Trả lời thẳng: Muốn làm tốt assignment MKTG1492 Marketing and Communication của RMIT, và cả mã song hành MKTG1493, bạn cần dựng một kế hoạch truyền thông trong đó mọi lựa chọn kênh đều phục vụ đúng một thông điệp và đúng một tệp khán giả. Đừng liệt kê chiến thuật. Hãy nêu rõ chiến dịch phải khiến khán giả nghĩ gì, cảm thấy gì hoặc làm gì, vì đó là thứ người chấm dùng để đánh giá kế hoạch.
Phần lớn sinh viên gặp khó ở môn marketing này không thiếu ý tưởng. Họ chưa bao giờ nêu rõ điều chiến dịch cần thay đổi ở khán giả, nên kế hoạch không có gì để người chấm xét là đúng hay sai. Bài viết này đi qua rubric MKTG1492 thật sự thưởng điểm cho điều gì, cách đặt mục tiêu truyền thông đúng giai đoạn, cách chọn và lý giải từng kênh, cách dựng một kế hoạch đo lường có trách nhiệm, và ba lỗi làm mất điểm nhiều nhất. Nội dung đi theo bảy câu hỏi mà sinh viên Việt ở RMIT hay hỏi cố vấn MAAS nhất trước khi bắt đầu môn này.
Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật lần cuối: 2026-07-20
Chuyên mục: marketing
MKTG1492 / MKTG1493 Marketing and Communication học về gì?
Trả lời thẳng: MKTG1492 là môn marketing của RMIT về hoạch định và đánh giá truyền thông marketing tích hợp, còn MKTG1493 là mã song song cho khoá hoặc cơ sở khác, với nội dung phần lớn như nhau. Môn gồm quy trình hoạch định truyền thông, thấu hiểu khán giả, cơ cấu kênh paid, owned và earned, chiến lược sáng tạo, và đo lường theo mục tiêu truyền thông.
Điều môn chấm là một kế hoạch mà các phần ăn khớp với nhau, chứ không phải một danh mục kênh. Paid là kênh bạn trả tiền để có (quảng cáo), owned là kênh thương hiệu tự sở hữu (website, fanpage, email), còn earned là sự chú ý bạn tự giành được (báo chí, lượt chia sẻ). Điều được chấm là cách các kênh ấy cùng phục vụ một kế hoạch.
Khung giảng dạy của môn dựa trên nền tài liệu IMC (integrated marketing communications, tức truyền thông marketing tích hợp) đã được thiết lập. Nền đó gồm nguyên tắc tích hợp do Schultz và cộng sự đề ra, lối tư duy thang bậc hiệu ứng (hierarchy of effects) để đặt mục tiêu truyền thông đúng giai đoạn, mô hình tài sản thương hiệu dựa trên khách hàng của Keller cho điều mà truyền thông tích luỹ theo thời gian, và bằng chứng của viện Ehrenberg-Bass về mức sẵn có trong tâm trí và trên kệ hàng (mental and physical availability). Nhiều môn học hiện nay dùng bằng chứng này để chất vấn lối hoạch định chiến dịch đặt lòng trung thành lên đầu.
Một nữ sinh viên Việt ở RMIT Việt Nam từng tìm tới MAAS với một kế hoạch liệt kê sáu kênh kèm một bảng chia ngân sách. Cố vấn hỏi bạn ấy chiến dịch phải cài đúng một ý nghĩ nào vào tâm trí khán giả. Khi viết được thông điệp trong một câu, bạn ấy tự cắt hai kênh vì chúng không chuyển tải được thông điệp đó, và bài đi từ một bản nháp mức Pass lên Distinction.
Assignment MKTG1492 thường gồm những bài đánh giá nào?
Trả lời thẳng: Các môn truyền thông marketing ở cấp độ này thường được đánh giá bằng một kế hoạch truyền thông cá nhân hoặc nhóm cho một thương hiệu thật hoặc thương hiệu cho sẵn. Kế hoạch thường chia giai đoạn, bắt đầu từ phân tích tình hình và thấu hiểu khán giả, rồi tới chiến lược và sáng tạo, rồi tới truyền thông và đo lường, và thường kèm một buổi pitch hoặc thuyết trình.
