Skip to content
Quay lại BlogResearch Methods

Bài Scopus đầu tiên mất bao lâu, và khi nào bạn nên bắt đầu?

19 phút đọc3,756 từNEW

Một bài Scopus Q1 hoặc Q2 đầu tay thường mất khoảng chín tới mười tám tháng, tính từ lúc nghiên cứu đã xong cho tới khi bài được đưa vào chỉ mục, chứ không phải tính từ ngày bạn ngồi xuống viết.

Một bài Scopus Q1 hoặc Q2 đầu tay thường mất khoảng chín tới mười tám tháng, tính từ lúc nghiên cứu đã xong cho tới khi bài được đưa vào chỉ mục, chứ không phải tính từ ngày bạn ngồi xuống viết. Với một tác giả Việt Nam lần đầu công bố mà lại đang chạy theo ngày bảo vệ, mốc học bổng hoặc hồ sơ phong hàm, câu hỏi hữu ích hơn không phải là "mất bao lâu" mà là "đếm ngược từ hạn của tôi thì tôi phải bắt đầu từ khi nào". Hai câu hỏi đó cho hai đáp án rất khác nhau, và lẫn lộn chúng là sai lầm lập kế hoạch phổ biến nhất mà chúng tôi gặp.

Cẩm nang này trình bày khoảng thời gian thực tế của từng chặng, giải thích vì sao tác giả lần đầu luôn ước lượng thiếu, và chỉ cách dựng một lịch đếm ngược từ một hạn cố định để quãng chờ trở thành một thời gian biểu thay vì một nguồn lo lắng.

Tác giả: Ban biên tập MAAS · Rà soát bởi một cố vấn trưởng Cố vấn Công bố (Tiến sĩ, tác giả và phản biện Scopus Q1)
Last updated: 2026-08-13
Category: research-methods


Một bài Scopus Q1 hoặc Q2 đầu tiên thực tế mất bao lâu, tính trọn cả hành trình?

Trả lời trực tiếp: Với lần nộp quốc tế đầu tiên, hãy dự trù khoảng chín tới mười tám tháng kể từ khi nghiên cứu hoàn tất cho tới khi bài vào chỉ mục. Vòng phản biện chỉ là một chặng trong quãng đó, bởi việc chọn tạp chí, định dạng bản thảo, một hoặc nhiều vòng chỉnh sửa và khâu chế bản đều lấy thêm những tuần của riêng chúng, và chỉ một lần bị từ chối tại bàn đẩy bạn về vạch xuất phát cũng đã tốn cả tháng trước khi vòng phản biện kịp bắt đầu.

Bằng chứng: Björk và Solomon (2013) phân tích 2.700 bài trên 135 tạp chí thuộc chỉ mục Scopus và thấy độ trễ công bố chênh nhau rất mạnh theo ngành, trong đó nhóm kinh doanh và kinh tế trung bình khoảng mười tám tháng từ lúc nộp tới lúc đăng, tức gấp đôi mức trung bình chín tháng của ngành hoá học. Powell (2016) cho biết thời gian phản biện trung vị, tính từ nộp tới chấp nhận, đã dao động quanh mốc một trăm ngày suốt nhiều thập niên, còn thời gian chế bản đã giảm xuống trung vị khoảng hai mươi lăm ngày. Vì các chặng này chạy nối tiếp chứ không chạy song song, tổng thời gian cộng dồn lại, và đó là lý do con số thực tế cho cả hành trình cao hơn hẳn con số riêng của vòng phản biện.

Ví dụ: Một khách hàng Cố vấn Công bố của MAAS thuộc ngành khoa học xã hội đinh ninh bài của mình sẽ "ra" trong vòng sáu tháng, vì chị đọc được rằng phản biện mất ba tháng. Cố vấn ngồi vẽ lại cùng chị toàn bộ chuỗi chặng, gồm sáu tuần định dạng, bốn tháng chờ quyết định đầu tiên, một vòng chỉnh sửa lớn, rồi tới khâu chế bản, và đặt lại kỳ vọng thành mười hai tới mười bốn tháng. Bài được chấp nhận ở tháng thứ mười một, tức nằm gọn trong kế hoạch, chính vì kế hoạch đã trung thực ngay từ đầu.


