Bài này giúp bạn trả lời phương pháp luận là gì theo đúng nghĩa mà đề thi, giáo trình hay đề cương luận văn của bạn đang hỏi, không lẫn với phương pháp.
Người đọc mà bài hướng tới là sinh viên đại học và học viên cao học học bằng tiếng Việt tại một trường trong nước, đang gặp chữ này ở học phần triết học, ở học phần phương pháp nghiên cứu hoặc ở phần phương pháp của đề cương. Nếu bạn muốn xem phần phương pháp nằm ở đâu trong một đề cương hoàn chỉnh thì bài đề cương nghiên cứu khoa học gồm những phần nào đi vào phần đó, còn các kỹ thuật thu thập dữ liệu cụ thể được bàn riêng ở bài phương pháp phỏng vấn sâu.
Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật lần cuối: 2026-10-05
Chuyên mục: research-methods

Phương pháp luận là gì?
Trả lời thẳng: Phương pháp luận là phần lý thuyết bàn về phương pháp, tức những quan điểm định hướng cách tìm tòi, chọn lựa và vận dụng các phương pháp cụ thể. Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Hữu Vui (2006) đưa ra cách hiểu này trong giáo trình triết học. Tuỳ ngữ cảnh, chữ ấy còn mang hai nghĩa nữa, là cách tiếp cận của một nghiên cứu và tên của một học phần hoặc một chương luận văn.
Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Hữu Vui (2006) viết rằng "Phương pháp luận là lý luận về phương pháp", và giải thích thêm rằng đó là hệ thống các quan điểm chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp. Câu định nghĩa này nằm trong chương mở đầu của giáo trình, mục nói về chức năng phương pháp luận của triết học, nên nghĩa gốc của chữ là nghĩa triết học. Bài này trích bản tái bản lần thứ ba năm 2006, và bản giáo trình mới hơn có thể đã chỉnh cách viết, vì vậy bạn nên đối chiếu với giáo trình mà trường mình đang dùng.
Khi bước sang nghiên cứu khoa học, chữ này được dùng theo hai cách khác. Creswell và Creswell (2023) cho biết họ dùng cụm research approach đồng nghĩa với research methodology, và gọi ba cách tiếp cận lớn là định tính, định lượng và hỗn hợp. Còn ở một số trường, phương pháp luận là tên của một học phần, như Bộ môn Khoa học Cây trồng, Trường Đại học Cần Thơ (2017) đặt tên học phần cao học 2 tín chỉ của mình là "Phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học".
| NGHĨA | BẠN GẶP Ở ĐÂU | NÓ TRẢ LỜI CÂU HỎI NÀO | NGUỒN |
|---|---|---|---|
| Nghĩa triết học | Học phần Triết học Mác-Lênin | Hệ thống quan điểm nào chỉ đạo việc chọn và dùng phương pháp | Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Hữu Vui (2006) |
| Cách tiếp cận trong nghiên cứu | Giáo trình thiết kế nghiên cứu, phần phương pháp của đề cương | Nghiên cứu theo hướng định tính, định lượng hay hỗn hợp, và vì sao | Creswell và Creswell (2023) |
| Tên học phần hoặc chương | Đề cương chi tiết học phần cao học | Các bước làm một nghiên cứu, từ hình thành vấn đề đến báo cáo | Bộ môn Khoa học Cây trồng, Trường Đại học Cần Thơ (2017) |
Bảng trên cho thấy cùng một chữ nhưng ba câu hỏi khác nhau. Khi gặp chữ này trong một đề bài, bạn hãy xem đề đang hỏi về triết học, về cách tiếp cận của một nghiên cứu cụ thể hay về nội dung của học phần, rồi mới chọn nghĩa để trả lời.
Phương pháp luận là gì trong triết học?
Trả lời thẳng: Trong triết học Mác-Lênin, phương pháp luận là lý luận về phương pháp ở ba cấp độ, gồm phương pháp luận ngành, phương pháp luận chung và phương pháp luận chung nhất. Theo Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Hữu Vui (2006), triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất vì nó là hệ thống tri thức chung nhất về thế giới.
Giáo trình của Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Hữu Vui (2006) chia phương pháp luận thành ba cấp độ theo phạm vi áp dụng. Phương pháp luận ngành, còn gọi là phương pháp luận bộ môn, là của một ngành khoa học cụ thể. Phương pháp luận chung được dùng cho một số ngành khoa học. Phương pháp luận chung nhất là điểm xuất phát để xác định hai loại kia, cùng các phương pháp hoạt động khác của con người.
