Skip to content
Quay lại BlogMarketing

MKTG1416 Digital Marketing Strategy and Planning: làm bài capstone này thế nào?

22 phút đọc4,347 từ

Phần lớn bài MKTG1416 bị trừ điểm không phải vì có một mục viết yếu. Bài bị trừ điểm vì các mục không ăn khớp với nhau. Mục tiêu nêu ở đầu bài hứa một chuyện, kế hoạch kênh ở giữa lại phục vụ một tệp khác, còn bảng đo lường ở cuối báo cáo những con số mà về nguyên tắc không thể xác nhận hay bác bỏ được mục tiêu ban đầu. Đọc riêng từng phần thì phần nào cũng ổn. Thứ bị đứt là mạch nối giữa chúng, và capstone chính là dạng bài được thiết kế để phát hiện đúng chỗ đứt đó. Bài này trả lời bảy câu hỏi mà sinh viên Việt Nam học MKTG1416 hỏi mentor MAAS nhiều nhất.

Tác giả: Ban biên tập MAAS · Hiệu đính bởi mentor chuyên môn của MAAS
Cập nhật: 31/07/2026
Chuyên mục: marketing

Một buổi họp nhóm với biểu đồ in và máy tính xách tay bày trên bàn
Ảnh minh hoạ

MKTG1416 là môn gì, và việc nó là capstone đổi cách chấm ra sao?

Trả lời trực tiếp: MKTG1416 là mã môn RMIT của Digital Marketing Strategy and Planning, dạy tại RMIT Việt Nam cơ sở Nam Sài Gòn, là môn kết thúc chương trình Cử nhân Digital Marketing (BP318). Môn phải học sau khi hoàn thành mọi môn khác. Các môn trước đánh giá từng năng lực riêng lẻ, còn capstone đánh giá khả năng tích hợp, cho điểm ở các mối nối giữa năng lực.

Bằng chứng: Bản ghi 052664 trong handbook của RMIT mô tả đây là đồ án kết thúc chương trình Digital Marketing, tạo cơ hội cho sinh viên tích hợp, phản biện lại và củng cố những gì đã học suốt chương trình, để ra trường với tư duy chiến lược, khung phân tích và công cụ cần thiết nhằm xây dựng và quản trị chiến lược số của một doanh nghiệp. Bản ghi chương trình BP318 gọi MKTG1416 là môn capstone năm cuối và xếp nó vào nhóm các môn work-integrated learning (WIL), nơi sinh viên làm dự án do khoa kết nối với doanh nghiệp. Cách thiết kế này gần với điều Kolb (1984) gọi là học qua trải nghiệm, nơi năng lực hình thành qua một chu trình trải nghiệm cụ thể rồi phản tỉnh, chứ không qua từng module tách rời. Môn tương đương tại RMIT Việt Nam cơ sở Hà Nội mang mã MKTG1471, cùng nằm trong chương trình BP318.

Ví dụ: Một bạn mang tới buổi mentoring đầu tiên bản nháp mà bạn mô tả là "5 chương đều chắc". Buổi hướng dẫn dừng lại ở đúng một câu hỏi: chương nào sẽ phải viết lại nếu mục tiêu của khách hàng hoá ra là giữ chân chứ không phải thu hút khách mới? Chỉ chương đầu có nhắc tới mục tiêu. 4 chương còn lại sẽ giữ nguyên từng chữ. Đó là phép thử để biết mạch đã đứt.


Chuẩn đầu ra của môn thực sự đòi hỏi điều gì?

Trả lời trực tiếp: Có năm chuẩn đầu ra, và phần lớn nói về sự liên kết chứ không nói về kiến thức. Hãy đọc chúng như một chuỗi, đừng đọc như một danh sách gạch đầu dòng.

