Skip to content
Quay lại BlogGeneral

MKTG3120: vì sao lời khuyên "nuôi lòng trung thành" không trụ được?

17 phút đọc3,303 từ

Có một câu xuất hiện trong rất nhiều bài báo cáo về thương hiệu ở bậc cử nhân, thường nằm ngay chỗ khuyến nghị: thương hiệu này nhỏ, nên nó cần tập trung nuôi lòng trung thành ở nhóm khách hiện có thay vì chạy theo khách mới.

Có một câu xuất hiện trong rất nhiều bài báo cáo về thương hiệu ở bậc cử nhân, thường nằm ngay chỗ khuyến nghị: thương hiệu này nhỏ, nên nó cần tập trung nuôi lòng trung thành ở nhóm khách hiện có thay vì chạy theo khách mới. Nghe rất thận trọng. Nhưng đó cũng đúng là khuyến nghị mà dòng nghiên cứu thực nghiệm về thương hiệu đã dành ba mươi lăm năm để bác lại, và ở một môn có chuẩn đầu ra thứ tư là thực hiện kiểm toán thương hiệu, viết câu đó ra mà không chất vấn nó thì chính bạn đang cho người chấm biết mình đọc tới đâu.

Ghi chú về mã môn: bài này viết về môn của University of Sydney. Mã MKTG 3120 còn tồn tại ở vài trường Bắc Mỹ nhưng gắn với môn marketing nhập môn chứ không phải thương hiệu, nên bạn hãy đối chiếu tên môn trong hồ sơ đăng ký của mình trước.

Tác giả: Đội ngũ biên tập MAAS · Hiệu đính bởi cố vấn cấp cao ngành Marketing (Tiến sĩ, Marketing)
Cập nhật lần cuối: 14/08/2026
Chuyên mục: mẹo viết bài


Môn học được cấu trúc thế nào?

Trả lời trực tiếp: MKTG3120 Building and Managing Brands là môn bậc cử nhân trị giá 6 tín chỉ thuộc Business School của University of Sydney, giảng dạy ở học kỳ 2 tại cơ sở Camperdown/Darlington, với môn tiên quyết là MKTG1001 hoặc SIEN1000. Phần mô tả chính thức coi tài sản thương hiệu là tài sản vô hình quan trọng nhất của một tổ chức, và dựng môn học quanh chuyện thương hiệu được tạo ra, được định vị, được phát triển và được duy trì như thế nào.

Bằng chứng: Trang thông tin môn học liệt kê bốn chuẩn đầu ra, và chuẩn thứ tư mới là thứ quyết định bạn nên viết ra sao. Nó yêu cầu bạn vận dụng các phương pháp, quy trình và công cụ sẵn có để thực hiện một cuộc kiểm toán thương hiệu nhằm tìm ra các nguồn tạo nên tài sản thương hiệu. Từ khoá nằm ở chữ nguồn. Một bài kiểm toán kết luận rằng thương hiệu này mạnh thì mới chỉ đưa ra một phán quyết, còn một bài chỉ ra sức mạnh ấy đến từ đâu, và do đó điều gì sẽ phá hỏng nó, mới là một bài chẩn đoán. Ba chuẩn đầu ra còn lại nói về các bước xây dựng thương hiệu, về chuyện vì sao chiến lược thương hiệu định hướng cho chiến lược kinh doanh, và về việc tích hợp các vấn đề chiến lược khi tạo mới, làm mới và duy trì một danh mục thương hiệu.

Ví dụ: Một bạn sinh viên kiểm toán một thương hiệu đồ uống quen thuộc và kết luận rằng thương hiệu này có mức nhận biết cao cùng những liên tưởng tích cực. Cả hai khẳng định đều đúng và đều không dùng được, bởi chẳng có gì rút ra từ chúng. Bài không bao giờ gọi tên được liên tưởng nào thật sự tạo ra sức nặng trong một quyết định mua, nên phần khuyến nghị lẽ ra có thể viết mà chẳng cần cuộc kiểm toán nào.

Các đầu bài đánh giá và trọng số được công bố trong đề cương môn trước khi bắt đầu giảng dạy và có thay đổi giữa các đợt mở lớp, nên bạn hãy đối chiếu với đề cương của chính học kỳ mình học thay vì tin vào con số truyền lại từ khoá trước.