Trong kế hoạch, bạn thường phải xác định khán giả và mục tiêu, phát triển thông điệp cùng nền tảng sáng tạo (creative platform), chọn và lý giải các kênh, rồi nêu rõ thành công sẽ được đo bằng gì. Hãy luôn xác nhận đề bài, số từ và trọng số trong Canvas của chính bạn, vì cấu trúc bài đánh giá thay đổi theo học kỳ, theo mã môn (MKTG1492 hay MKTG1493) và theo cơ sở.
Bài đánh giá của khối kinh doanh RMIT chấm theo tiêu chí (criterion-referenced), nghĩa là điểm được cho theo các tiêu chí rubric đã công bố chứ không xếp hạng bạn với các bạn cùng lớp. Chính sách Assessment của RMIT quy định cách chấm này, nên hiểu rõ rubric quan trọng hơn nhiều so với số chiến thuật bạn đề xuất.
Chẳng hạn, một nam sinh viên Việt ở RMIT dành nửa bản kế hoạch 2.000 từ cho phân tích tình hình và rà soát đối thủ. Cố vấn MAAS gợi ý bạn ấy rút phần này còn ba phát hiện thật sự định hình thông điệp, rồi dồn số từ sang nền tảng sáng tạo và kế hoạch đo lường. Với cùng thương hiệu và cùng số từ, bản mà bạn ấy tự sửa đạt mức Distinction rõ ràng.
MKTG1492 chấm điểm thế nào, rubric thật sự thưởng cho điều gì?
Trả lời thẳng: Rubric môn truyền thông thưởng bốn thứ, đại thể theo thứ tự: tệp khán giả rõ ràng cùng mục tiêu nêu điều cần thay đổi, kèm điểm gốc nếu có, một thông điệp duy nhất, lựa chọn kênh có lý lẽ, rồi tính tích hợp, ngân sách thực tế, đo lường và trích dẫn Harvard. Danh sách chiến thuật phong phú mà thiếu thông điệp là kiểu bài điển hình dừng ở mức Credit.
Thông điệp duy nhất là điều cả kế hoạch được dựng lên để chuyển tải. Điều cần thay đổi có thể là mức nhận biết, mức cân nhắc hay một hành vi, và điểm gốc (baseline) là con số hiện tại để sau này so sánh. Lựa chọn kênh phải được lý giải bằng hành vi của khán giả và bằng những gì từng kênh thật sự làm được, còn văn phong học thuật vẫn nằm trong tiêu chí cuối cùng.
Rubric khối kinh doanh RMIT chia thành các dải tiêu chí Pass, Credit, Distinction và High Distinction. Bước nhảy từ Credit lên Distinction gần như luôn được xác định bằng hai chữ "justified" và "integrated", tức lựa chọn kênh có lý lẽ và một kế hoạch mà các phần củng cố lẫn nhau, chứ không phải bằng việc thêm kênh hay thêm ý tưởng sáng tạo.
Một cố vấn MAAS đọc kế hoạch của một sinh viên Việt với đúng một phép thử: mỗi chiến thuật chuyển tải dòng nào của thông điệp và tới ai. Một nửa số chiến thuật không có câu trả lời. Sau khi bạn ấy tự cắt bớt và viết lại, cùng bản kế hoạch đó đi lên trọn hai dải rubric.
Nên dùng khung lý thuyết nào cho MKTG1492?
Trả lời thẳng: Bạn nên dùng một nhóm nhỏ các khung thực sự gánh được kế hoạch. Một bộ khung dùng được gồm mô hình hoạch định truyền thông, mô hình thang bậc hiệu ứng, khung paid, owned, earned, một bản creative brief chốt đúng một luận điểm, và một khung đo lường gắn mỗi chỉ số với mục tiêu. Mỗi khung đều phải làm thay đổi điều gì đó trong kế hoạch.