Bằng chứng: Chuẩn đầu ra môn MKTG1416 của RMIT yêu cầu bạn (1) hiểu mục tiêu marketing của doanh nghiệp để từ đó xây dựng khuyến nghị chiến lược giúp đạt được các mục tiêu ấy, (2) quản trị và tối ưu các kênh cùng nội dung chủ chốt trong khuôn khổ kế hoạch chiến lược của doanh nghiệp, (3) tích hợp cách tiếp cận chiến lược với trải nghiệm thực hành trên nền tảng và công cụ, (4) đề xuất giải pháp khả thi giải quyết được brief hoặc vấn đề của khách hàng, và (5) làm việc nhóm với mức giám sát tối thiểu và giao tiếp hiệu quả để đạt mục tiêu dự án.

Một công cụ thường dùng để ép buộc tính liên kết đó là Business Model Canvas của Osterwalder và Pigneur (2010), chia mô hình kinh doanh thành chín khối, trong đó khối phân khúc khách hàng và khối giá trị đề xuất là hai khối hay bị bỏ trống nhất trong bài capstone. Hãy để ý ngữ pháp của từng chuẩn. Chuẩn 1 không nói "hiểu mục tiêu marketing", nó nói hiểu mục tiêu ấy để từ đó xây dựng khuyến nghị đạt được chúng. Chuẩn 2 không nói "quản trị các kênh", nó nói quản trị các kênh trong khuôn khổ kế hoạch chiến lược. Động từ ở đây đều mang tính quan hệ. Một bài nộp hoàn toàn có thể chứng minh được từng kỹ năng riêng lẻ mà vẫn trượt phần lớn chuẩn đầu ra.

Ví dụ: Một nhóm làm ra kế hoạch paid social rất tốt, có ảnh chụp nền tảng thật và cách chia ngân sách hợp lý. Điểm của nhóm chỉ ở mức trung bình khá. Nhận xét ghi rằng phần kênh không nối được với mục tiêu đã nêu. Nhóm đã làm đúng phần danh từ của chuẩn 2 và bỏ mất phần giới từ.


Điểm dồn ở đâu, và cái gì làm đứt mạch?

Trả lời trực tiếp: Trong một bài capstone làm cho khách hàng thật, điểm dồn ở các mối nối: mục tiêu nối sang phân khúc, phân khúc nối sang kênh, kênh nối sang nội dung, và nội dung nối sang chỉ số. Chỗ hỏng phổ biến nhất nằm ở mối nối cuối, nơi kế hoạch đo lường báo cáo những gì dễ đếm thay vì những gì trả lời được mục tiêu.

Chỗ hỏng đo lường phổ biến này là lỗi đã được ghi nhận trong thực hành nghề nghiệp chứ không riêng gì bài sinh viên. Khung hành trình quyết định của khách hàng mà cách chấm này dựa vào bắt nguồn từ mô hình của bốn tác giả Court, Elzinga, Mulder và Vetvik (2009), đăng trên McKinsey Quarterly. Vollrath và Villegas (2022) gọi tên nó là digital marketing analytics myopia, tức chứng thiển cận đo lường: bám vào một chỉ số tiện tay như tỷ lệ nhấp chuột, bất kể đang nói với phân khúc nào và phân khúc đó đang ở đâu trong hành trình ra quyết định. Lập luận của họ là chiến lược, chiến thuật và đo lường phải cùng gióng về một giai đoạn trong hành trình khách hàng, và việc tối ưu một chiến dịch theo một chỉ số duy nhất có thể phá hỏng chính mục tiêu lớn hơn. Tỷ lệ nhấp chuột gần như bằng không ở giai đoạn nhận biết ban đầu, nên chọn nó ở giai đoạn đó là bỏ qua hoàn toàn nhu cầu của tệp ấy.