Lý do triết học đứng ở cấp chung nhất được giáo trình giải thích bằng tính chất của chính triết học. Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Hữu Vui (2006) cho rằng triết học là hệ thống tri thức chung nhất về thế giới và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, nên các quan điểm của nó chỉ đạo được mọi hoạt động nhận thức cụ thể. Với phép biện chứng duy vật, giáo trình còn lưu ý rằng nó không chỉ là lý luận về phương pháp mà còn diễn tả quan niệm về thế giới, tức là lý luận về thế giới quan.
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học là gì?
Trả lời thẳng: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học vừa là tên một giáo trình hay học phần, vừa là cách tiếp cận mà một nghiên cứu theo đuổi. Là tên học phần, nó dạy cách làm nghiên cứu từ hình thành vấn đề đến báo cáo. Là cách tiếp cận, Creswell và Creswell (2023) chia thành ba loại gồm định tính, định lượng và hỗn hợp, đứng trên các thiết kế và phương pháp cụ thể.
Với nghĩa học phần, Bộ môn Khoa học Cây trồng, Trường Đại học Cần Thơ (2017) soạn đề cương chi tiết học phần cao học "Phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học" vào ngày 20/06/2017, gồm 2 tín chỉ với 30 tiết lý thuyết và 20 tiết thực hành. Nội dung gồm 7 chương, lần lượt là hình thành vấn đề nghiên cứu, thiết kế thí nghiệm, thu thập số liệu, xử lý số liệu, trình bày kết quả, viết báo cáo và báo cáo trước hội đồng. Điểm đánh giá chia thành 10% chuyên cần, 60% tập báo cáo đề cương và 30% báo cáo đề cương. Đây là đề cương của một bộ môn ở một trường, nên bạn chỉ nên hiểu rằng một số học phần mang tên phương pháp luận dạy kỹ năng làm nghiên cứu, không nên suy ra mọi trường đều làm như vậy.
Với nghĩa cách tiếp cận, Creswell và Creswell (2023) sắp các thuật ngữ từ rộng đến hẹp theo bốn tầng. Tầng đầu là các giả định triết học, tiếp theo là cách tiếp cận (hay phương pháp luận), rồi đến thiết kế nghiên cứu, và cuối cùng là phương pháp cụ thể. Hai tác giả còn cho rằng định tính và định lượng không phải hai nhóm tách biệt cứng nhắc mà là hai đầu của một dải liên tục, và nghiên cứu hỗn hợp nằm ở giữa dải đó. Bài phương pháp nghiên cứu kinh doanh dùng khung tương tự để dẫn đường cho người làm đề tài ngành kinh tế.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khác nhau thế nào?
Trả lời thẳng: Phương pháp nghiên cứu là những công cụ và kỹ thuật cụ thể dùng để thu thập và phân tích dữ liệu. Phương pháp luận thì giải thích vì sao các công cụ ấy được chọn và xếp theo thứ tự đó. Theo Dogaru (2025), phương pháp luận không chỉ là danh sách kỹ thuật mà là lý lẽ lý thuyết đứng sau việc lựa chọn chúng.

Dogaru (2025), trong tài liệu của Trung tâm Quốc gia về Phương pháp Nghiên cứu (National Centre for Research Methods), dùng hình ảnh căn bếp để phân biệt ba tầng. Phương pháp là dao, nồi và các thao tác. Thiết kế là một công thức cụ thể ghép các thao tác đó thành món ăn. Phương pháp luận là cuốn sách nấu ăn giải thích lý do của từng công đoạn. Dogaru (2025) viết rằng "methodology is not simply a long list of techniques, but the theoretical rationale for choosing and sequencing them."
| TẦNG | CÂU HỎI NÓ TRẢ LỜI | VÍ DỤ TRONG NGHIÊN CỨU HỖN HỢP VỀ THẤT NGHIỆP THANH NIÊN |
|---|---|---|
| Phương pháp (methods) | Dùng công cụ gì để thu và phân tích dữ liệu | Khảo sát, phỏng vấn và dữ liệu hành chính |
| Thiết kế (design) | Ghép các công cụ đó với nhau theo thứ tự nào | Phối hợp ba nguồn dữ liệu trong một nghiên cứu hỗn hợp |
| Phương pháp luận (methodology) | Vì sao ghép như vậy thì trả lời được câu hỏi nghiên cứu | Tam giác hoá (triangulation) từ nhiều nguồn làm kết quả vững hơn một nguồn đơn lẻ |
Khi bạn viết phần phương pháp của đề tài, ba tầng trong bảng trên giúp bạn tách rõ đoạn nào là liệt kê công cụ và đoạn nào là lập luận.
