Skip to content
Quay lại BlogResearch Methods

Khung khái niệm và khung lý thuyết khác nhau thế nào?

19 phút đọc3,727 từ

Khung lý thuyết (theoretical framework) áp dụng một lý thuyết đã được công nhận mà bạn chọn ra, còn khung khái niệm (conceptual framework) là bản đồ khái niệm bạn tự dựng cho câu hỏi nghiên cứu của mình. Hai thuật ngữ bị dùng thay cho nhau thường xuyên tới mức nhầm lẫn giữa chúng trở thành vấn đề về khung mà học viên cao học người Việt mang tới cố vấn MAAS nhiều nhất. Bài viết này trả lời bảy câu hỏi sinh viên hỏi nhiều nhất.

Tác giả: Ban Biên tập Phương pháp Nghiên cứu MAAS · Hiệu đính bởi mentor chuyên môn của MAAS
Cập nhật lần cuối: 2026-06-24
Chuyên mục: research-methods

Nhà khoa học nhìn qua kính hiển vi trong một thí nghiệm tại phòng thí nghiệm
Ảnh minh hoạ


Khung khái niệm khác khung lý thuyết ở chỗ nào?

Trả lời trực tiếp: Khung lý thuyết là một lý thuyết có tên, đã được công nhận, bạn chọn từ tài liệu rồi áp dụng. Khung khái niệm là hệ thống khái niệm và mối quan hệ bạn dựng lên để trả lời một câu hỏi nghiên cứu. Khung lý thuyết là thứ bạn tìm và nhận về, còn khung khái niệm là thứ bạn thiết kế, dựa trên lý thuyết, kết quả nghiên cứu và giả định của bạn.

Bảng so sánh năm điểm khác biệt giữa khung lý thuyết và khung khái niệm trong luận văn, gồm nguồn gốc, đơn vị cốt lõi, nguồn tham chiếu, sản phẩm điển hình và trường hợp dùng phù hợp nhất
Khung lý thuyết và khung khái niệm, năm điểm khác biệt

Bảng đối chiếu khung lý thuyết và khung khái niệm theo nguồn gốc, đơn vị cốt lõi, nguồn tham chiếu, sản phẩm điển hình và loại nghiên cứu phù hợp
Nhiều luận văn cần cả hai, gồm một lý thuyết có tên và mô hình vận hành hoá lý thuyết đó.

Bằng chứng: Varpio và cộng sự (2020) phân biệt hai khái niệm rất rõ ràng, khung lý thuyết áp dụng một lý thuyết chính thức, có tên, làm lăng kính cho toàn bộ nghiên cứu, trong khi khung khái niệm là phần biện minh mà người nghiên cứu lắp ghép từ nhiều nguồn tri thức khác nhau. Cũng chính nhóm tác giả này chỉ ra vì sao sinh viên cứ nhầm hai thứ với nhau: "However, all too often, these words are used interchangeably or without a clear understanding of the differences between these concepts" (Varpio et al., 2020, p. 989). Grant và Osanloo (2014) hay được trích ở chỗ này, nhưng phép ẩn dụ ngôi nhà của họ chỉ nói về khung lý thuyết, nguyên văn là "We believe the blueprint is an appropriate analogy of the theoretical framework of the dissertation" (Grant & Osanloo, 2014, p. 12). Hai tác giả định nghĩa khung khái niệm ở một chỗ riêng, đó là cách người nghiên cứu hiểu vấn đề của mình nên khai thác theo hướng nào và các biến trong nghiên cứu quan hệ với nhau ra sao (Grant & Osanloo, 2014, p. 16).

Ví dụ: Một học viên thạc sĩ Giáo dục người Việt tại University of Melbourne đã viết xong khung lý thuyết dựa trên lý thuyết văn hoá-xã hội của Vygotsky, vậy mà giảng viên hướng dẫn vẫn yêu cầu thêm một khung khái niệm. Cố vấn MAAS chỉ cho bạn chỗ tách đôi, Vygotsky cung cấp lăng kính, còn khung khái niệm là sơ đồ nối sự hỗ trợ của giáo viên, tương tác bạn họctiến bộ ngôn ngữ trong lớp học mà bạn nghiên cứu, cùng một lý thuyết nhưng hai nhiệm vụ khác nhau.