Vì sao tác giả Việt Nam lần đầu công bố hay ước lượng thiếu?

Trả lời trực tiếp: Ước lượng thiếu gần như luôn đến từ việc chỉ đếm chặng nhìn thấy được, tức vòng phản biện, rồi bỏ qua các chặng bao quanh nó. Thời gian đi tìm tạp chí khác sau khi bị từ chối, thời gian chuẩn bị bản chỉnh sửa, và công sức thêm mà một bản thảo tiếng Anh đòi hỏi đều là những tháng có thật, và chúng rơi nhiều hơn vào tác giả lần đầu cùng tác giả dùng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai, những người chưa từng đi hết một vòng.

Bằng chứng: Taşkın và cộng sự (2022) thấy bài của tác giả đến từ các nước trung tâm, thu nhập cao đi tới công bố nhanh hơn bài tương đương từ nơi khác, và nhóm tác giả đông lại kéo dài quá trình chứ không rút ngắn, đây là những ma sát mang tính cấu trúc mà một tác giả Việt lần đầu không thể viết hay hơn để vượt qua. Huisman và Smits (2017) cho biết tác giả mất trung bình ba mươi chín ngày để chuẩn bị bản chỉnh sửa, con số này lên tới sáu mươi tư ngày ở ngành kinh tế và kinh doanh, và ngay cả một lần từ chối tại bàn cũng mất hơn hai tuần ở một phần ba số tạp chí và hơn bốn tuần ở một phần sáu. Pham-Duc và cộng sự (2020) ghi nhận sản lượng khoa học xã hội của Việt Nam tăng nhanh nhưng vẫn tập trung ở các tạp chí thứ hạng thấp hơn, điều này gợi ý rằng tác giả lần đầu nhắm vào Q1 hoặc Q2 thường đang bước vào một mức cạnh tranh còn lạ, nơi khả năng bị từ chối và phải nộp lại cao hơn.

Ví dụ: Một nghiên cứu sinh mang tới cho chúng tôi một lịch trình không dành một ngày nào cho khả năng bị từ chối, vì chị tin rằng bản thảo cẩn thận thì sẽ được nhận ngay ở tạp chí đầu tiên. Cố vấn diễn đạt lại điều đó một cách nhẹ nhàng, rằng một bài tốt không đồng nghĩa với một bài khớp tạp chí, và việc dựng sẵn một phương án chuyển sang tạp chí thứ hai, thay vì coi đó là thất bại, mới là thứ giữ an toàn cho một cái hạn có thật.


Một lịch trình thực tế theo từng tháng trông ra sao?

Trả lời trực tiếp: Nên nhìn hành trình như một chuỗi chặng có ngày tháng rõ ràng, thay vì một quãng chờ dài mờ mịt. Bảng dưới đây trình bày thời lượng thực tế cho một lần nộp Scopus Q1 hoặc Q2 đầu tiên, và các khoảng được để rộng có chủ ý, bởi ngành, tạp chí và độ sâu của vòng chỉnh sửa đều làm con số xê dịch.

Bằng chứng: Các chặng và thời lượng bên dưới rút từ mô tả quy trình của các nhà xuất bản cùng bộ dữ liệu trong Björk và Solomon (2013), Huisman và Smits (2017), và Andersen và cộng sự (2021), trong đó bài tổng quan hệ thống của nhóm sau cùng xác nhận rằng thời gian từ nộp tới đăng chênh lệch rất rộng ngay cả trong cùng một ngành.