Scotland (2012) diễn đạt cùng ý theo cách khác. Tác giả viết rằng phương pháp luận là chiến lược hay kế hoạch hành động nằm sau việc chọn và dùng các phương pháp cụ thể, còn phương pháp là các kỹ thuật và thủ tục dùng để thu thập và phân tích dữ liệu. Bài phương pháp nghiên cứu case study là một ví dụ về việc chọn một thiết kế rồi giải thích lý do chọn.
Paradigm (hệ hình nghiên cứu) là gì, và có những loại nào?
Trả lời thẳng: Nghiên cứu thường được xếp vào các paradigm, tức hệ quan điểm về thực tại và cách hiểu biết về nó. Disbeschl và cộng sự (2026) nêu bốn paradigm thường gặp trong nghiên cứu y tế, gồm chủ nghĩa thực chứng, kiến tạo hay diễn giải, hiện thực phê phán và thực dụng. Mỗi paradigm hợp với một nhóm phương pháp, nhưng đây là gợi ý chứ không phải luật.
Disbeschl và cộng sự (2026) trình bày bốn paradigm này trong một bài hướng dẫn về ontology và epistemology, đăng trên tạp chí British Journal of General Practice. Bảng dưới đây tóm tắt cách các tác giả mô tả từng paradigm.
| PARADIGM | THỰC TẠI ĐƯỢC HIỂU NHƯ THẾ NÀO | PHƯƠNG PHÁP THƯỜNG HỢP |
|---|---|---|
| Positivism (thực chứng) | Có một thực tại có thể khám phá | Phương pháp định lượng, và phương pháp định tính đề cao tính khách quan |
| Interpretivism (diễn giải, kiến tạo) | Thực tại do những người tham gia cùng kiến tạo | Chủ yếu là phương pháp định tính |
| Critical realism (hiện thực phê phán) | Có thực tại xã hội bên ngoài nhưng hiểu biết về nó không bao giờ đầy đủ | Bất kỳ phương pháp hay tổ hợp phương pháp nào giúp trả lời câu hỏi điều gì thật sự đang diễn ra, thường là nghiên cứu sâu như phỏng vấn tự sự |
| Pragmatism (thực dụng) | Mục đích là lời giải có ích cho câu hỏi | Bất kỳ phương pháp nào hoặc tổ hợp phương pháp giúp trả lời câu hỏi |
Hai tài liệu quốc tế đếm các thành phần của một paradigm không giống nhau, và đây là chỗ nhiều sinh viên bối rối. Scotland (2012) nói một paradigm có bốn thành phần là ontology, epistemology, methodology và methods. Disbeschl và cộng sự (2026) lại đếm ba thành phần là ontology, epistemology và methodology, rồi coi methods là công cụ do methodology quyết định. Tài liệu khác nhau dùng khung đếm khác nhau, nên bạn hỏi giảng viên hướng dẫn hoặc đọc mẫu của trường mình xem khung nào được dùng.
Scotland (2012) còn nhắc một điều quan trọng cho người viết. Theo tác giả, các nền tảng triết học này là giả định, nên không thể chứng minh hay bác bỏ bằng thực nghiệm, và không thể làm nghiên cứu mà không cam kết (thường là ngầm) với một lập trường về bản chất của thực tại và về cách hiểu biết. Vì vậy việc nói rõ lập trường của mình trong đề cương là một phần của lập luận, không phải thủ tục hình thức.
Phần phương pháp luận trong luận văn cần trả lời những câu hỏi nào?
Trả lời thẳng: Phần phương pháp cần trả lời hai câu hỏi chính, gồm dữ liệu được thu thập hoặc tạo ra như thế nào và được phân tích ra sao. University of Southern California Libraries (n.d.) đặt hai câu hỏi này làm lõi của phần phương pháp. Phần viết còn phải nêu lý do chọn thủ tục và đủ thông tin để người khác lặp lại được nghiên cứu.
University of Southern California Libraries (n.d.) viết trong hướng dẫn viết bài nghiên cứu khoa học xã hội rằng "The methodology section of a research paper answers two main questions: How was the data collected or generated? And, how was it analyzed?" Hướng dẫn này cũng nhấn mạnh phải giải thích lý do chọn từng thủ tục, phải cung cấp đủ thông tin để người khác lặp lại, và phải giải thích riêng nếu dùng một phương pháp xa lạ với người đọc.