Bằng chứng về chỉ số nào thực sự hiệu quả lại đi ngược dự đoán của phần lớn sinh viên. Mintz, Gilbride, Lenk và Currim (2021), công bố trên International Journal of Research in Marketing, phân tích 439 nhà quản lý ra 1.287 quyết định marketing-mix, và thấy rằng nhóm chỉ số customer-mindset như mức nhận biết, mức hài lòng và mức sẵn sàng giới thiệu, tức Net Promoter Score (NPS), đo trên một thang từ âm 100 tới 100 dựa trên một câu hỏi duy nhất, lại gắn với kết quả quyết định tốt hơn, trong khi các chỉ số tài chính quen thuộc như sản lượng mục tiêu, giá trị hiện tại ròng và ROMI lại gắn với kết quả tệ hơn. Nghiên cứu cũng cho thấy các nhà quản lý thiếu chắc chắn về đúng nhóm chỉ số hiệu quả và lại tự tin về nhóm kém hiệu quả, nên nhóm chỉ số yếu bị dùng nhiều hơn mức đáng ra nên dùng. Vollrath và Villegas (2022) công bố lập luận của họ trên Journal of Marketing Analytics, còn Court, Elzinga, Mulder và Vetvik (2009) công bố mô hình gốc trên McKinsey Quarterly, hai tạp chí khác hẳn nhau về đối tượng đọc.

Ví dụ: Một nhóm đặt mục tiêu là xây dựng mức cân nhắc trong một tệp chưa từng nghe tên khách hàng, rồi đề xuất đo thành công bằng tỷ lệ chuyển đổi và ROMI. Người hướng dẫn muốn biết con số nào sẽ hiện ra ở tháng đầu tiên nếu chiến dịch chạy hoàn hảo. Nhóm không trả lời được, vì một tệp đang ở giai đoạn nhận biết thì tháng đầu tiên không chuyển đổi, dù việc làm tốt hay dở. Chỉ số ấy không phân biệt nổi thành công với thất bại, và đó đúng là định nghĩa của một chỉ số không làm việc gì cả.


Một chuỗi liền mạch trông ra sao trên thực tế?

Trả lời trực tiếp: Mỗi dòng phải đọc được từ trái sang phải mà không phải nhảy cóc. Nếu bạn không đặt được chữ bởi vì giữa hai ô cạnh nhau thì đúng chỗ đó là chỗ bạn sẽ mất điểm.

Mắt xích Bản yếu (đọc riêng vẫn ổn) Bản liền mạch Phép thử
Mục tiêu "Tăng nhận biết thương hiệu và thúc đẩy doanh số" "Đưa nhóm mua lần đầu ngành hàng X từ chưa biết sang đang cân nhắc, trong một học kỳ" Mục tiêu này có thể sai được không? Một mục tiêu không thể thất bại thì không phải mục tiêu
Phân khúc "Gen Z Việt Nam, 18 tới 25 tuổi" "Sinh viên ở TP.HCM đã mua ngành hàng này nhưng mua của thương hiệu thay thế" Mô tả phân khúc có cho khách hàng biết điều gì để hành động không?
Giai đoạn hành trình Không nêu Giai đoạn cân nhắc sớm, không phải lúc mua Đổi giai đoạn có làm đổi lựa chọn kênh không? Nếu không thì bạn chưa dùng tới giai đoạn
Kênh "Facebook, TikTok, Instagram, email" Một kênh mà tệp đó đang thực sự có mặt ở đúng giai đoạn đó, kèm lý do Có kênh nào lọt vào danh sách chỉ vì nó tồn tại không?
Nội dung "Nội dung hấp dẫn" Nhiệm vụ cụ thể mà nội dung phải làm ở giai đoạn đó Nội dung này có đặt dưới mục tiêu nào cũng được không? Vậy thì nó không phục vụ mục tiêu nào
Chỉ số Tỷ lệ nhấp chuột, ROMI Một chỉ số customer-mindset chỉ dịch chuyển khi và chỉ khi mục tiêu đang được đáp ứng Nếu chiến dịch thất bại, con số này có đổi thấy rõ không?

Cột bên phải mới là phần đáng thuộc. Tính liền mạch không phải thứ bạn tuyên bố bằng một câu chuyển ý, mà là thứ người chấm kiểm chứng bằng cách thử xem một thay đổi ở đầu chuỗi có buộc phải thay đổi ở cuối chuỗi hay không, cho dù kênh đề xuất là Search Engine Optimization (SEO), mạng xã hội trả phí hay email.

