Đưa một nghiên cứu từ ý tưởng tới bài báo đăng trên một tạp chí thuộc Scopus thực sự cần bao nhiêu buổi làm việc? Scopus là cơ sở dữ liệu Elsevier ra mắt năm 2004, song song với Web of Science, chỉ mục có gốc từ Science Citation Index do Eugene Garfield lập năm 1964. Câu hỏi nghe như chuyện hành chính, nhưng chính nó tách người làm xong khỏi người bỏ dở giữa chừng, vì phần lớn tác giả công bố lần đầu không biết khối lượng công việc thật nằm ở đâu.
Bài viết này đi lần lượt qua 5 giai đoạn, nói rõ mỗi giai đoạn cho ra thứ gì, và nói thẳng phần nào của tiến độ không ai kiểm soát được.
Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật lần cuối: 2026-10-09
Chuyên mục: research-methods
Một dự án công bố được chia thế nào, và mỗi giai đoạn cần bao nhiêu buổi?
Trả lời trực tiếp: Dự án gồm 5 giai đoạn với 10 đầu việc. Ở lộ trình quốc tế, toàn bộ quá trình cần khoảng 26 buổi, và giảm còn 21 buổi khi nghiên cứu không có phần lập trình thực nghiệm. Lộ trình đăng trên tạp chí trong nước bằng tiếng Việt gọn hơn, còn 8 đầu việc và khoảng 13 buổi.

| Giai đoạn | Đầu việc | Số buổi |
|---|---|---|
| 1 · Định hướng | Buổi khởi động dự án | 1 |
| 1 · Định hướng | Định hướng đề tài và đánh giá khả năng công bố | 1 |
| 2 · Định khung | Câu hỏi nghiên cứu và dàn ý bài báo | 3 |
| 2 · Định khung | Tổng quan tài liệu và phân tích khoảng trống | 3 |
| 3 · Phương pháp | Phương pháp và phân tích dữ liệu | 4 |
| 3 · Phương pháp | Thiết kế thực nghiệm và lập trình (chỉ AI và khoa học máy tính) | 5 |
| 4 · Rà soát bản thảo | Rà soát từng phần | 4 |
| 5 · Nộp bài | Chọn tạp chí, chuẩn bị hồ sơ và nộp bài | 2 |
| 5 · Nộp bài | Xử lý nhận xét của người phản biện | 2 |
| 5 · Nộp bài | Bản thảo cuối sau khi được chấp nhận | 1 |
Điều đáng đọc là cách phân bổ chứ không phải con số tổng. 10 buổi rơi vào giai đoạn 2 và 3, tức trước khi có bản thảo nào để đọc, còn 5 buổi rơi vào giai đoạn 5, sau khi bản thảo đã rời tay bạn. Phần viết không phải một giai đoạn riêng mà diễn ra giữa các buổi, và các buổi tồn tại để bảo đảm những gì bạn viết ra đứng vững được khi tới bàn của ban biên tập.
Vì sao hai buổi đầu quyết định dự án có khả thi hay không?
Trả lời trực tiếp: Giai đoạn 1 trả lời câu hỏi liệu nghiên cứu, với thiết kế hiện tại, có tới được một tạp chí thuộc Scopus hay không, và nếu được thì phân vị nào là thực tế. Q1 là nhóm một phần tư tạp chí đứng đầu trong một nhóm chủ đề, theo xếp hạng phân vị công bố trong Journal Citation Reports (JCR) của Clarivate, trong bảng CiteScore của Elsevier, hoặc theo phân vị SCImago Journal Rank (SJR).
Hướng dẫn chọn tạp chí của chính Elsevier (n.d.) khuyên tác giả cân nhắc mục tiêu và phạm vi của tạp chí, nhóm độc giả và cơ sở dữ liệu lập chỉ mục trước khi xét tới chỉ số ảnh hưởng. Đó cũng là thứ tự câu hỏi mà giai đoạn 1 đi qua, và 2 tới 3 buổi cho giai đoạn này rẻ hơn rất nhiều so với 4 tới 12 tháng mà một lần nộp sai tạp chí tiêu tốn trước khi bị từ chối. Nghe kết luận đó ở buổi thứ 2 vẫn rẻ hơn nhiều so với nghe nó ở tháng thứ 8.