Trang hướng dẫn trên gọi phần này là methodology section nhưng nội dung chủ yếu là phần trình bày phương pháp trong bài. Vì vậy khi dịch sang tiếng Việt, bạn nên tách phần trình bày phương pháp trong luận văn khỏi phương pháp luận theo nghĩa lý thuyết đã nêu ở các mục trên. Nếu mẫu đề cương của trường bạn nhập hai thứ làm một mục, cách nhập đó vẫn hợp lệ miễn là phần lý lẽ có mặt cạnh phần thủ tục.
Một phép tự kiểm hữu ích là tự hỏi rằng nếu đổi paradigm thì lựa chọn phương pháp của mình có đổi theo không. Nếu câu trả lời là không, có thể phần lý lẽ của bạn đang thiếu. Tuỳ trường mà quy định về chương hay mục phương pháp luận khác nhau, nên bạn cần mở quy định hình thức và mẫu đề cương hiện hành của trường mình thay vì dựa vào một bài hướng dẫn chung. Bài đề cương luận văn thạc sĩ cho bạn thấy các phần thường có trong một đề cương.
Những lỗi nào hay gặp khi viết hoặc hiểu chữ phương pháp luận?
Trả lời thẳng: Bài này nêu bốn lỗi hay gặp. Lỗi thứ nhất là coi phương pháp luận như một danh sách kỹ thuật. Lỗi thứ hai là chọn phương pháp không phù hợp với mục tiêu nghiên cứu. Lỗi thứ ba là lẫn nghĩa triết học với nghĩa nghiên cứu. Lỗi thứ tư là thuộc câu ẩn dụ mà không giải thích được lựa chọn của chính mình, như Dogaru (2025) cảnh báo.
Lỗi đầu tiên đến từ việc nhầm lớp lý lẽ với lớp công cụ. Dogaru (2025) nói rõ phương pháp luận không đơn thuần là một danh sách kỹ thuật, nên đoạn nào chỉ liệt kê khảo sát, phỏng vấn và cỡ mẫu mà không nêu lý do thì mới là phần phương pháp chứ chưa phải phương pháp luận.
Lỗi thứ hai được University of Southern California Libraries (n.d.) nêu là một trong những thiếu sót thường gặp nhất, tức là phương pháp được chọn không phù hợp để đạt mục tiêu đã nêu. Cách tránh là viết lại câu hỏi nghiên cứu trước, rồi mới hỏi phương pháp nào trả lời được câu hỏi đó. Creswell và Creswell (2023) cũng lưu ý rằng người nghiên cứu không bắt buộc đi theo đúng một thứ tự cố định từ giả định triết học xuống phương pháp.
Một lý do dễ thấy của lỗi thứ ba là bốn tài liệu trong bài này đặt chữ ở bốn cấp khác nhau, từ cấp chung nhất của triết học theo Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Hữu Vui (2006) đến tên một học phần theo Bộ môn Khoa học Cây trồng, Trường Đại học Cần Thơ (2017). Khi trích một định nghĩa, bạn nên ghi rõ định nghĩa đó thuộc cấp nào.
Lỗi thứ tư thì Dogaru (2025) mô tả khá thẳng. Tác giả cho rằng sinh viên có thể nhắc lại câu ẩn dụ về cuốn sách nấu ăn mà chưa chuyển được vào bài của mình, và chỉ khi giải thích được lựa chọn bằng văn bản và bảo vệ được trong thảo luận thì mới thật sự hiểu. Với người học ở Việt Nam, buổi báo cáo đề cương trước lớp hay trước hội đồng chính là dịp để thử điều này.
Câu hỏi thường gặp
Phương pháp luận là gì?
Phương pháp luận là lý luận về phương pháp, tức hệ thống các quan điểm chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp, theo giáo trình Triết học Mác-Lênin của Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Hữu Vui (2006). Trong nghiên cứu, chữ này còn chỉ cách tiếp cận của đề tài hoặc tên một học phần.
Phương pháp luận biện chứng duy vật là gì?
Phương pháp luận biện chứng duy vật là phép biện chứng duy vật được dùng làm lý luận chỉ đạo việc chọn và dùng phương pháp. Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Hữu Vui (2006) giải thích rằng phép biện chứng duy vật không chỉ là lý luận về phương pháp mà còn diễn tả quan niệm về thế giới, tức là lý luận về thế giới quan.
Phương pháp luận có giống phương pháp nghiên cứu không?
Phương pháp luận không giống phương pháp nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu là các kỹ thuật và thủ tục cụ thể để thu thập và phân tích dữ liệu, còn phương pháp luận là chiến lược hay kế hoạch hành động nằm sau việc chọn chúng, theo Scotland (2012). Dogaru (2025) thêm rằng phương pháp luận không đơn thuần là một danh sách kỹ thuật.