Mô hình hoạch định truyền thông giúp bạn đi theo trình tự từ mục tiêu tới đánh giá. Thang bậc hiệu ứng giúp đặt mục tiêu đúng giai đoạn, vì một chiến dịch cho thương hiệu chưa ai biết tới thì không thể bị chấm theo tỷ lệ chuyển đổi. Khung paid, owned, earned giúp phân vai trò cho từng kênh chứ không chỉ chia ngân sách, còn creative brief chốt luận điểm duy nhất (single-minded proposition) trước khi bạn chọn bất kỳ chiến thuật nào.

| Khung | Cho bạn điều gì | Dùng để quyết định |
|---|---|---|
| Mô hình hoạch định truyền thông | Một trình tự đi từ mục tiêu qua chiến lược tới đánh giá | Bước tiếp theo cần quyết định là gì và theo thứ tự nào |
| Thang bậc hiệu ứng | Khán giả đang ở giai đoạn nào, gồm biết tới, cân nhắc hay hành động | Mục tiêu nên là độ phủ, mức cân nhắc hay phản hồi |
| Paid, owned, earned | Vai trò của từng nhóm kênh, không chỉ tỷ trọng ngân sách | Kênh nào gánh thông điệp và kênh nào hỗ trợ |
| Creative brief và luận điểm duy nhất | Đúng một ý nghĩ mà chiến dịch phải cài được | Một chiến thuật có nên nằm trong kế hoạch hay không |
| Đo lường gắn với mục tiêu | Các chỉ số tương ứng với mục tiêu đã nêu | Nên báo cáo con số nào và bỏ những chỉ số hào nhoáng nào |
Các khung này là nền tảng được người chấm công nhận. Schultz, Tannenbaum và Lauterborn (1993) là nguồn cho tính tích hợp, Keller (1993) cho tài sản thương hiệu được xây bằng truyền thông, Sharp (2010) cho phản biện dựa trên bằng chứng đối với lối hoạch định lấy lòng trung thành làm trung tâm, còn Batra và Keller (2016) cho một mô hình đương đại tích hợp truyền thông truyền thống với truyền thông số. Batra và Keller (2016) dựng mô hình đó để dùng được trong thực tế chứ không chỉ để mô tả, vì nó được "designed to improve the effectiveness and efficiency of integrated marketing communication programs" (Batra & Keller, 2016, p. 122). Nói cách khác, mô hình nhằm làm các chương trình truyền thông tích hợp hiệu quả hơn và đỡ tốn kém hơn, nên bảng trên hỏi mỗi khung giúp bạn quyết định điều gì chứ không chỉ hỏi nó giải thích điều gì.
Cần lưu ý rằng các mô hình thang bậc hiệu ứng là sự đơn giản hoá và vẫn còn gây tranh cãi. Thừa nhận điều đó mà vẫn dùng một mô hình để đặt mục tiêu đúng giai đoạn là một bước lập luận ở mức Distinction.
Một nam sinh viên Việt ở RMIT từng đặt mục tiêu chuyển đổi doanh số cho một thương hiệu gần như chưa có mức nhận biết nào trong phân khúc mục tiêu. Cố vấn MAAS gợi ý bạn ấy dùng thang bậc hiệu ứng để đặt lại mục tiêu về mức nhận biết có gợi nhắc và mức cân nhắc, còn thước đo chuyển đổi thì để dành cho một giai đoạn sau. Khi mục tiêu đã được sửa đúng, mọi lựa chọn phía sau trong kế hoạch đều bảo vệ được.
Nên cấu trúc kế hoạch MKTG1492 thế nào?