Buổi khởi động xác định những gì đã có trong tay, gồm dữ liệu đã thu hay chưa, phê duyệt đạo đức đã có hay còn chờ theo các chuẩn thực hành cốt lõi mà Committee on Publication Ethics (COPE, n.d.) công bố, đồng tác giả đã thống nhất chưa, và hạn chót có do ngày tốt nghiệp hay một mốc tài trợ ấn định hay không. Buổi thứ hai đánh giá khả năng công bố. Một nghiên cứu có thể vững về phương pháp mà vẫn không công bố được ở một tạp chí Q1, vì đóng góp chỉ nhích thêm một chút so với cái đã có, vì mẫu quá hẹp so với các tạp chí trong nhóm chủ đề đó, hoặc vì thiết kế không trả lời được câu hỏi mà chính nó đặt ra.
Kết cục khó nghe của giai đoạn 1 đôi khi là lời khuyên thu hẹp phạm vi nghiên cứu hoặc nhắm Q2, tức nhóm từ 25% tới 50%, thay vì Q1. Người bỏ qua bước đánh giá này thường nhận đúng kết luận ấy 18 tháng sau, trong một lá thư từ chối tại bàn, khi đã mất trọn một năm ở giữa để viết.
Giai đoạn định khung cho ra thứ gì, và vì sao cần sáu buổi?
Trả lời trực tiếp: Giai đoạn 2 cho ra hai tài liệu, là một câu hỏi nghiên cứu kèm dàn ý cấu trúc, và một bài tổng quan tài liệu chỉ ra được một khoảng trống cụ thể. 6 buổi là chi phí thực tế để đưa cả hai tới mức người phản biện chấp nhận.
3 buổi dành cho câu hỏi nghiên cứu và dàn ý. Phần việc chính ở đây là thu hẹp, để có một câu hỏi trả lời được bằng dữ liệu bạn đang có, phát biểu đủ chặt để dàn ý đi ra từ chính câu hỏi chứ không bị áp từ ngoài vào. 3 buổi còn lại dành cho tổng quan tài liệu và phân tích khoảng trống, tìm đồng thời trên Scopus và Google Scholar chứ không chỉ một trong hai, và khi ngành đòi hỏi thì thêm một cơ sở dữ liệu chuyên ngành như PubMed hoặc IEEE Xplore. Khoảng trống không phải là chuyện chưa ai viết về đề tài của bạn. Nó là một bất đồng cụ thể chưa được giải quyết, một điều kiện biên chưa ai kiểm, hoặc một nhóm đối tượng mà một phát hiện đã vững chưa từng được kiểm lại. Người phản biện đọc câu phát biểu khoảng trống như một khẳng định, và họ kiểm tra nó.
Giai đoạn định khung là nơi phải làm lại nhiều nhất, và cũng là nơi làm lại rẻ nhất. Sắp lại lập luận ở bước dàn ý chỉ tốn một buổi, còn sắp lại nó khi đã có 8.000 chữ thì tốn nhiều tuần, và tác giả thường cưỡng lại chính vì những chữ ấy đã nằm sẵn trên trang.
Giai đoạn phương pháp tốn nhiều thời gian nhất ở đâu?
Trả lời trực tiếp: Với phần lớn các ngành, giai đoạn này gồm 4 buổi cho phương pháp và phân tích dữ liệu. Khi nghiên cứu thuộc AI hoặc khoa học máy tính, có thêm 5 buổi cho thiết kế thực nghiệm và lập trình, khối lớn nhất trong toàn bộ lộ trình.
Các buổi về phương pháp bàn tới lý do chọn thiết kế, cách lấy mẫu, độ giá trị của công cụ đo, chiến lược phân tích và các giả định mà kiểm định được chọn mang theo, đối chiếu với chuẩn báo cáo phù hợp do EQUATOR Network công bố, là PRISMA 2020 cho bài tổng quan hoặc tuyên bố CONSORT 2010 cho thử nghiệm lâm sàng. Kết quả của các buổi này không phải một bản phân tích đã xong, mà là một bản phân tích bạn bảo vệ được khi người phản biện hỏi vì sao bạn dùng cách này chứ không dùng một phương án hiển nhiên khác, loại câu hỏi mà Annesley (2011) xếp vào nhóm chất vấn thường gặp nhất ở vòng đầu.
Với nghiên cứu AI và khoa học máy tính, khối bổ sung gồm thiết kế thí nghiệm, triển khai và khả năng tái lập kết quả. Đó là lý do cùng một lộ trình cần 26 buổi ở ngành này và 21 buổi ở ngành khác. Báo cáo minh bạch cách mô hình được huấn luyện và kiểm định, đúng chuẩn mà các nền tảng như Papers With Code khuyến khích tác giả công bố cùng mã nguồn, đã thành yêu cầu quen thuộc của người phản biện trong các ngành này. Một nghiên cứu không đáp ứng được yêu cầu đó sẽ không qua vòng phản biện, dù độ chính xác nêu ở phần tóm tắt có cao tới đâu.
