Skip to content
Quay lại BlogResearch Methods

Phương pháp nghiên cứu kinh doanh là gì?

16 phút đọc3,112 từNEW

Phương pháp nghiên cứu kinh doanh không chỉ là nghiên cứu thị trường, mà là hệ thống lựa chọn từ triết lý nghiên cứu tới kỹ thuật thu thập dữ liệu.

Cập nhật lần cuối: 2026-09-19
Chuyên mục: research-methods

Sinh viên ngồi trước laptop, xung quanh là ghi chú và biểu đồ nghiên cứu
Ảnh minh hoạ

Phương pháp nghiên cứu kinh doanh là gì?

Trả lời thẳng: Phương pháp nghiên cứu kinh doanh là toàn bộ cách tiếp cận một nhà nghiên cứu dùng để trả lời một câu hỏi thuộc lĩnh vực kinh doanh, từ marketing, tài chính tới quản trị nhân sự và hành vi tổ chức. Lĩnh vực này vay mượn phương pháp luận từ khoa học xã hội để nghiên cứu các chủ đề thương mại, và không chỉ là nghiên cứu thị trường.

Bằng chứng: Heston (2023) viết trong mục bàn về nghiên cứu kinh doanh và khoa học xã hội rằng lĩnh vực này mượn cách tiếp cận của tâm lý học, xã hội học và nhân học để xem xét những vấn đề thương mại như marketing, quản trị, hành vi tổ chức và tài chính. Saunders và cộng sự (2023) đề xuất mô hình "research onion" gồm sáu lớp lựa chọn lồng vào nhau, mà lớp trong cùng là kỹ thuật thu thập và phân tích dữ liệu, còn lớp ngoài cùng là triết học nghiên cứu định hình toàn bộ cách nhìn nhận vấn đề.
Ví dụ: Một đề tài về cơ cấu vốn doanh nghiệp, một luận văn về quản trị nhân sự, hay một nghiên cứu về hành vi tổ chức đều là nghiên cứu kinh doanh đúng nghĩa, dù không đề tài nào trong ba ví dụ này khảo sát thị trường.

Vì sao chọn sai phương pháp lại làm hỏng cả bài nghiên cứu?

Trả lời thẳng: Chọn sai phương pháp làm hỏng bài vì sáu lớp trong mô hình research onion phải nhất quán, từ triết học nghiên cứu ở ngoài cùng tới kỹ thuật thu thập dữ liệu ở trong cùng. Một câu hỏi cần dữ liệu định lượng mà lại phỏng vấn sâu năm người thì không trả lời được câu hỏi ban đầu, và ngược lại một câu hỏi cần hiểu sâu mà phát bảng hỏi diện rộng cũng lệch mục tiêu.

Bằng chứng: Saunders và cộng sự (2023) mô tả sáu lớp của research onion gồm triết học nghiên cứu, cách tiếp cận lý thuyết (suy diễn, quy nạp hoặc kết hợp), lựa chọn phương pháp luận, chiến lược nghiên cứu, khung thời gian, và kỹ thuật thu thập-phân tích dữ liệu, trong đó mỗi lớp phải phù hợp với lớp bên ngoài nó. Mục đích của mô hình là giúp người nghiên cứu nhìn thấy toàn bộ chuỗi quyết định thay vì chỉ chọn một kỹ thuật thu thập dữ liệu rồi mới quay lại hỏi câu hỏi nghiên cứu có phù hợp không. Mô hình research onion lần đầu xuất hiện trong ấn bản năm 2003 của Research Methods for Business Students, được định hình rõ thành sáu lớp như hiện tại ở ấn bản năm 2007, cập nhật tiếp năm 2019, trước khi tới ấn bản thứ 9 năm 2023 mà bài này trích dẫn (Saunders và cộng sự, 2023). Theo mô tả của nhà xuất bản Pearson, cuốn sách này đã bán hơn 500.000 bản trên toàn cầu.