Chặng Diễn ra điều gì Thời lượng thực tế
Kiểm tra mức sẵn sàng và đóng góp Xác nhận luận điểm đủ rõ và đủ vững trước khi nộp 2–4 tuần
Chọn tạp chí Dựng danh sách rút gọn ba tầng theo phạm vi và mức khớp trích dẫn 2–3 tuần
Định dạng bản thảo Chỉnh lại đúng hướng dẫn tác giả của tạp chí đã chọn 4–8 tuần
Quyết định đầu tiên Sơ loại tại bàn, tìm phản biện, phản biện, quyết định của tổng biên tập 2–5 tháng
Chỉnh sửa và phản biện lại Trả lời từng điểm, sửa bài, phản biện đọc lại 1–3 tháng
Chế bản và vào chỉ mục Bản bông, bản quyền, đăng bài, Scopus lập chỉ mục 1–3 tháng

Ví dụ: Một tác giả được MAAS đồng hành giữ bảng này ngay trên bàn làm việc và đánh dấu mỗi chặng khi đi qua. Khi bản thảo nằm ở chặng quyết định đầu tiên suốt bốn tháng, chị nhìn lại đúng dòng đó, thấy khoảng thực tế là hai tới năm tháng, rồi chờ tiếp một cách bình tĩnh thay vì viết thư giục tổng biên tập quá sớm. Chính thời gian biểu đã nói cho chị biết rằng sự im lặng đó là bình thường.


Làm sao để tính ngược từ một hạn cố định?

Trả lời trực tiếp: Hãy bắt đầu từ ngày mà bài buộc phải tồn tại, tức ngày bảo vệ, hạn nộp hồ sơ học bổng hoặc hồ sơ phong hàm, rồi trừ dần từng chặng theo chiều ngược. Cộng thêm một khoảng dự phòng ít nhất hai tới ba tháng cho vòng chỉnh sửa và khâu tìm phản biện, vì đây là hai chặng khó đoán nhất. Kết quả thu được là một "ngày bắt đầu muộn nhất còn an toàn", tức ngày mà nghiên cứu buộc phải xong và bản nộp đầu tiên phải sẵn sàng.

Bằng chứng: Quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu nghiên cứu sinh phải công bố trên tạp chí thuộc danh mục chỉ mục trước khi bảo vệ, theo Thông tư 08/2017/TT-BGDĐT, điều này biến ngày bảo vệ thành một ràng buộc cứng thật sự chứ không phải một mong muốn. Và vì Björk và Solomon (2013) đã chỉ ra rằng độ chênh giữa từng bài trong cùng một tạp chí còn lớn hơn độ chênh giữa các tạp chí hay giữa các ngành, nên không một con số trung bình nào đủ an toàn để lập kế hoạch. Thứ bảo vệ cái hạn của bạn là khoảng dự phòng, không phải con số trung bình.

Ví dụ: Một nghiên cứu sinh cần một công bố thuộc chỉ mục trước ngày bảo vệ mười bốn tháng. Tính ngược lại, cố vấn dành ba tháng cho chế bản, hai tháng cho chỉnh sửa, bốn tháng chờ quyết định đầu tiên, hai tháng định dạng, và hai tháng dự phòng, từ đó đặt ngày bắt đầu muộn nhất còn an toàn ở mốc mười một tháng trước hạn. Chị bắt tay ngay, chọn một tạp chí Q2 có tốc độ xử lý được ghi nhận rõ ràng, và thư chấp nhận về trước hạn nộp hồ sơ bốn tháng.


Nhắm Q1 thay vì Q2 có làm đổi lịch trình không?

Trả lời trực tiếp: Có, và khác biệt về thời gian thường lớn hơn khác biệt về uy tín. Một bản thảo nộp Q1 ở mức ranh giới mang khả năng bị từ chối tại bàn cao hơn cùng một vòng phản biện dài và khắt khe hơn, nên đánh cược vào đó có thể cộng thêm trọn một chu kỳ bị từ chối rồi nộp lại, tức vài tháng, vào lịch của bạn. Với tác giả lần đầu đang chạy một cái hạn có thật, một tạp chí Q2 khớp phạm vi thường là đường ngắn hơn để có một bài vào chỉ mục mà vẫn đáp ứng đúng yêu cầu.