Một cuộc kiểm toán thương hiệu thật ra đòi hỏi những gì?

Trả lời trực tiếp: Đòi hỏi bằng chứng về thứ nằm trong đầu khách hàng, thu thập từ chính khách hàng chứ không phải từ cách bạn đọc quảng cáo của thương hiệu.

Bằng chứng: Keller (1993) định nghĩa tài sản thương hiệu dựa trên khách hàng là hiệu ứng khác biệt mà kiến thức về thương hiệu tác động lên phản ứng của người tiêu dùng trước hoạt động marketing của thương hiệu đó, và định nghĩa này kèm theo một chỉ dẫn về phương pháp mà sinh viên hay bỏ sót. Nếu tài sản thương hiệu nằm trong kiến thức mà người tiêu dùng nắm giữ, thì nguyên liệu thô của cuộc kiểm toán là trí nhớ người tiêu dùng, không phải các hoạt động truyền thông của thương hiệu. Đọc một chiến dịch rồi suy ra rằng người tiêu dùng hẳn phải liên tưởng thế này thế kia là làm ngược chiều bằng chứng. Cách đó mô tả điều người làm marketing muốn đạt được, trong khi đó lại đúng là thứ mà một cuộc kiểm toán sinh ra để kiểm chứng.

Bằng chứng lấy từ đâu Nó chứng minh được điều gì
Quảng cáo và website của chính thương hiệu Điều thương hiệu đang muốn tuyên bố
Bình luận ngành và bài báo đưa tin Cách báo chí trong ngành đọc thương hiệu này
Dữ liệu về mức nhớ lại, nhận ra và liên tưởng của người tiêu dùng Thứ người tiêu dùng thật sự lưu trong trí nhớ, và đó mới là tài sản thương hiệu

Ví dụ: Hai bài kiểm toán cùng một chuỗi bán lẻ cho ra kết luận trái ngược nhau về định vị. Bài thứ nhất đọc chiến dịch đang chạy rồi báo cáo rằng đây là định vị cao cấp, dẫn dắt bằng thiết kế. Bài thứ hai đi hỏi một mẫu nhỏ xem điều gì hiện lên trong đầu họ đầu tiên, và thấy sự tiện lợi cùng vị trí cửa hàng áp đảo, còn thiết kế thì gần như không ai nhắc. Bài thứ hai giá trị hơn, đồng thời cũng khó chịu hơn, bởi nó hàm ý rằng chiến dịch chưa đi tới nơi.


Vì sao "nuôi lòng trung thành" không trụ được khi làm khuyến nghị?

Trả lời trực tiếp: Bởi vì thương hiệu nhỏ không có một vấn đề về lòng trung thành tách rời khỏi vấn đề về quy mô của nó. Mức trung thành thấp hơn là hệ quả của tệp khách nhỏ hơn, chứ không phải một điểm yếu độc lập mà chiến dịch giữ chân khách có thể chữa được.

Bằng chứng: Ehrenberg, Goodhardt và Barwise (1990) trình bày quy luật hình phạt kép qua nhiều lần phân tích dữ liệu mua hàng: thương hiệu có thị phần nhỏ hơn thì vừa có ít người mua hơn, vừa được chính nhóm người mua đó mua với tần suất thấp hơn đôi chút. Hai hình phạt luôn đi cùng nhau, và đó là lý do quy luật này mang tên hình phạt kép. Nó lặp lại đủ đều đặn qua nhiều ngành hàng để dùng làm mốc chuẩn chứ không phải một phát hiện lẻ tẻ. Hệ quả cho phần khuyến nghị của bạn rất trực tiếp. Một thương hiệu nhỏ có tỷ lệ mua lại thấp hơn mức trung bình thì không phải đang hoạt động kém, mà đang cư xử đúng như cách một thương hiệu cỡ đó vẫn cư xử. Đề xuất một chương trình khách hàng thân thiết để chữa điều này là kê thuốc cho một triệu chứng của quy mô.