Vì sao bản thảo được rà theo từng phần thay vì từ đầu tới cuối?
Trả lời trực tiếp: Giai đoạn 4 rà bản thảo theo thứ tự Tóm tắt → Phương pháp → Mở đầu → toàn văn, ngược với thứ tự IMRAD mà phần lớn tạp chí yêu cầu ở bản nộp cuối. Lý do là mỗi phần ràng buộc phần sau nó, và đọc theo thứ tự kể chuyện sẽ che mất những chỗ các phần lệch nhau.
Phần tóm tắt đi trước vì nó buộc tác giả nói ra đóng góp trong đúng một đoạn, thường dài 150 tới 250 chữ, và nếu đoạn đó mơ hồ thì sửa bao nhiêu ở bên dưới cũng không cứu được. Phương pháp đi thứ hai vì đây là phần người phản biện soi kỹ nhất về khả năng tái lập, và vì những gì phương pháp thực sự chống đỡ được sẽ quyết định phần mở đầu được phép hứa tới đâu. Phần mở đầu được viết thứ ba, khi cả đóng góp lẫn bằng chứng đã chốt, để cách đặt vấn đề khớp với nghiên cứu chứ không bắt nghiên cứu gồng mình theo cách đặt vấn đề. Chỉ khi đó toàn văn mới được đọc từ đầu tới cuối để soát mạch, song song với trình bày theo yêu cầu của tạp chí mục tiêu.
Phần này cần 4 buổi, ngắn nhất trong các giai đoạn nội dung, và nó ngắn vì giai đoạn 2 và 3 đã làm xong phần việc về cấu trúc.
Sau khi nộp bài thì điều gì diễn ra, và phần nào nằm ngoài tầm kiểm soát của mọi người?
Trả lời trực tiếp: 5 buổi nằm sau khi bản thảo đã xong, gồm 2 buổi cho chọn tạp chí và hồ sơ nộp, 2 buổi cho xử lý nhận xét của người phản biện, và 1 buổi cho bản thảo cuối sau khi được chấp nhận. Điều không buổi nào tác động được là chính quyết định của ban biên tập.
Chọn tạp chí là một bài toán ghép cặp, xét mức khớp phạm vi, mức khớp trích dẫn, phân vị CiteScore trên Scopus và cơ hội được nhận sát với thực tế. Bài toán này được giải trước khi nộp chứ không phải sau một lần bị từ chối, và được đối chiếu với tiêu chí đưa vào của Directory of Open Access Journals (DOAJ) cùng một bộ lọc tạp chí săn mồi như Predatory Reports của Cabells. Bộ hồ sơ đi kèm, gồm thư gửi ban biên tập, danh sách người phản biện đề xuất, tuyên bố về đạo đức và dữ liệu, và phần đóng góp của từng tác giả, là chỗ những chậm trễ lẽ ra tránh được hay dồn lại, vì hồ sơ thiếu sẽ bị trả về trước khi tới tay biên tập viên.
Các buổi trả lời phản biện cho ra một thư trả lời theo từng ý, đi kèm bản thảo đã sửa, theo cùng lô-gic mà Annesley (2011) và Noble (2017), trong một bài đăng trên PLOS Computational Biology, đều trình bày về cách trả lời người phản biện. Những thư trả lời có cấu trúc và đầy đủ, đáp mọi nhận xét kể cả nhận xét bạn không đồng tình, thường đi cùng kết quả chỉnh sửa tốt hơn. Bạn được phép bất đồng với người phản biện, nhưng không được phép lờ họ đi.
Buổi cuối xử lý bản in thử và các chỉnh sửa sau khi được chấp nhận, cùng loại nghĩa vụ mà Committee on Publication Ethics nêu trong hướng dẫn về chuẩn thực hành cốt lõi. Buổi này có mặt vì được chấp nhận chưa phải là hết nghĩa vụ của tác giả, và vì lỗi lọt vào ở bước in thử rất tốn kém để sửa một khi DOI đã hoạt động và bài bắt đầu nhận trích dẫn trên Scopus và Google Scholar.