Phương pháp luận định tính và định lượng khác nhau thế nào?
Phương pháp luận định lượng và định tính là hai trong ba cách tiếp cận lớn mà Creswell và Creswell (2023) mô tả, cùng với cách tiếp cận hỗn hợp. Hai tác giả coi chúng là hai đầu của một dải liên tục chứ không phải hai nhóm tách biệt cứng nhắc, và nghiên cứu hỗn hợp nằm ở khoảng giữa.
Học phần "Phương pháp luận nghiên cứu khoa học" học những gì?
Nội dung khác nhau theo từng trường. Ở một ví dụ cụ thể, Bộ môn Khoa học Cây trồng, Trường Đại học Cần Thơ (2017) thiết kế học phần cao học này gồm 7 chương đi từ hình thành vấn đề nghiên cứu đến báo cáo trước hội đồng, nên nó dạy kỹ năng làm nghiên cứu chứ không chỉ dạy triết học. Bạn cần đọc đề cương chi tiết học phần của trường mình.
MAAS có viết phần phương pháp thay bạn không?
Không. Dịch vụ hỗ trợ luận văn, luận án của MAAS đi cùng bạn qua từng giai đoạn, và mỗi góp ý của chuyên gia đều kèm lý do. Người viết và người quyết định nội dung phần phương pháp là bạn, và chuyên gia không trả lời thay bạn các câu hỏi của hội đồng khi bảo vệ.
Làm sao đối chiếu phần phương pháp của chính bạn?
Bạn có thể bắt đầu bằng việc đọc quy định hình thức và mẫu đề cương của trường để biết trường gọi phần này là gì, rồi dựng một bảng bốn dòng gồm câu hỏi nghiên cứu, paradigm, thiết kế và phương pháp. Nếu mỗi dòng giải thích được vì sao nó dẫn đến dòng sau thì bạn đã có khung của phần phương pháp luận.
Khi bạn muốn có người cùng đọc lại câu hỏi nghiên cứu và phần phương pháp trong đề cương để tự giải thích được vì sao mình chọn cách làm đó, buổi tư vấn miễn phí 15 phút giúp hai bên làm rõ phạm vi, và trang dịch vụ hỗ trợ luận văn, luận án cho biết cách chuyên gia MAAS làm việc cùng bạn. Phần viết vẫn là của bạn, từ trang đầu tới lúc bảo vệ.
Đọc tiếp
- Đề cương nghiên cứu khoa học là gì, gồm những phần nào?
- Nghiên cứu khoa học là gì, và khác tổng hợp tài liệu ở đâu?
- Phương pháp nghiên cứu kinh doanh là gì?
References
- Bộ môn Khoa học Cây trồng, Trường Đại học Cần Thơ. (2017). Đề cương chi tiết học phần Phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học (Mã số NN601). Retrieved October 5, 2026, from https://coa.ctu.edu.vn/118-cac-don-vi/khoa-khoa-hoc-cay-trong/dao-tao/cao-hoc/190-de-cuong-chi-tiet-hoc-phan-phuong-phap-luan-trong-nghien-cuu-khoa-hoc-ma-so-nn601.html?limit-start=168&mid=87
- Creswell, J. W., & Creswell, J. D. (2023). Research design: Qualitative, quantitative, and mixed methods approaches (6th ed.). SAGE Publications.
- Disbeschl, S., Checkland, K., Stutchbury, K., & Payne, R. (2026). "You can mix your methods, but you can't mix your paradigms": A guide to ontology and epistemology for the confused researcher. British Journal of General Practice, 76(762), 36–40. https://doi.org/10.3399/BJGP.2025.0390
- Dogaru, C. (2025). Distinguishing between methods, design, and methodology. National Centre for Research Methods. https://repository.ncrm.ac.uk/documents/Distinguishing_Between_Methods_Design_and_Methodology.pdf
- Nguyễn Ngọc Long, & Nguyễn Hữu Vui (Eds.). (2006). Giáo trình Triết học Mác-Lênin (dùng trong các trường đại học, cao đẳng) (tái bản lần thứ ba có sửa chữa, bổ sung). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
- Scotland, J. (2012). Exploring the philosophical underpinnings of research: Relating ontology and epistemology to the methodology and methods of the scientific, interpretive, and critical research paradigms. English Language Teaching, 5(9), 9–16. https://doi.org/10.5539/elt.v5n9p9
- University of Southern California Libraries. (n.d.). 6. The methodology. In Organizing your social sciences research paper. Retrieved October 5, 2026, from https://libguides.usc.edu/writingguide/methodology