Điều đó không có nghĩa việc chăm sóc lòng trung thành chẳng bao giờ chính đáng. Nó có nghĩa lý do bạn đưa ra phải trụ được trước mốc chuẩn. Nếu tỷ lệ mua lại của một thương hiệu thấp hơn mức mà quy luật hình phạt kép dự đoán cho thị phần đó, bạn đã tìm ra một bất thường thật sự đáng đào sâu, và nói ra được điều này chứng minh chuẩn đầu ra về phân tích tốt hơn nhiều so với bất kỳ khuyến nghị nào đưa ra mà không có phép so sánh.

Ví dụ: Một bạn sinh viên so sánh hai thương hiệu cạnh tranh, thấy thương hiệu nhỏ hơn có mức mua lại yếu hơn nên đề xuất làm chương trình khách hàng thân thiết. Khi bị hỏi rằng ở mức thị phần đó thì tỷ lệ mua lại bao nhiêu mới là bình thường, bạn ấy chưa từng đặt câu hỏi này. Thêm mốc chuẩn vào đã làm đổi cả kết luận của bài, bởi hoá ra thương hiệu nhỏ hơn đang chạy nhỉnh hơn mức dự đoán một chút, và khoảng trống thật nằm ở chỗ có bao nhiêu người từng cân nhắc tới nó.


Mức nổi bật trong trí nhớ khác gì với thái độ tích cực?

Trả lời trực tiếp: Mức nổi bật là xu hướng một thương hiệu hiện lên trong đầu vào đúng tình huống mua. Một thương hiệu hoàn toàn có thể được yêu thích mà vẫn thua, chỉ vì nó không được nhớ ra vào thời điểm người ta chọn.

Bằng chứng: Romaniuk và Sharp (2004) lập luận rằng cần định nghĩa lại mức nổi bật của thương hiệu, kéo nó ra khỏi các thước đo về độ mạnh của thái độ và đưa về phía số lượng cùng chất lượng các cấu trúc trí nhớ nối thương hiệu với những tình huống mua hàng. Sự phân biệt này quan trọng với một cuộc kiểm toán vì hai thứ đó được đo theo hai cách khác nhau. Câu hỏi về thái độ hỏi xem người ta có đánh giá thương hiệu tốt hay không, còn mức nổi bật hỏi xem thương hiệu được nhớ ra dễ tới đâu và trong bao nhiêu tình huống. Một thương hiệu có điểm đánh giá ấm áp trong số ít người nghĩ tới nó vẫn có thể đang mắc vấn đề về khả năng được nhớ ra, mà một khảo sát thái độ thì về mặt cấu trúc không phát hiện nổi.

Ví dụ: Một bài kiểm toán thương hiệu thực phẩm địa phương ghi nhận điểm thiện cảm cao và đề xuất củng cố định vị cảm xúc. Con số khó xử nằm ngay trong cùng bộ dữ liệu ấy: chỉ một phần nhỏ người trả lời tự nhớ ra tên thương hiệu này cho bất kỳ dịp mua nào mà không cần gợi ý. Điểm thiện cảm cao là vì nhóm người nghĩ tới thương hiệu này vốn đã tự chọn lọc rồi. Nút thắt nằm ở khả năng được nhớ ra, còn khuyến nghị lại đi chữa phần tình cảm.


Khi nào mở rộng thương hiệu có lợi, khi nào nó làm rò rỉ giá trị?

Trả lời trực tiếp: Có lợi khi người tiêu dùng cảm nhận được sự phù hợp giữa thương hiệu mẹ và ngành hàng mới. Chính mức phù hợp quyết định phần mở rộng sẽ thừa hưởng tài sản của thương hiệu mẹ hay chỉ mượn tạm cái tên.

Bằng chứng: Aaker và Keller (1990) kiểm nghiệm cách người tiêu dùng đánh giá các phần mở rộng thương hiệu và thấy đánh giá phụ thuộc vào mức phù hợp cảm nhận được giữa nhóm sản phẩm gốc với nhóm sản phẩm mở rộng, tương tác với chất lượng cảm nhận của thương hiệu mẹ, và rằng chất lượng cao một mình không đủ đưa một phần mở rộng vào ngành hàng ít phù hợp. Phát hiện này cho phần khuyến nghị về danh mục của bạn một tiêu chí kiểm được. Thay vì khẳng định rằng thương hiệu mạnh thì mở rộng được, bạn nêu rõ phần mở rộng của mình dựa trên kiểu phù hợp nào, bằng chứng có ủng hộ điều đó không, và nếu mức phù hợp yếu hơn giả định thì hỏng ở đâu.