Ví dụ: Một nhóm liệt kê bốn kênh vì brief có chữ chiến dịch tích hợp, và nhóm hiểu "tích hợp" thành "nhiều kênh". Nhóm được yêu cầu xoá hai kênh không bảo vệ được. Kế hoạch ngắn đi và điểm lại cao lên, bởi hai kênh còn lại đều truy ngược được về phân khúc và giai đoạn.


Xử lý brief của khách hàng thế nào, không phớt lờ mà cũng không tuân thủ răm rắp?

Trả lời trực tiếp: Hãy coi brief là bằng chứng về tình huống của khách hàng, không phải mệnh lệnh bắt buộc phải làm theo. Bài capstone mạnh nhất là bài chất vấn lại brief và nói rõ điều đó, kèm lý do.

Chất vấn lại brief là chỗ sinh viên hay nhún nhường quá mức. Trong một nghiên cứu về dự án tư vấn marketing bậc sau đại học, trình bày tại Academy of Marketing Conference tổ chức ở University of Limerick, Ireland, Hiller và Rosborough (2015) thấy khách hàng đánh giá cao đúng những lúc nhóm sinh viên không đưa ra thứ họ mong được nghe. Nguyên văn của chính nghiên cứu: "the students did not necessarily deliver what the client wanted to hear, thus further giving weight to the notion that these types of projects develop students’ critical skills" (Hiller & Rosborough, 2015, p. 3). Một khách hàng phi lợi nhuận kỳ vọng nhận khuyến nghị nhắm vào thay đổi hành vi cá nhân, nhóm sinh viên lại lập luận cho giải thưởng cấp cộng đồng và cách tiếp cận riêng cho nhóm yếu thế. Cũng nghiên cứu đó nói thẳng rằng việc đặt lại vấn đề như vậy không phải chuyện thường thấy, và sinh viên thường khuyến nghị đúng những việc tổ chức đã làm rồi.

Việc định nghĩa lại vấn đề ngay trong lúc xử lý nó gần với điều Schön (1983) gọi là suy nghĩ ngay trong hành động, cùng họ với điều Kolb (1984) mô tả ở phần đầu bài về học qua trải nghiệm, chỉ khác là Schön nhấn vào chính lúc hành động thay vì chu trình phản tỉnh sau đó. Có một giới hạn cần nêu rõ. Không đồng tình với brief chỉ được cộng điểm khi sự không đồng tình ấy có bằng chứng. "Khách hàng yêu cầu X nhưng nhóm em nghĩ Y" là một ý kiến. "Brief giả định rào cản nằm ở khâu nhận biết, nhưng dữ liệu phân khúc của nhóm cho thấy rào cản nằm ở khâu cân nhắc, nên một chiến dịch nhận biết sẽ tiêu tiền vào một vấn đề khách hàng không có" mới là một lập luận.

Ví dụ: Brief của một bạn yêu cầu chiến dịch tăng lượng người theo dõi. Bạn thấy gợn nhưng vẫn viết đúng như vậy. Câu hỏi ngược lại từ phía mentor là trong chính phần nghiên cứu của bạn có bằng chứng nào cho thấy số người theo dõi là nút thắt không. Không có. Bản viết lại giữ nguyên mục tiêu nền của khách hàng, chỉ ra vì sao tăng người theo dõi không đạt được mục tiêu đó, rồi đề xuất hướng khác. Bạn không từ chối brief. Bạn định nghĩa lại vấn đề ngay bên trong brief.


Vì sao làm nhóm hay đánh chìm những bài capstone vốn tốt?

Trả lời trực tiếp: Bởi vì chia việc theo mục thì logic cũng bị chia theo mục. Khi mỗi thành viên sở hữu một phần, các phần tự tối ưu độc lập với nhau, và mạch đứt đúng ở những mối nối mà capstone đang chấm.