Ví dụ: Nếu câu hỏi nghiên cứu của bạn là "yếu tố nào ảnh hưởng tới ý định mua hàng trực tuyến của sinh viên", đây là câu hỏi cần đo lường mối quan hệ giữa các biến, nên phương pháp luận định lượng với bảng hỏi khảo sát phù hợp hơn một cuộc phỏng vấn sâu ba người.

Nghiên cứu định lượng, định tính và hỗn hợp khác nhau ở đâu?

Trả lời thẳng: Ba lựa chọn phương pháp luận chính trong nghiên cứu kinh doanh là định lượng, định tính và hỗn hợp. Định lượng dùng dữ liệu số để kiểm định mối quan hệ giữa các biến, thường gắn với hướng suy diễn. Định tính dùng dữ liệu phi số như lời nói hay hình ảnh để hiểu sâu một hiện tượng, gắn với hướng quy nạp. Hỗn hợp kết hợp cả hai, chạy song song hoặc theo trình tự.

Bằng chứng: Saunders và cộng sự (2023) định nghĩa ba lựa chọn phương pháp luận này và gắn định lượng với dữ liệu số, định tính với dữ liệu phi số. Heston (2023) mô tả nghiên cứu định lượng trong kinh doanh thường dùng khảo sát bằng bảng hỏi để tìm xu hướng và mối quan hệ giữa các biến, còn nghiên cứu định tính dùng phỏng vấn sâu, focus group hoặc quan sát dân tộc học để hiểu sâu nhận thức thương hiệu hay hành vi mua sắm, với mẫu nhỏ nhưng chọn có chủ đích. Cùng nguồn này nói thêm nghiên cứu định lượng nhấn mạnh tính đại diện, độ tin cậy và độ giá trị, còn nghiên cứu định tính nhấn mạnh "trustworthiness", tức mức độ phản ánh đúng thực tế của người tham gia.

Ví dụ: Một đề tài đo mức độ hài lòng của 300 khách hàng bằng thang Likert là định lượng. Một đề tài phỏng vấn sâu 8 quản lý cấp trung để hiểu vì sao họ ngần ngại áp dụng công nghệ mới là định tính. Một đề tài khảo sát diện rộng rồi phỏng vấn sâu thêm một nhóm nhỏ để giải thích kết quả khảo sát là hỗn hợp.

Tiêu chí Định lượng Định tính Hỗn hợp
Loại dữ liệu Số, đo lường được Từ ngữ, hình ảnh, phi số Kết hợp cả số và phi số
Mục tiêu Đo lường, kiểm định mối quan hệ giữa biến Hiểu sâu một hiện tượng, một trải nghiệm Vừa đo lường vừa giải thích chiều sâu
Cách thu thập điển hình Bảng hỏi khảo sát diện rộng Phỏng vấn sâu, focus group, quan sát Cả hai, song song hoặc nối tiếp
Tiêu chí đánh giá chất lượng Độ tin cậy và độ giá trị Trustworthiness, member checking Áp dụng tiêu chí của cả hai nhánh

Hỗn hợp (mixed methods) có bao nhiêu thiết kế cụ thể?

Trả lời thẳng: Có bốn thiết kế mixed-methods cụ thể hay dùng trong nghiên cứu kinh doanh và quản trị: convergent (thu thập định tính và định lượng song song rồi đối chiếu hai bộ kết quả), embedded (một loại dữ liệu lồng bên trong loại còn lại), sequential exploratory (định tính trước, định lượng sau) và sequential explanatory (định lượng trước, định tính sau để giải thích thêm kết quả).

Bằng chứng: Chương 4 của Handbook of Mixed Methods Research in Business and Management (2023) mô tả bốn thiết kế này là các lựa chọn cụ thể hoá cho lớp "methodological choice" hỗn hợp trong mô hình research onion, mỗi thiết kế gắn với một trình tự thu thập dữ liệu khác nhau tuỳ câu hỏi nghiên cứu đặt ra.