Ví dụ: Một nhóm đề xuất mở rộng thương hiệu cà phê cao cấp sang đồ ăn vặt đóng gói và biện minh bằng chất lượng của thương hiệu mẹ. Đề xuất chỉ trụ được sau khi họ chỉ rõ cơ sở của sự phù hợp, ở đây là chung một dịp tiêu dùng chứ không phải chung một nhóm sản phẩm, đồng thời thừa nhận rằng lập luận sẽ sụp nếu người tiêu dùng ghi nhớ thương hiệu theo loại sản phẩm thay vì theo dịp dùng. Khuyến nghị vẫn y nguyên. Nó chỉ trở nên bảo vệ được.


Sinh viên hay nhầm chiến lược thương hiệu với chiến thuật chiến dịch ở đâu?

Trả lời trực tiếp: Ở phần khuyến nghị, lúc một tập hợp hoạt động được trình bày như thể nó là chiến lược. Chuẩn đầu ra thứ hai yêu cầu bạn giải thích vì sao chiến lược thương hiệu định hướng cho chiến lược kinh doanh, đó là một khẳng định về thứ bậc, và chiến thuật không đáp ứng nổi.

Bằng chứng: Một chiến lược thương hiệu xác định thương hiệu được kỳ vọng mang ý nghĩa gì, với ai, và đặt cạnh những lựa chọn thay thế nào, nên nó luôn hàm ý những thứ thương hiệu sẽ không làm. Một kế hoạch chiến dịch xác định sẽ triển khai cái gì, vào lúc nào, trên kênh nào. Cả hai đều có chỗ trong bài, chúng chỉ trả lời hai câu hỏi khác nhau. Phép thử chẩn đoán là tự hỏi liệu đối thủ gần nhất có thể bê nguyên khuyến nghị của bạn về áp dụng mà không mâu thuẫn gì không. Nếu có thể, thì thứ bạn viết là hoạt động chứ không phải vị thế.

Ví dụ: Một bài đề xuất tăng hiện diện trên mạng xã hội, hợp tác với người có ảnh hưởng, và làm mới bao bì. Đối thủ nào cũng làm được cả ba. Khi bị hỏi rằng đổi lại thì thương hiệu chọn không trở thành cái gì, bạn sinh viên gọi tên được một phân khúc mà thương hiệu sẽ thôi theo đuổi, và chính điều đó biến ba chiến thuật cũ thành cách thể hiện một vị thế thay vì thành thứ thay thế cho vị thế.


Du học sinh hay mất điểm ở đâu nhất?

Trả lời trực tiếp: Ở khoảng cách giữa trình bày một khung lý thuyết với vận dụng nó, và ở thói quen trích dẫn coi chương giáo trình là nguồn chính thức cho các khẳng định thực nghiệm.

Bằng chứng: Điểm môn thương hiệu năm ba dồn nhiều vào khả năng vận dụng. Một mục giải thích tài sản thương hiệu dựa trên khách hàng nghĩa là gì thì chứng minh bạn đã đọc, còn một mục áp khái niệm ấy vào để tạo ra một phát hiện về chính thương hiệu bạn chọn mới chứng minh được chuẩn đầu ra. Chuyện trích dẫn làm vấn đề nặng thêm. Nhiều khẳng định mạnh nhất mà bạn có thể dùng, gồm cả mốc chuẩn hình phạt kép lẫn sự phân biệt về mức nổi bật, đều bắt nguồn từ bài báo khoa học, nên trích lại phần tóm tắt trong giáo trình sẽ để lộ mức đọc nông hơn so với trích thẳng công trình gốc. Chỗ nào một khẳng định thực nghiệm gánh sức nặng trong lập luận thì chỗ đó nên trích đúng nghiên cứu đã tạo ra nó.

Ví dụ: Bản nháp của một bạn sinh viên gán quy luật hình phạt kép cho một cuốn giáo trình marketing. Thay trích dẫn đó bằng bài báo gốc, kèm thêm một câu về bộ dữ liệu mà nó dựa vào, chẳng làm đổi gì trong lập luận nhưng kéo cả tiêu chí trích dẫn lẫn tiêu chí phân tích đi lên cùng lúc.