Cách chia việc theo mục này khớp với mô tả của Tuckman (1965) về các giai đoạn phát triển nhóm, nơi một nhóm chia việc theo mục dễ mắc kẹt ở giai đoạn xung đột mà không bao giờ tới được giai đoạn vận hành trơn tru. Ishida, Kaufman, Gibson và Hunter (2025), công bố trên Journal of Marketing Education, quan sát trực tiếp hiện tượng này khi so sánh các cách tổ chức dự án trong đào tạo marketing, sáu mươi năm sau mô hình gốc của Tuckman. Ở lớp chia việc theo một đơn vị tập thể lớn, phần sáng tạo và phần nền tảng truyền thông được chọn không gióng vào nhau, được mô tả là các nỗ lực chạy song song mà không phối hợp, và phần trình bày vì thế yếu hẳn. Cách tổ chức nhóm nhỏ lại cho ra chiến dịch chặt chẽ và thuyết phục hơn. Cái hỏng không nằm ở nỗ lực hay năng lực, nó nằm ở chỗ không ai giữ các mối nối.

Hệ quả thực tiễn là một vai trò mà hầu như không nhóm sinh viên nào phân công. Phải có người sở hữu cả chuỗi thay vì sở hữu một mục, đọc toàn bộ tài liệu như một lập luận duy nhất và chất vấn từng mối nối. Người đó viết ít hơn và kéo điểm lên nhiều hơn.

Ví dụ: Một nhóm bốn người chia kế hoạch làm bốn phần rồi ghép lại vào đêm trước hạn nộp. Tài liệu chứa ba định nghĩa khác nhau về tệp mục tiêu. Không ai được giao việc để ý chuyện đó.


Cấu trúc nào hợp cho báo cáo chiến lược và kế hoạch?

Trả lời trực tiếp: Hãy dựng báo cáo sao cho mỗi phần nhìn thấy rõ là hệ quả của phần liền trước. Một bộ xương dùng được, thường trải dài 3.000 đến 4.000 từ toàn báo cáo, trông như sau:

Sơ đồ bảy phần của một báo cáo capstone MKTG1416, từ bối cảnh và định nghĩa vấn đề tới phản tỉnh, phần sau dựa vào phần trước
Bảy phần báo cáo mà cố vấn MAAS dùng để giữ một bài capstone MKTG1416 đọc như một lập luận liền mạch.

  1. Bối cảnh và định nghĩa vấn đề. Khách hàng tin vấn đề là gì, bằng chứng của bạn cho thấy vấn đề là gì, và hai thứ đó khác nhau ở đâu.
  2. Phân khúc và giai đoạn hành trình. Ai, và họ đang ở đâu trong hành trình ra quyết định. Mọi phần đứng sau đều phải dựa vào phần này.
  3. Mục tiêu chiến lược. Có thể sai được, có mốc thời gian, và truy ngược được về phân khúc.
  4. Kế hoạch kênh và nội dung. Mỗi lựa chọn được biện minh bằng phân khúc và giai đoạn, không phải bằng độ phổ biến, thường gói trong 500 đến 700 từ, tính cả dữ liệu từ hệ thống Customer Relationship Management (CRM) nếu nhóm có quyền truy cập.
  5. Kế hoạch đo lường. Chỉ số chỉ dịch chuyển khi và chỉ khi mục tiêu dịch chuyển, kèm lập luận nêu rõ, gắn với công cụ thật như Google Analytics 4 (GA4), Google Ads, Meta Business Suite, TikTok Ads hoặc LinkedIn Campaign Manager chứ không dừng ở tên chỉ số suông. Đọc lại phát hiện của Mintz, Gilbride, Lenk và Currim (2021) trước khi chốt mục này giúp bạn tránh đúng cái bẫy phần lớn nhóm rơi vào.
  6. Triển khai và rủi ro. Trình tự, người phụ trách, phụ thuộc, và bạn sẽ làm gì nếu chỉ số dẫn báo không nhúc nhích.
  7. Phản tỉnh. Bạn sẽ sửa gì, và dựa trên bằng chứng nào, thường trong 300 từ trở lại.

Hãy kiểm tra lại danh sách bài và trọng số của chính lớp mình trên Canvas, vì class guide thay đổi theo từng học kỳ và môn này chạy ba học kỳ mỗi năm tại Việt Nam.