Trả lời thẳng: Bạn nên dùng cấu trúc dẫn dắt bằng thông điệp, gồm phân tích tình hình ngắn, tệp khán giả mục tiêu, mục tiêu truyền thông, thông điệp gói trong một câu, kế hoạch kênh có lý lẽ cho từng kênh, ngân sách và lịch chạy, rồi phần đo lường gắn với mục tiêu. Phần giới thiệu thương hiệu nên dưới 10% số từ, còn lịch truyền thông đầy đủ nên nằm trong phụ lục.
Phân tích tình hình chỉ nên giữ những phát hiện thật sự định hình phần truyền thông, với phần giới thiệu thương hiệu gói trong chưa tới 10% số từ. Tệp khán giả cần được định nghĩa bằng hành vi và thói quen tiếp nhận truyền thông chứ không chỉ bằng nhân khẩu học, còn mục tiêu truyền thông cần kèm điểm gốc và khung thời gian. Bản mô phỏng sáng tạo cũng nên đặt ở phụ lục, để thân bài dành chỗ cho lập luận.
Rubric chấm theo tiêu chí đặt trọng số cho "đặt mục tiêu", "chiến lược thông điệp" và "lý giải lựa chọn kênh" cao hơn hẳn "phân tích tình hình". Vì vậy, chia số từ theo đúng trọng số rubric là cách đáng tin nhất để nâng điểm mà không cần thêm chiến thuật.
Một nam sinh viên Việt ở RMIT từng nộp kế hoạch có lịch truyền thông rất chi tiết nhưng phần đo lường chỉ ghi "theo dõi tương tác và độ phủ". Cố vấn MAAS gợi ý bạn ấy thay phần này bằng ba chỉ số gắn với mục tiêu đã nêu, mỗi chỉ số có điểm gốc và mức đích. Cùng bản kế hoạch đó đi từ ngưỡng Credit lên Distinction, vì bạn ấy đã biến nó thành một kế hoạch có thể giải trình được kết quả.
Những lỗi nào hay làm mất điểm nhất ở MKTG1492?
Trả lời thẳng: Qua quá trình coaching các môn marketing, MAAS thấy ba lỗi lặp lại. Sinh viên đưa ra chiến thuật mà không có thông điệp, đặt mục tiêu sai giai đoạn mà phổ biến nhất là đòi chuyển đổi từ khán giả chưa từng nghe tới thương hiệu, và đo lường bằng chỉ số hào nhoáng không nối với mục tiêu. Sửa ba lỗi này thường nâng bản nháp lên ít nhất một bậc rubric.
Lỗi đầu tiên lộ ra khi danh sách kênh không được luận điểm nào giữ lại với nhau. Lỗi thứ hai khiến cả kế hoạch bị chấm theo một tiêu chuẩn mà chiến dịch chưa thể đạt. Lỗi thứ ba là báo cáo lượt thích, lượt hiển thị và độ phủ như thể đó là thành công, trong khi các con số ấy không gắn với mục tiêu và không có điểm gốc để so sánh.
Trong quá trình MAAS coaching các môn marketing, phản hồi của người chấm trước khi sinh viên tìm tới hỗ trợ tập trung nhiều quanh hai câu "plan not integrated" (kế hoạch chưa tích hợp) và "objectives not measurable" (mục tiêu chưa đo được). Đó cũng là hai câu hay tách một bài Credit khỏi một bài Distinction trong rubric môn truyền thông.
Một nam sinh viên Việt từng đề xuất một chiến dịch TikTok, một chuỗi bài LinkedIn và một trang quảng cáo in cho cùng một lần ra mắt sản phẩm. Cố vấn MAAS hỏi mỗi kênh nói với nhóm khán giả nào và mang thông điệp gì, và hoá ra ba kênh nhắm vào ba nhóm người khác nhau với ba điều khác nhau. Bản sửa của bạn ấy giữ hai kênh với một thông điệp và dùng phần ngân sách dôi ra để tăng tần suất, nhờ vậy tiêu chí tích hợp đi từ Credit lên Distinction.
Assignment MKTG1492 dài bao nhiêu và dùng kiểu trích dẫn nào?
