "thảo luận phê bình" thật sự đòi gì
- Làm bài tập đại học: đọc đề trước khi bắt tay
- Hướng dẫn tổng quan tài liệu: thể loại gần kề nhưng khác hẳn
- Dịch vụ Hỗ trợ học thuật: kèm qua các chặng Outline, Draft và Final cùng chuyên gia đúng ngành
Sẵn sàng bắt đầu? Đặt lịch tư vấn miễn phí 20 phút. Bạn mang theo bài báo đang review và khung chấm điểm, MAAS sẽ ghép bạn với chuyên gia đúng ngành trong vòng 48 giờ.
References
- Aull, L. L., & Lancaster, Z. (2014). Linguistic markers of stance in early and advanced academic writing: A corpus-based comparison. Written Communication, 31(2), 151-183. https://doi.org/10.1177/0741088314527055
- Australian National University. (n.d.). Writing a critical review. Retrieved September 4, 2026, from https://www.anu.edu.au/students/academic-skills/writing-assessment/other-assessments/writing-a-critical-review
- Federation University Australia. (2025). Critical reviews [Helpsheet]. https://www.federation.edu.au/siteassets/files/students/study-skills/critical_reviews_helpsheet-2025.pdf
- Gardner, S., & Nesi, H. (2013). A classification of genre families in university student writing. Applied Linguistics, 34(1), 25-52. https://doi.org/10.1093/applin/ams024
- Intergenerational Justice Review. (2025). Guidelines for book reviewers. https://intergenerationaljustice.org/wp-content/uploads/2025/04/Guidelines-for-Book-Reviewers_IGJR_Jan-2025.pdf
- Lam, S. L., & Crosthwaite, P. (2018). APPRAISAL resources in L1 and L2 argumentative essays: A contrastive learner corpus-informed study of evaluative stance. Journal of Corpora and Discourse Studies, 1(1), 8-35. https://doi.org/10.18573/jcads.1
- Massey University. (n.d.). Book review. Retrieved September 4, 2026, from https://www.massey.ac.nz/study/postgraduate-study/postgraduate-support-and-resources/types-of-assignments/book-review/
- Ontario Tech University. (n.d.). Writing a critical review. Student Learning Centre. Retrieved September 4, 2026, from https://shared.ontariotechu.ca/shared/department/student-learning-centre/handouts/critical-review-updated-20222.pdf
- Oxford Brookes University. (n.d.). Critical review. Retrieved September 4, 2026, from https://www.brookes.ac.uk/students/academic-development/online-resources/critical-review
- Purdue Online Writing Lab. (n.d.). Writing a book review. Purdue University. Retrieved September 4, 2026, from https://owl.purdue.edu/owl/general_writing/common_writing_assignments/book_reviews.html
- Queen's University. (n.d.). Critical review. Student Academic Success Services. Retrieved September 4, 2026, from https://sass.queensu.ca/assignments/critical-review
- The University of Manchester. (n.d.). Being critical. Academic Phrasebank. Retrieved September 4, 2026, from https://www.phrasebank.manchester.ac.uk/being-critical/
- The University of Melbourne. (n.d.). Reading critically. Retrieved September 4, 2026, from https://students.unimelb.edu.au/academic-skills/reading-writing-and-referencing/reading-and-note-taking/how-to-read-effectively-and-critically
- The University of Sydney. (2026, May 6). Types of academic writing. https://www.sydney.edu.au/students/study-skills/writing/types-of-academic-writing.html
- Trent University. (n.d.). How to write academic reviews. Academic Skills. Retrieved September 4, 2026, from https://www.trentu.ca/academicskills/how-guides/how-write-university/how-approach-any-assignment/how-write-academic-reviews
- University College London, Institute of Education. (n.d.). Academic writing: Writing critically. Retrieved September 4, 2026, from https://www.ucl.ac.uk/ioe/departments-and-centres/academic-writing-centre/resources-academic-reading-and-writing/academic-writing-writing-critically
- University of Kent. (n.d.). Critical book and article reviews. Retrieved September 4, 2026, from https://www.student.kent.ac.uk/studies/literature-reviews/critical-book-and-article-reviews
- University of Leeds Library. (n.d.). Critical writing. Retrieved September 4, 2026, from https://library.leeds.ac.uk/info/1401/academic_skills/105/critical_thinking/5
- University of North Carolina Writing Center. (n.d.). Book reviews. Retrieved September 4, 2026, from https://writingcenter.unc.edu/tips-and-tools/book-reviews/
- University of Toronto, Department of Computer Science. (n.d.). CSC290 critical review grading rubric [PDF]. Retrieved September 4, 2026, from https://www.cs.toronto.edu/~lczhang/290/files/cr_rubric.pdf
- UNSW Sydney. (n.d.). Critical review. Retrieved September 4, 2026, from https://www.unsw.edu.au/student/managing-your-studies/academic-skills-support/toolkit/writing/critical-review
- Wingate, U. (2012). 'Argument!' helping students understand what essay writing is about. Journal of English for Academic Purposes, 11(2), 145-154. https://doi.org/10.1016/j.jeap.2011.11.001
- Woodward-Kron, R. (2002). Critical analysis versus description? Examining the relationship in successful student writing. Journal of English for Academic Purposes, 1(2), 121-143. https://doi.org/10.1016/S1475-1585(02)00013-9
- Zabin, S. (2003). How to write a critical book review. Carleton College, Department of History. https://www.carleton.edu/history/resources/history-study-guides/criticalbookreview/
Bài viết này thuộc loạt bài MAAS Journal dành cho du học sinh Việt Nam. Chúng tôi hướng dẫn sinh viên thông qua bài mẫu, bản draft và hướng dẫn để sinh viên tự dựng phần đánh giá của mình.