Ví dụ: Một đề tài khảo sát bằng bảng hỏi trong 4 tuần rồi phỏng vấn sâu thêm trong 2 tuần tiếp theo để giải thích kết quả khảo sát là thiết kế sequential explanatory. Một đề tài vừa khảo sát vừa phỏng vấn trong cùng một đợt thu thập dữ liệu kéo dài 6 tuần rồi đối chiếu hai bộ kết quả là thiết kế convergent.

Giáo trình University of Mumbai định nghĩa định lượng và định tính khác gì Saunders?

Trả lời thẳng: Giáo trình MMS Business Research Methods của University of Mumbai (n.d.) gọi nghiên cứu định lượng là "cách tiếp cận có cấu trúc" chuyển dữ liệu thành dạng số để tính toán thống kê, còn nghiên cứu định tính là "cách tiếp cận không cấu trúc" gắn với quan điểm kiến tạo xã hội, trả lời câu hỏi "vì sao" và "như thế nào" thay vì "cái gì" và "khi nào".

Bằng chứng: Định nghĩa của University of Mumbai (n.d., mục 1.7.1-1.7.2) không mâu thuẫn với Saunders và cộng sự (2023), nhưng nhấn mạnh khác trọng tâm: Saunders phân loại theo loại dữ liệu (số hay phi số), còn University of Mumbai (n.d.) phân loại theo mức độ cấu trúc của quy trình thu thập. Hai cách phân loại này bổ sung cho nhau khi đọc song song hai nguồn.

Ví dụ: Một khảo sát 400 sinh viên bằng bảng hỏi có sẵn 20 câu hỏi đóng là cách tiếp cận có cấu trúc theo Mumbai University, đồng thời là định lượng theo Saunders. Một buổi phỏng vấn mở kéo dài 90 phút không có bảng câu hỏi cố định là cách tiếp cận không cấu trúc, đồng thời là định tính.

Có những chiến lược nghiên cứu kinh doanh phổ biến nào?

Trả lời thẳng: Các chiến lược nghiên cứu thường gặp trong kinh doanh gồm thực nghiệm, khảo sát, case study, ethnography, grounded theory, action research và nghiên cứu lưu trữ. Khi đề tài dùng thiết kế hỗn hợp, thứ tự thu thập dữ liệu định tính và định lượng, chạy song song hay nối tiếp, là điều cần quyết định rõ trước khi thu thập dữ liệu.

Bằng chứng: Saunders và cộng sự (2023) xếp các chiến lược này vào lớp "strategy" của research onion, đứng ngay sau lớp phương pháp luận và trước lớp khung thời gian trong chuỗi sáu lớp quyết định.

Ví dụ: Nếu bạn nghiên cứu một trường hợp doanh nghiệp cụ thể để hiểu vì sao doanh nghiệp đó tái cấu trúc thành công, đây là case study. Nếu bạn dùng bảng hỏi ở học kỳ này rồi phỏng vấn sâu thêm một nhóm nhỏ ở học kỳ sau để làm rõ kết quả, đây là sequential explanatory. Phương pháp nghiên cứu case study trình bày riêng cách xác định khi nào case study là lựa chọn phù hợp.

Quy trình thực hiện một nghiên cứu kinh doanh gồm mấy bước?

Trả lời thẳng: Quy trình nghiên cứu theo Kothari đi qua nhiều bước nối tiếp nhau, từ xác định vấn đề, rà soát tài liệu, xây dựng giả thuyết, thiết kế nghiên cứu, xác định thiết kế mẫu, thu thập dữ liệu, thực thi dự án, tới phân tích dữ liệu và viết báo cáo. Bước xác định thiết kế mẫu là lúc bạn quyết định khảo sát toàn bộ tổng thể hay chỉ chọn một mẫu đại diện.