Bằng chứng: Powell (2016) ghi nhận các tạp chí có chỉ số ảnh hưởng cao nhất lại có thời gian phản biện dài hơn nhóm tầm trung, và riêng việc đi tìm tạp chí khác đã cộng thêm từ vài ngày tới hơn tám tháng vào thời điểm công bố. Björk và Solomon (2013) thấy độ trễ rộng nhất tập trung ở nhóm tạp chí khoa học xã hội và kinh doanh cạnh tranh nhất, đúng nhóm mà nhiều tác giả lần đầu hay với tay tới.

Ví dụ: Hai khách hàng của MAAS nộp bài trong cùng một tháng. Người nhắm một tạp chí Q2 khớp phạm vi được chấp nhận sau một vòng chỉnh sửa ở tháng thứ chín, còn người nhất quyết với một tạp chí Q1 vượt tầm thì bị từ chối tại bàn, phải nộp lại nơi khác, và tới tháng thứ mười sáu mới được chấp nhận. Chất lượng công việc như nhau, bảy tháng chia cách họ, và khoảng cách đó nằm ở lựa chọn tạp chí chứ không nằm ở cách viết.


Bạn thật sự kiểm soát được phần nào của lịch trình?

Trả lời trực tiếp: Bạn không nén được đồng hồ của vòng phản biện, vì mức bận của người phản biện và nhịp làm việc của toà soạn nằm ngoài tay bạn. Thứ bạn kiểm soát được nằm ở hai đầu của chặng đó, gồm việc bạn tạo ra một bản nộp đầu tiên đã sẵn sàng cho phản biện và khớp tạp chí nhanh tới mức nào, và bạn quay vòng chỉnh sửa nhanh cùng đầy đủ tới đâu. Hai đòn bẩy này là chỗ một tác giả có kỷ luật tiết kiệm được nhiều tháng.

Bằng chứng: Andersen và cộng sự (2021) thấy độ tản của thời gian từ nộp tới đăng rộng tới mức chính tạp chí và mức phản hồi nhanh của tác giả, chứ không phải con số trung bình của ngành, mới là thứ quyết định kết quả. Huisman và Smits (2017) cho thấy thời gian chỉnh sửa vừa dài vừa biến động mạnh, nghĩa là một bản trả lời từng điểm vừa nhanh vừa kỹ là một trong số ít yếu tố tăng tốc thật sự mà tác giả nắm trong tay.

Ví dụ: Một khách hàng của MAAS nhận yêu cầu chỉnh sửa lớn với mười một góp ý, và thay vì chần chừ, chị gửi lại bản trả lời có cấu trúc trong ba tuần theo mô hình Đề cương, Bản nháp, Bản hoàn thiện cùng cố vấn. Bài được chấp nhận ngay vòng kế tiếp. Một tác giả ngồi ôm cùng một quyết định như vậy suốt ba tháng sẽ tự cộng thêm quãng trễ đó vào lịch của mình mà chẳng đổi lại được gì.


Tác giả Việt Nam lần đầu nên bắt đầu khi nào cho an toàn?

Trả lời trực tiếp: Nếu hạn của bạn nằm trong vòng mười hai tháng, hãy bắt đầu ngay và chọn có chủ đích theo hướng tốc độ, tức một tạp chí Q2 khớp phạm vi và có thời gian ra quyết định đầu tiên được ghi nhận rõ, thay vì đánh cược vào một tên tuổi lớn nhưng chậm. Nếu hạn còn mười tám tháng trở lên, bạn có dư địa để thử một tạp chí mạnh hơn kèm sẵn phương án cho tình huống bị từ chối. Ngày bắt đầu an toàn luôn sớm hơn cảm giác của bạn, bởi thứ gánh được một cái hạn có thật là khoảng dự phòng chứ không phải con số trung bình trong trường hợp thuận lợi nhất.