Trả lời thẳng: Hãy xác nhận số từ và kiểu trích dẫn chính xác trong đề bài. Kế hoạch truyền thông ở cấp độ này thường nằm trong khoảng 2.000 đến 3.000 từ, phụ lục, lịch truyền thông và danh mục tài liệu thường không tính vào số từ, và bài dùng trích dẫn Harvard, kiểu mặc định của khối kinh doanh RMIT. Hãy giữ bài trong biên độ 10%.
Với độ dài 2.000 đến 3.000 từ, bạn nên trích lý thuyết từ bài báo khoa học và giáo trình thay vì blog của các agency. Mọi số liệu về khán giả hay truyền thông cần kèm nguồn và mốc thời gian, vì dữ liệu về thói quen tiếp nhận truyền thông cũ đi rất nhanh, và một con số lỗi thời sẽ làm yếu chính lựa chọn kênh mà nó đang được dùng để lý giải.
Khối kinh doanh RMIT dùng RMIT Harvard làm kiểu trích dẫn chuẩn, được hướng dẫn trong công cụ Easy Cite của trường. Người chấm thường trừ điểm khi bài dựa quá nhiều vào nguồn agency, khi dữ liệu khán giả không ghi thời điểm, hay khi định dạng Harvard không nhất quán, kể cả lúc kế hoạch đã tốt.
Một nam sinh viên Việt ở RMIT từng mất vài điểm vì số liệu sử dụng nền tảng lấy từ một blog marketing không ghi ngày, và trích dẫn trong bài không khớp danh mục tài liệu. Một vòng rà soát trước khi nộp của MAAS chỉ ra các chỗ hổng này trong chưa đầy một giờ, rồi bạn ấy tự tìm lại nguồn dữ liệu có ghi thời điểm và đồng bộ các mục Harvard. Ở bài kế tiếp, trích dẫn sạch giúp bạn ấy lấy lại điểm ở một tiêu chí không đòi phân tích thêm.
Câu hỏi thường gặp
MKTG1492 có khó không?
Môn này nặng về phán đoán hơn là khó về kỹ thuật. Nghĩ ra ý tưởng thì dễ, còn dựng được một kế hoạch mà mọi thành phần đều phục vụ một thông điệp và một mục tiêu đo được mới là điều rubric thật sự kiểm tra, và đó cũng là chỗ nhiều sinh viên có năng lực dừng lại ở mức Credit.
MKTG1492 và MKTG1493 khác nhau thế nào?
Đây là hai mã song song cho phần lớn cùng một nội dung Marketing and Communication, dùng cho các khoá, chương trình hoặc cơ sở khác nhau. Lý thuyết là như nhau, nhưng đề bài, trọng số và hạn nộp có thể khác, nên hãy luôn làm theo đề trong Canvas của chính bạn thay vì đề của bạn cùng lớp.
Kế hoạch nên có bao nhiêu kênh?
Thường là hai hoặc ba kênh được đầu tư cho tới nơi. Một kế hoạch dồn ngân sách để tăng tần suất trên hai kênh gần như luôn được điểm cao hơn một kế hoạch rải mỏng trên sáu kênh, và việc giải thích bạn chủ động loại kênh nào, vì sao loại, cũng mang lại điểm ở tiêu chí lý giải.
Có thể lập kế hoạch cho một thương hiệu hay thị trường Việt Nam không?
Thường là được, trừ khi đề đã ấn định thương hiệu, và cách này có thể khá hiệu quả vì bạn hiểu thói quen tiếp nhận truyền thông trong nước. Hãy lấy số liệu khán giả và nền tảng từ các nghiên cứu uy tín có ghi ngày thay vì bài đăng của agency, và nêu rõ mọi ràng buộc pháp lý hay văn hoá địa phương có ảnh hưởng tới phần sáng tạo.
MKTG1492 dùng kiểu trích dẫn nào?