Sơ đồ các bước của quy trình nghiên cứu kinh doanh theo Kothari, xếp theo trình tự từ lúc nêu vấn đề tới lúc viết báo cáo.
Các bước nối tiếp nhau, trong đó bước thiết kế mẫu quyết định khảo sát toàn bộ tổng thể hay chọn mẫu đại diện.

Bằng chứng: Kothari (2013) viết rằng "Research methodology is a way to systematically solve the research problem" (Kothari, 2013, tr. 8), rồi trình bày quy trình nghiên cứu này trong các chương về thiết kế nghiên cứu và thiết kế mẫu, đi từ xác định vấn đề tới phân tích dữ liệu và viết báo cáo. Cùng nguồn này phân biệt "census inquiry", tức điều tra toàn bộ mọi đơn vị trong tổng thể, với "sample", tức một tập con được chọn theo một kế hoạch xác định trước khi thu thập dữ liệu, gọi là sample design. Phần lớn nghiên cứu chọn mẫu thay vì điều tra toàn bộ, vì chi phí và thời gian điều tra toàn bộ tổng thể thường vượt quá khả năng của một dự án nghiên cứu, đặc biệt ở cấp luận văn đại học hay thạc sĩ.

Ví dụ: Nếu tổng thể nghiên cứu của bạn là toàn bộ sinh viên năm cuối của một trường, bạn hiếm khi khảo sát hết mọi người mà sẽ chọn một mẫu đủ lớn để đại diện cho tổng thể đó, theo đúng logic sample design của Kothari (2013).

Ba nguồn Saunders và cộng sự (2023), Kothari (2013) và Heston (2023) đồng thuận ở một điểm: bước xác định phương pháp luận không đứng độc lập, mà luôn phải khớp với câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra trước đó (Saunders và cộng sự, 2023; Kothari, 2013; Heston, 2023).

Thu thập dữ liệu sơ cấp bằng cách nào?

Trả lời thẳng: Kothari phân biệt năm phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: quan sát, phỏng vấn cá nhân, bảng hỏi gửi qua thư hoặc email, phỏng vấn qua điện thoại, và thu thập qua schedule, tức điều tra viên trực tiếp điền hộ người trả lời. Mỗi phương pháp phù hợp với một dạng câu hỏi nghiên cứu và một mức ngân sách khác nhau.

Bằng chứng: Kothari (2013) mô tả năm phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp này trong chương "Methods of Data Collection", kèm ưu và nhược điểm của từng phương pháp về chi phí, tốc độ và mức độ kiểm soát chất lượng câu trả lời. Phương pháp schedule, tức điều tra viên trực tiếp điền phiếu hộ người trả lời, kiểm soát chất lượng câu trả lời chặt hơn bảng hỏi tự điền, nhưng tốn nhân lực và chi phí hơn hẳn. Dữ liệu sơ cấp và thứ cấp trình bày riêng cách phân biệt hai loại dữ liệu này trước khi chọn phương pháp thu thập cụ thể.

Ví dụ: Một đề tài phỏng vấn 10 quản lý cấp trung về quyết định tuyển dụng, mỗi buổi kéo dài 45 phút, dùng phương pháp phỏng vấn cá nhân. Một đề tài khảo sát 200 khách hàng qua Google Forms trong 2 tuần dùng phương pháp bảng hỏi gửi qua email, phiên bản hiện đại của "mailing questionnaires" mà Kothari (2013) mô tả.

Còn mắc ở đúng một bước cụ thể trong bài tập môn học, chẳng hạn chưa chắc nên chọn định lượng hay định tính cho đề tài của riêng bạn? Gia sư 1:1 theo môn của MAAS ghép bạn với chuyên gia đúng môn và đặt buổi tư vấn miễn phí 15 phút trước khi vào buổi học chính thức, chỉ hướng dẫn cách tiếp cận và cách đọc rubric để bạn tự làm bài, không làm thay bạn.

Bài viết dựa trên những nguồn nào?