Có một giới hạn cần nói rõ. Dịch vụ Cố vấn Công bố của MAAS cam kết về phạm vi công việc và trình độ của cố vấn, không cam kết tạp chí sẽ nhận bài của bạn, vì quyết định đó thuộc về ban biên tập và người phản biện, và không dịch vụ cố vấn nào ở vị trí hứa được điều ấy. Dịch vụ không đặt mục tiêu điểm hay hoàn tiền theo kết quả, và nếu thấy cố vấn chưa hợp, bạn có thể đề nghị đổi chuyên gia.
Cả quá trình mất bao lâu tính theo lịch?
Trả lời trực tiếp: Khoảng 4 tới 10 tháng với lộ trình quốc tế và 2 tới 4 tháng với lộ trình trong nước, và các con số đó tính phần việc của bạn, không tính phần của tạp chí. Vòng phản biện chạy theo đồng hồ riêng và cộng thêm lên trên.
Hai mốc thời gian này hay bị nhầm với nhau. Lộ trình theo buổi đo phần việc bạn và cố vấn cùng làm, còn vòng phản biện đo những gì diễn ra sau khi bản thảo rời tay bạn. Huisman và Smits (2017) cho thấy vòng phản biện thường mất 2 tới 4 tháng mới có quyết định đầu tiên, với độ chênh lớn theo ngành và theo tạp chí, và các con số này nhìn chung khớp với dữ liệu thời gian phản biện mà SciRev (n.d.) thu trực tiếp từ tác giả. Björk và Solomon (2013) truy phần lớn độ trễ đó về tốc độ phản hồi của người phản biện chứ không phải khâu xử lý biên tập.
Springer Nature (n.d.) mô tả một khoảng thời gian tương tự cho khâu xử lý biên tập sau khi nộp, và nói rõ khoảng thời gian đó dành cho điều gì khi viết rằng "Reviewers will assess the technical soundness and scientific validity of your methods, analysis and interpretation" (Springer Nature, n.d.). Nhà xuất bản này nói thêm rằng cả ba phải phù hợp, được thực hiện đúng, vững về đạo đức và được dữ liệu chống đỡ đầy đủ. Bài nộp quốc tế thường qua 2 tới 3 vòng phản biện, mỗi vòng thêm 2 tới 4 tháng. Từ lúc nộp tới lúc đăng, 4 tới 12 tháng là khoảng bình thường, và lâu hơn cũng không hiếm.
Vì vậy, khi lên kế hoạch theo ngày tốt nghiệp, bạn phải đếm ngược từ đồng hồ của tạp chí chứ không phải từ đồng hồ của mình. Một nhà nghiên cứu cần có bài đăng trong tay trước một ngày cố định mà bắt đầu khi chỉ còn 12 tháng là đang chạy theo một lịch rất sát, không hề thoải mái.
Câu hỏi thường gặp
Tôi đã có bản thảo rồi thì có tham gia giữa chừng được không?
Được, và trường hợp này khá phổ biến. Buổi đầu tiên khi đó trở thành một lượt kiểm ngược phần việc 6 buổi của giai đoạn 2 và 3 nói ở trên, để xem câu hỏi nghiên cứu, câu phát biểu khoảng trống và phương pháp trong bản thảo hiện có có đứng vững hay không. Nếu vững, dự án đi tiếp từ giai đoạn 4. Nếu không, lời khuyên trung thực là sửa phần định khung trước, thay vì trau chuốt câu chữ cho một khẳng định mà bằng chứng không chống đỡ được.
Lộ trình này có dùng được cho bài tổng quan tài liệu hay bài khái niệm không?
Được, với giai đoạn 3 được dựng lại. Trong một tổng quan hệ thống, các buổi phương pháp bàn về quy trình nghiên cứu đăng ký trước (protocol), chiến lược tìm kiếm, tiêu chí đưa vào và quy trình sàng lọc, thường được ghi lại bằng sơ đồ luồng PRISMA 2020, và tất cả phải chốt trước khi bắt đầu sàng lọc. Bài khái niệm thay phần phân tích dữ liệu bằng phát triển và bảo vệ đóng góp lý thuyết, vẫn đối chiếu với cùng phạm vi bao phủ của Web of Science và Scopus như một nghiên cứu thực nghiệm.
Số buổi có cố định không?
Không cố định. 26 buổi là lộ trình quốc tế chuẩn, 21 buổi áp cho nghiên cứu không có lập trình thực nghiệm, và 13 buổi là lộ trình trong nước. Số buổi thật được chốt ở buổi khởi động dựa trên tình trạng nghiên cứu của bạn, và một dự án đến với dữ liệu sạch cùng phê duyệt đạo đức sẵn có sẽ cần ít buổi hơn một dự án bắt đầu từ ý tưởng.