Ví dụ: Một bạn không đảo thứ tự và không viết lại gì ngoài câu mở đầu của từng phần, sao cho mỗi câu ấy quay lại nhắc quyết định đã chốt ở phần trước. Nội dung giữ nguyên. Bản báo cáo bỗng đọc ra thành một lập luận liền mạch, và nhận xét chuyển từ "còn mô tả" sang "tích hợp tốt".


Câu hỏi thường gặp

MKTG1416 có phải là MKTG1471 không?
Đây là cùng một môn dạy ở hai cơ sở RMIT Việt Nam khác nhau. MKTG1416 học tại Nam Sài Gòn còn MKTG1471 học tại cơ sở Hà Nội. Luôn kiểm tra mã môn của chính bạn trên Canvas và trên RMIT Handbook trước khi trích mã vào bài.

Có bắt buộc dùng một khung có tên như See, Think, Do, Care không?
Không khung nào bắt buộc trừ khi class guide của bạn yêu cầu. Khung See, Think, Do, Care do Avinash Kaushik (2015) đề xuất trên blog Occam's Razor của ông, hay khung RACE (Reach, Act, Convert, Engage) của Smart Insights, hay khung AIDA (Attention, Interest, Desire, Action) cũ hơn nhiều từ ngành bán hàng, chỉ có ích nếu nó ép bạn phải nêu rõ giai đoạn hành trình, vì đó chính là thứ người chấm soi. Dùng khung như trang trí rồi bỏ quên nó ở phần kênh thì còn tệ hơn là không dùng.

Bài capstone nên đưa bao nhiêu lý thuyết?
Đủ để biện minh cho quyết định, không hơn. Trong các dự án tư vấn, chính khách hàng cho biết lý thuyết có giá trị đúng ở chỗ nó tạo nền tảng để họ thuyết phục ban lãnh đạo của mình. Một khung như See, Think, Do, Care của Kaushik (2015) là lý thuyết dùng được vì nó ép ra một quyết định, một định nghĩa marketing trích từ sách giáo khoa thì không. Osterwalder và Pigneur (2010) cũng chỉ hữu ích nếu bạn thật sự điền chín khối đó, không phải chỉ vẽ khung ra rồi bỏ trống. Lý thuyết không làm đổi một khuyến nghị nào thì chỉ là phần độn.

Dữ liệu của em ít. Điều đó có làm mất điểm không?
Creswell và Creswell (2018) coi mẫu nhỏ trong một nghiên cứu định tính hay bán định tính là bình thường, miễn giới hạn được nêu rõ ràng, và mẫu nhỏ là chuyện bình thường với một dự án gói trong một học kỳ. Thứ làm mất điểm là kết luận quá tay từ mẫu đó. Hãy nêu rõ giới hạn rồi lập luận trong phạm vi ấy. Một phát hiện khiêm tốn được xử lý trung thực đọc ra chuyên nghiệp hơn một khẳng định lớn mà dữ liệu không đỡ nổi.

Em có được khuyến nghị việc khách hàng đang làm rồi không?
Được, nhưng phải nói rõ là họ đang làm và giải thích vì sao nên duy trì hoặc mở rộng. Trình bày việc đang có sẵn như một khuyến nghị mới là điểm yếu đã được ghi nhận trong bài tư vấn của sinh viên, và người chấm nhận ra rất nhanh. Hiller và Rosborough (2015) ghi nhận đúng hiện tượng này ở sinh viên sau đại học, không riêng gì sinh viên RMIT Việt Nam.

Cách sửa bản nháp nhanh mà hiệu quả nhất là gì?
Đọc lần lượt chỉ câu đầu và câu cuối của từng phần. Nếu chuỗi câu đó không đọc ra thành một lập luận nối liền, hãy sửa các mối nối trước khi động vào bất cứ thứ gì khác.