RMIT Harvard là kiểu mặc định cho các môn khối kinh doanh, và áp dụng cho cả dữ liệu ngành, dữ liệu nền tảng lẫn tài liệu học thuật. Hãy xác nhận lại trong đề bài của chính bạn và dùng công cụ Easy Cite của RMIT để các mục được nhất quán.
MAAS có hỗ trợ MKTG1492 không?
Có. Hỗ trợ làm assignment và essay của MAAS đồng hành cùng bạn theo mô hình Outline, Draft, Final, gồm đặt mục tiêu đúng giai đoạn, viết một luận điểm duy nhất, lý giải cơ cấu kênh, dựng kế hoạch đo lường gắn với mục tiêu và rà soát trích dẫn trước khi nộp, với chuyên gia đúng ngành. MAAS hướng dẫn để bạn tự làm bài của mình, và MAAS không viết thay bạn.
Sẵn sàng tiếp cận MKTG1492 với một chiến lược rõ ràng?
Nếu bạn đã có ý tưởng mà chưa có kế hoạch, đó chính là lúc một chuyên gia đúng ngành giúp được nhiều nhất. Hỗ trợ làm assignment và essay của MAAS là một đối tác hỗ trợ học thuật, đồng hành cùng bạn qua Outline, Draft, Final để phần tư duy vẫn là của bạn và cấu trúc bài được chấm đúng giá trị.
Gửi đề MKTG1492 hoặc MKTG1493, MAAS sẽ ghép bạn với một chuyên gia mảng truyền thông marketing trong vòng 48 giờ khi mạng lưới đã có người phù hợp. Trong hơn 100 chuyên gia của MAAS, 23% có bằng PhD. Nếu mạng lưới chưa có người đúng ngành, MAAS mở một đợt tuyển riêng cho trường hợp của bạn, và việc này thường mất khoảng hai tuần.
Đặt lịch tư vấn MKTG1492 miễn phí 15 phút với chuyên gia MAAS →
Bài liên quan
- MKTG1294 Introduction to Advertising: hướng dẫn cách làm assignment: cho chiến lược sáng tạo và bản brief quảng cáo
- MRKT201 Advanced Marketing: hướng dẫn làm assignment: cho phần phân khúc và định vị đi trước một chiến dịch
- MKTG1419 Social Media and Mobile Marketing: hướng dẫn cách làm assignment: cho chi tiết về kênh social và mobile
- Dịch vụ MAAS Academic Mentoring: đồng hành 1:1 với cố vấn trình độ sau đại học đúng chuyên ngành của bạn
- Coaching assignment theo mã môn: hướng dẫn tổng quát cách tiếp cận assignment của bất kỳ mã môn nào cùng chuyên gia MAAS
References
- Batra, R., & Keller, K. L. (2016). Integrating marketing communications: New findings, new lessons, and new ideas. Journal of Marketing, 80(6), 122–145. https://doi.org/10.1509/jm.15.0419
- Keller, K. L. (1993). Conceptualizing, measuring, and managing customer-based brand equity. Journal of Marketing, 57(1), 1–22. https://doi.org/10.1177/002224299305700101
- Schultz, D. E., Tannenbaum, S. I., & Lauterborn, R. F. (1993). Integrated marketing communications: Putting it together and making it work. NTC Business Books.
- Sharp, B. (2010). How brands grow: What marketers don't know. Oxford University Press.
Tools & resources
- RMIT University. (n.d.). Assessment and exams. Retrieved July 20, 2026, from https://www.rmit.edu.au/students/student-essentials/assessment-and-exams
- RMIT University. (n.d.). Easy Cite referencing tool. Retrieved July 20, 2026, from https://www.rmit.edu.au/library/study/referencing
Bài viết thuộc series MAAS Journal dành cho du học sinh Việt Nam. Hỗ trợ làm assignment và essay của MAAS là một đối tác hỗ trợ học thuật, đồng hành cùng sinh viên qua mô hình Outline, Draft, Final với phản hồi phát triển từ chuyên gia đúng ngành. MAAS không viết thay sinh viên và không nộp bài thay sinh viên.