Nếu bài bị từ chối thì sao?
Khi bị từ chối, dự án quay lại giai đoạn 5 để nhắm tạp chí kế tiếp, lấy từ chính danh sách rút gọn đã dựng ở bước chọn tạp chí dựa trên phạm vi bao phủ của Scopus và Web of Science. Nhận xét của người phản biện trong một lần từ chối là chất liệu dùng được cho lần nộp sau, đúng tinh thần cách trả lời phản biện mà Noble (2017) trình bày, nên các buổi trả lời phản biện vẫn có giá trị ngay cả khi quyết định là từ chối.
Ai đứng tên tác giả?
Người đứng tên tác giả là bạn. Quyền tác giả theo tiêu chí mà tạp chí mục tiêu áp dụng, phổ biến nhất là khung của International Committee of Medical Journal Editors (ICMJE, n.d.), và với phần lớn tạp chí quốc tế, khung này đòi đóng góp đáng kể vào nghiên cứu, tham gia soạn hoặc sửa bản thảo, và chịu trách nhiệm về kết quả. Một cố vấn góp ý về phương pháp hay cấu trúc không đáp ứng các tiêu chí đó và không phải tác giả, một phân định mà Committee on Publication Ethics (COPE, n.d.) coi là vấn đề liêm chính nghiên cứu cốt lõi chứ không phải thủ tục.
Lên kế hoạch dự án công bố cùng cố vấn
Dịch vụ Cố vấn Công bố của MAAS có một buổi tư vấn miễn phí, trong đó cố vấn đọc nghiên cứu hoặc bản thảo của bạn, đưa ra đánh giá thực tế về phân vị, và chỉ ra dự án của bạn thực sự bắt đầu từ giai đoạn nào trong 5 giai đoạn. Bài báo vẫn do bạn viết và đứng tên.
Đặt lịch tư vấn Cố vấn Công bố →
Bài liên quan
- Nhà nghiên cứu Việt Nam công bố trên tạp chí Scopus Q1 và Q2 bằng cách nào?: cẩm nang Q1 và Q2 rộng hơn mà lộ trình này nằm bên trong
- Làm sao chọn đúng tạp chí Scopus cho bài báo của bạn?: bài toán ghép cặp trong giai đoạn 5
- Vòng phản biện của một tạp chí Scopus mất bao lâu?: đồng hồ của tạp chí, nói chi tiết
- Trả lời quyết định major revision từ tạp chí Scopus thế nào?: vòng chỉnh sửa, đi qua từng bước
- Dịch vụ Cố vấn Công bố: cách xác định phạm vi một dự án cố vấn
- Trung tâm tài nguyên Công bố Scopus: mẫu, danh sách kiểm và danh mục nên đọc
References
- Annesley, T. M. (2011). Top 10 tips for responding to reviewer and editor comments. Clinical Chemistry, 57(4), 551–554. https://doi.org/10.1373/clinchem.2011.162388
- Björk, B.-C., & Solomon, D. (2013). The publishing delay in scholarly peer-reviewed journals. Journal of Informetrics, 7(4), 914–923. https://doi.org/10.1016/j.joi.2013.09.001
- Committee on Publication Ethics [COPE]. (n.d.). Core practices. Retrieved August 14, 2026, from https://publicationethics.org/core-practices
- Elsevier. (n.d.). Journal selection. Retrieved August 22, 2026, from https://www.elsevier.com/publishing/publish-in-a-journal/journal-selection
- Huisman, J., & Smits, J. (2017). Duration and quality of the peer review process: The author's perspective. Scientometrics, 113(2), 633–650. https://doi.org/10.1007/s11192-017-2310-5
- International Committee of Medical Journal Editors [ICMJE]. (n.d.). Defining the role of authors and contributors. Retrieved August 14, 2026, from https://www.icmje.org/recommendations/browse/roles-and-responsibilities/defining-the-role-of-authors-and-contributors.html
- Noble, W. S. (2017). Ten simple rules for writing a response to reviewers. PLOS Computational Biology, 13(10), Article e1005730. https://doi.org/10.1371/journal.pcbi.1005730
- SciRev. (n.d.). Duration of the first review round. Retrieved August 14, 2026, from https://scirev.org/analyses/first-round/
- Springer Nature. (n.d.). Editorial process after submission. Retrieved August 14, 2026, from https://support.springernature.com/en/support/solutions/articles/6000251301-editorial-process-after-submission