Cố vấn MAAS thật sự làm gì ở một môn như thế này?

Phần việc cố vấn MAAS làm ở đây phần lớn nằm trước khâu viết. Trước khi bạn chốt thiết kế cho cuộc kiểm toán, sẽ có người hỏi rằng bằng chứng bạn định thu thập có phân biệt nổi giữa một vấn đề về mức nổi bật với một vấn đề về thái độ hay không, bởi phần lớn bài kiểm toán của sinh viên không phân biệt nổi và chỉ phát hiện ra điều đó lúc đã ngồi viết khuyến nghị. Trong lúc bạn viết, câu hỏi chuyển sang mốc chuẩn: ở quy mô này thì mức bình thường trông ra sao, và phát hiện của bạn có trụ được trước phép so sánh đó không. Tới gần cuối, trọng tâm dời sang chuyện từng khuyến nghị có thật sự rút ra từ dữ liệu của chính bạn hay không. Bằng chứng là bạn thu, bài là bạn viết, còn cố vấn lo cho bài trả lời được khi người chấm gặng hỏi.

Nếu bạn muốn có người đọc lại thiết kế kiểm toán trước lúc bắt đầu thu dữ liệu, gửi bên mình đề bài bạn đang làm theo.


Câu hỏi thường gặp

Mình có cần học MKTG1001 trước MKTG3120 không?
Trang thông tin môn học ghi môn tiên quyết là MKTG1001 hoặc SIEN1000. Cấu trúc môn tiên quyết có được điều chỉnh giữa các đợt mở lớp, nên bạn hãy đối chiếu với sổ tay môn học của đúng năm mình học.

MKTG3120 có mở ở học kỳ 1 không?
Thông tin công bố hiện ghi môn này giảng dạy ở học kỳ 2 tại cơ sở Camperdown/Darlington. Bạn nên đối chiếu với thời khóa biểu hiện hành trước khi sắp xếp thứ tự đăng ký môn.

Mình có được kiểm toán thương hiệu nơi mình đang làm hoặc thương hiệu mình hay dùng không?
Sự quen thuộc giúp bạn tiếp cận dữ liệu dễ hơn nhưng lại hại cho tính khách quan, và người chấm nhận ra ngay khi bài kiểm toán đọc lên như bài bênh vực. Nếu chọn thương hiệu mình rành, bạn hãy nói rõ mối quan hệ đó từ sớm và chủ động đi tìm bằng chứng có thể làm khó chính quan điểm sẵn có của mình.

Một cuộc kiểm toán thương hiệu cần bao nhiêu dữ liệu sơ cấp?
Đủ để các khẳng định của bạn về trí nhớ người tiêu dùng đến từ chính người tiêu dùng, và được báo cáo kèm giới hạn. Một mẫu nhỏ được mô tả trung thực chống đỡ cho lập luận tốt hơn là bình luận thứ cấp trình bày như thể nó đã đo được điều gì.

Mình có được phản bác một khung lý thuyết mà môn học dạy không?
Được, khi sự phản bác đi từ bằng chứng chứ không phải từ lời khẳng định suông. Dòng nghiên cứu về thương hiệu có những tranh luận thật, và cho thấy bạn biết một khung đang bị tranh cãi ở chỗ nào là dấu hiệu của chiều sâu chứ không phải rủi ro, miễn là bạn trình bày trung thực cả hai phía.


Bài liên quan


References

Aaker, D. A., & Keller, K. L. (1990). Consumer evaluations of brand extensions. Journal of Marketing, 54(1), 27–41. https://doi.org/10.1177/002224299005400102

Ehrenberg, A. S. C., Goodhardt, G. J., & Barwise, T. P. (1990). Double jeopardy revisited. Journal of Marketing, 54(3), 82–91. https://doi.org/10.1177/002224299005400307

Keller, K. L. (1993). Conceptualizing, measuring, and managing customer-based brand equity. Journal of Marketing, 57(1), 1–22. https://doi.org/10.1177/002224299305700101

Romaniuk, J., & Sharp, B. (2004). Conceptualizing and measuring brand salience. Marketing Theory, 4(4), 327–342. https://doi.org/10.1177/1470593104047643

Tools & resources

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.