MAAS đồng hành với sinh viên MKTG1416 thế nào

MAAS làm việc với sinh viên RMIT Việt Nam ở vai trò mentor và cố vấn học thuật. Với một môn capstone, việc đó thường gồm ba phần: giúp bạn thử sức chịu tải của chuỗi từ mục tiêu tới chỉ số trước khi bạn dồn công viết trọn một bản nháp theo nó, đọc lại bài do chính bạn viết và đối chiếu với chuẩn đầu ra để bạn thấy mối nối nào người chấm sẽ chất vấn, và hướng dẫn cách xử lý vấn đề phối hợp nhóm nêu ở trên, cùng cách Ishida, Kaufman, Gibson và Hunter (2025) mô tả khi so sánh nhóm nhỏ với nhóm lớn trong lớp học marketing thật, để thực sự có một người giữ tính liền mạch. Bạn tự phân tích và tự viết báo cáo. Việc của mentor là đặt trước những câu hỏi mà người chấm sẽ đặt, đủ sớm để bạn còn kịp trả lời.

Nếu bạn muốn có một lượt đọc thứ hai cho kế hoạch của mình, hãy mang theo brief và bản nháp hiện tại. Chúng tôi ghép bạn với mentor đúng chuyên ngành trong vòng 48 giờ khi mạng lưới đã có người phù hợp, hoặc khoảng 2 tuần nếu MAAS phải mở một đợt tuyển riêng, buổi trao đổi 20 phút đầu tiên miễn phí, và phần hỗ trợ đi kèm cam kết ba mức Pass, Merit, Distinction cùng 45 ngày hỗ trợ sau khi nộp bài. Khoảng 23% mạng lưới chuyên gia của MAAS có bằng Tiến sĩ. Bắt đầu ở trang dịch vụ academic mentoring, hoặc đọc bài hướng dẫn về MKTG1420 Digital Business Development nếu bạn học môn đó trong cùng chương trình. Về kỹ năng nền là đọc ra đề bài thực sự yêu cầu gì, xem bài giải mã động từ đề bài.


References

Court, D., Elzinga, D., Mulder, S., & Vetvik, O. J. (2009). The consumer decision journey. McKinsey Quarterly. https://www.mckinsey.com/business-functions/marketing-and-sales/our-insights/the-consumer-decision-journey

Creswell, J. W., & Creswell, J. D. (2018). Research design: Qualitative, quantitative, and mixed methods approaches (5th ed.). SAGE Publications.

Hiller, A., & Rosborough, J. (2015). Brief encounter: The use of consultancy projects to enhance the learning experience of postgraduate marketing students [Conference presentation]. Academy of Marketing Conference: The Magic in Marketing, 7–9 July, University of Limerick, Limerick, Ireland. https://irep.ntu.ac.uk/id/eprint/26033/

Ishida, C., Kaufman, P. B., Gibson, M., & Hunter, G. K. (2025). Fostering value cocreation using an agency-style client project in marketing education. Journal of Marketing Education. Advance online publication. https://doi.org/10.1177/02734753251318180

Kaushik, A. (2015). See, Think, Do, Care [Blog post]. Occam's Razor.

Kolb, D. A. (1984). Experiential learning: Experience as the source of learning and development. Prentice-Hall.

Mintz, O., Gilbride, T. J., Lenk, P., & Currim, I. S. (2021). The right metrics for marketing-mix decisions. International Journal of Research in Marketing, 38(1), 32–49. https://doi.org/10.1016/j.ijresmar.2020.08.003

Osterwalder, A., & Pigneur, Y. (2010). Business model generation: A handbook for visionaries, game changers, and challengers. Wiley.

Schön, D. A. (1983). The reflective practitioner: How professionals think in action. Basic Books.

Tuckman, B. W. (1965). Developmental sequence in small groups. Psychological Bulletin, 63(6), 384–399. https://doi.org/10.1037/h0022100

Vollrath, M. D., & Villegas, S. G. (2022). Avoiding digital marketing analytics myopia: Revisiting the customer decision journey as a strategic marketing framework. Journal of Marketing Analytics, 10(2), 106–113. https://doi.org/10.1057/s41270-020-00098-0


Tools & resources

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.