Năm nguồn học thuật đã được mở toàn văn hoặc mở phần tóm tắt xác minh được tác giả trước khi viết bài này: Saunders, Lewis và Thornhill (2023) với ấn bản thứ 9 của Research Methods for Business Students, xuất bản bởi Pearson; Kothari (2013), bản tái bản lần 3 của Research Methodology: Methods and Techniques, xuất bản bởi New Age International; Heston (2023), bài Foundations of Scholarly Writing trên Authorea Preprints; Handbook of Mixed Methods Research in Business and Management (2023), xuất bản bởi Edward Elgar Publishing; và giáo trình MMS Business Research Methods của University of Mumbai. Ba nguồn đầu được trích trực tiếp ở mọi mục "Bằng chứng" phía trên. Hai nguồn sau chỉ dùng cho đúng hai mục liên quan tới mixed methods và tới cách phân loại của Mumbai University, không dùng để khái quát hoá sang các mục khác của bài.

Câu hỏi thường gặp

Phương pháp nghiên cứu kinh doanh khác gì nghiên cứu thị trường?
Nghiên cứu thị trường chỉ là một nhánh con, tập trung vào hành vi và nhu cầu khách hàng. Nghiên cứu kinh doanh bao trùm rộng hơn, gồm cả tài chính, quản trị nhân sự, hành vi tổ chức và nhiều lĩnh vực khác không liên quan tới thị trường tiêu dùng.

Sinh viên đại học có cần theo đúng mô hình research onion không?
Không bắt buộc dùng đúng tên mô hình, nhưng lô-gic nhất quán giữa câu hỏi nghiên cứu, cách tiếp cận và kỹ thuật thu thập dữ liệu mà mô hình này đại diện, như Saunders và cộng sự (2023) trình bày, là điều nhiều rubric phương pháp luận đều chấm.

Làm sao biết nên dùng khảo sát hay phỏng vấn sâu?
Nếu câu hỏi cần đo lường mối quan hệ giữa các biến trên một mẫu lớn, khảo sát phù hợp hơn. Nếu câu hỏi cần hiểu sâu trải nghiệm hoặc động cơ của một nhóm nhỏ, phỏng vấn sâu phù hợp hơn.

Nghiên cứu kinh doanh có bắt buộc phải có giả thuyết không?
Chỉ nghiên cứu theo hướng suy diễn, thường đi cùng phương pháp định lượng, mới cần xây dựng giả thuyết trước khi thu thập dữ liệu. Nghiên cứu theo hướng quy nạp, thường đi cùng phương pháp định tính, khám phá lý thuyết từ dữ liệu thay vì kiểm định một giả thuyết có sẵn.

Sample design khác gì census inquiry?
Census inquiry khảo sát hết mọi đơn vị trong tổng thể nghiên cứu. Sample design chỉ chọn một tập con theo một kế hoạch xác định trước, dùng khi khảo sát toàn bộ tổng thể vượt quá ngân sách hoặc thời gian cho phép (Kothari, 2013).

Bốn thiết kế mixed methods khác nhau ở điểm nào?
Convergent thu thập hai loại dữ liệu song song rồi đối chiếu; embedded lồng một loại dữ liệu bên trong loại còn lại; sequential exploratory đi định tính trước định lượng sau; sequential explanatory đi định lượng trước định tính sau (Handbook of Mixed Methods Research in Business and Management, 2023).

Mixed methods có phải lúc nào cũng tốt hơn một phương pháp đơn lẻ không?
Không. Mixed methods đòi hỏi thời gian và nguồn lực lớn hơn để thực hiện cả hai nhánh dữ liệu, nên chỉ nên chọn khi câu hỏi nghiên cứu thật sự cần cả đo lường lẫn giải thích chiều sâu, không phải vì nghe có vẻ toàn diện hơn (Handbook of Mixed Methods Research in Business and Management, 2023).

Nên làm gì tiếp theo

Đọc tiếp:

References

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.