Bằng chứng: Bức tranh tổng hợp từ Björk và Solomon (2013), Powell (2016) và Andersen cùng cộng sự (2021) nhất quán ở ba điểm, đó là tổng thời gian dài, độ biến động cao, và phần đuôi phân phối nặng. Lập kế hoạch theo con số trung bình khiến khoảng một nửa số bài trễ hạn, còn lập kế hoạch theo một khoảng thực tế có kèm dự phòng mới là thứ giữ cho buổi bảo vệ, suất học bổng hay bộ hồ sơ đúng tiến độ.

Ví dụ: Một giảng viên cần một bài Scopus cho hồ sơ Phó Giáo sư còn mười tám tháng nữa. Vì đường băng rộng rãi, cố vấn ủng hộ phương án lấy Q2 làm trục và Q1 làm mục tiêu vươn tới, kèm một mốc chuyển rõ ràng, tức nếu tới ngày đã định mà tạp chí Q1 chưa ra quyết định đầu tiên thì chị sẽ chuyển sang Q2 không do dự. Chị chưa từng phải dùng tới phương án dự phòng, nhưng biết nó tồn tại cho phép chị nhắm cao mà không đặt cái hạn vào thế rủi ro.


Câu hỏi thường gặp

Công bố bài Scopus đầu tiên mất bao lâu?
Hãy dự trù khoảng chín tới mười tám tháng từ lúc nghiên cứu hoàn tất tới khi bài vào chỉ mục. Vòng phản biện chỉ là một phần trong đó, bởi việc chọn tạp chí, định dạng, chỉnh sửa và chế bản đều lấy thêm nhiều tuần, và một lần bị từ chối có thể đặt lại đồng hồ từ đầu.

Bài Q1 có công bố chậm hơn bài Q2 không?
Thường là có. Bản thảo nộp Q1 ở mức ranh giới đối mặt tỷ lệ bị từ chối tại bàn cao hơn và vòng phản biện dài hơn, nên với tác giả lần đầu đang chạy hạn, một tạp chí Q2 khớp phạm vi thường là đường nhanh hơn để có bài vào chỉ mục mà vẫn đáp ứng yêu cầu.

Tôi nên bắt đầu trước ngày bảo vệ bao lâu?
Hãy tính ngược từ ngày bảo vệ, trừ dần từng chặng, rồi cộng thêm hai tới ba tháng dự phòng cho vòng chỉnh sửa và khâu tìm phản biện. Với phần lớn tác giả lần đầu, cách tính đó đặt ngày bắt đầu muộn nhất còn an toàn ở mốc mười một tới mười bốn tháng trước hạn.

Trả phí có rút ngắn được vòng phản biện không?
Không. Phí xử lý bài báo là khoản phí công bố truy cập mở, chỉ trả sau khi bài được chấp nhận, và nó không mua được tốc độ phản biện. Bất kỳ tạp chí nào hứa hẹn chấp nhận nhanh có bảo đảm khi trả phí đều là dấu hiệu cảnh báo của một tạp chí săn mồi.

Tác giả Việt Nam hoặc tác giả dùng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai có lịch trình dài hơn không?
Bản thân vòng phản biện không chậm hơn, nhưng những quãng trễ đáng lẽ tránh được lại hay xảy ra hơn ở lần nộp đầu, chẳng hạn bị từ chối tại bàn vì lệch phạm vi hoặc vì ngôn ngữ, hay một vòng chỉnh sửa kéo dài. Một bản nộp đầu tiên vừa khớp tạp chí vừa được biên tập kỹ là tuyến phòng thủ chính trước những rủi ro đó.

MAAS có giúp tôi lập lịch trình công bố không?
Có. Cố vấn Công bố của MAAS giúp nhà nghiên cứu Việt Nam dựng lịch tính ngược, lọc danh sách tạp chí theo tốc độ thực tế, và chuẩn bị một bản nộp đã sẵn sàng cho phản biện thông qua mô hình Đề cương, Bản nháp, Bản hoàn thiện. Bạn có thể đặt lịch tư vấn qua trang liên hệ của chúng tôi.


Sẵn sàng dựng một lịch trình bảo vệ được cái hạn của bạn?

Đồng hồ công bố vừa dài vừa gập ghềnh, và phần lớn quãng đó thật sự nằm ngoài tầm tay bạn. Nhưng hai chặng quyết định việc bạn có kịp hạn hay không, tức một bản nộp đầu tiên khớp tạp chí và một vòng chỉnh sửa nhanh cùng đầy đủ, lại nằm trọn trong tầm tay. Một người cố vấn đã từng công bố và từng ngồi ở phía bên kia bàn phản biện sẽ biến câu "chín tới mười tám tháng" mơ hồ thành một kế hoạch có ngày tháng kèm một ngày bắt đầu muộn nhất còn an toàn.

MAAS ghép bạn với một cố vấn công bố trình độ tiến sĩ trong vòng 48 giờ, và phần đồng hành này đi kèm cam kết ba bậc Pass, Merit, Distinction cùng bảo hành 90 ngày. Buổi tư vấn 20 phút đầu tiên miễn phí. Chúng tôi đồng hành, còn bạn vẫn là tác giả, với sự đồng hành của chuyên gia MAAS.

Đặt lịch tư vấn Cố vấn Công bố cùng MAAS →


Bài liên quan


Tools & resources

  • Scimago Journal & Country Rank, tra quartile và thứ hạng chủ đề của một tạp chí trước khi quyết định: https://www.scimagojr.com/
  • Elsevier Journal Insights, dữ liệu thời gian tới quyết định đầu tiên của từng tạp chí, dùng để lập kế hoạch theo tốc độ: https://journalinsights.elsevier.com
  • SciRev, cơ sở dữ liệu cộng đồng về thời lượng phản biện thực tế theo tạp chí và theo ngành: https://scirev.org

References

  • Andersen, M. Z. Fonnes, S. & Rosenberg, J. (2021). Time from submission to publication varied widely for biomedical journals: A systematic review. Current Medical Research and Opinion, 37(6), 985–993. https://doi.org/10.1080/03007995.2021.1905622
  • Björk, B.-C. & Solomon, D. (2013). The publishing delay in scholarly peer-reviewed journals. Journal of Informetrics, 7(4), 914–923. https://doi.org/10.1016/j.joi.2013.09.001
  • Huisman, J. & Smits, J. (2017). Duration and quality of the peer review process: The author's perspective. Scientometrics, 113, 633–650. https://doi.org/10.1007/s11192-017-2310-5
  • Pham-Duc, B. Tran, T. Trinh, T. P. T. Nguyen, T.-T. Nguyen, N.-T. & Le, H. T. T. (2020). A spike in the scientific output on social sciences in Vietnam for recent three years: Evidence from bibliometric analysis in the Scopus database (2000–2019). Journal of Information Science. Advance online publication. https://doi.org/10.1177/0165551520977447
  • Powell, K. (2016). Does it take too long to publish research? Nature, 530(7589), 148–151. https://doi.org/10.1038/530148a
  • Taşkın, Z. Taşkın, A. Doğan, G. & Kulczycki, E. (2022). Factors affecting time to publication in information science. Scientometrics, 127(12), 7499–7515. https://doi.org/10.1007/s11192-022-04296-8

Bài viết này thuộc chuỗi MAAS Journal dành cho nghiên cứu sinh và nhà nghiên cứu Việt Nam đang học tập ở nước ngoài. Cố vấn Công bố của MAAS là một đối tác cố vấn, chúng tôi đồng hành cùng tác giả theo mô hình Đề cương, Bản nháp, Bản hoàn thiện với phản hồi phát triển từ các cố vấn trình độ tiến sĩ đã công bố trên Scopus. Chúng tôi không viết, không nộp bài, và không bảo đảm bài được chấp nhận thay cho tác giả.

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.