Tiêu chí Khung lý thuyết Khung khái niệm
Nguồn gốc Chọn ra từ tài liệu đã có Do người nghiên cứu tự dựng
Đơn vị cốt lõi Một lý thuyết có tên, đã được công nhận Các khái niệm, biến số và quan hệ giữa chúng
Nguồn tham chiếu Một truyền thống lý thuyết duy nhất Lý thuyết, nghiên cứu trước, dữ liệu thử, giả định
Sản phẩm điển hình Phần bàn luận về lý thuyết và lý do nó phù hợp Một sơ đồ một trang kèm lập luận viết thành lời
Phù hợp nhất với Nghiên cứu kiểm chứng hoặc mở rộng một lý thuyết đã biết Nghiên cứu khám phá, định tính hoặc hỗn hợp

Khi nào bạn cần khung lý thuyết, khi nào cần khung khái niệm, khi nào cần cả hai?

Trả lời trực tiếp: Hãy dùng khung lý thuyết khi một lý thuyết đã được công nhận ánh xạ rõ ràng vào vấn đề của bạn và bạn định kiểm chứng, áp dụng hoặc mở rộng nó. Hãy dùng khung khái niệm khi không lý thuyết đơn lẻ nào khớp trọn vẹn, khi nghiên cứu mang tính khám phá hoặc hỗn hợp, hoặc khi bạn kết hợp ý tưởng từ nhiều truyền thống nghiên cứu khác nhau.

Nhiều luận văn cần cả hai, gồm một mục lý thuyết đặt tên cho lăng kính và một sơ đồ khái niệm vận hành hoá lăng kính đó. Trước hết bạn luôn nên kiểm tra quy ước riêng của chương trình mình học, vì một số khoa dùng hai nhãn này cho cùng một thứ.

Bằng chứng: Jabareen (2009) lập luận rằng khung khái niệm là công cụ phù hợp cho nghiên cứu định tính và liên ngành, nơi thấu hiểu quan trọng hơn dự đoán từ một lý thuyết đơn lẻ. Varpio và cộng sự (2020) lưu ý rằng các nghiên cứu định lượng, kiểm định giả thuyết thường mở đầu bằng khung lý thuyết, còn nghiên cứu theo hướng diễn giải hay dựng khung khái niệm hơn.

Ví dụ: Một học viên Y tế Công cộng người Việt tại UNSW nghiên cứu sự e ngại vắc-xin trong cộng đồng di cư, nơi không lý thuyết đơn lẻ nào bao quát được đủ các yếu tố văn hoá, thông tin và khả năng tiếp cận. Cố vấn MAAS hướng bạn sang một khung khái niệm kết hợp Health Belief Model với các khái niệm về niềm tin và tiếp cận trong nghiên cứu di cư, vì một lý thuyết đơn lẻ sẽ bỏ lại một nửa phát hiện không giải thích được.


Chọn giữa hai loại khung cho luận văn của mình thế nào?

Trả lời trực tiếp: Hãy bắt đầu từ câu hỏi nghiên cứu, đừng bắt đầu từ thiện cảm với một cái nhãn. Bạn cần hỏi ba điều, rằng đã có lý thuyết nào giải thích được các mối quan hệ mà bạn quan tâm chưa, rằng mục tiêu của bạn là kiểm chứng lý thuyết đó hay khám phá phần nó chưa phủ tới, và rằng câu hỏi của bạn trải qua bao nhiêu truyền thống nghiên cứu.

Nếu một lý thuyết đã khớp và bạn đang kiểm chứng nó, hãy mở đầu bằng khung lý thuyết. Nếu câu hỏi của bạn vươn qua nhiều lý thuyết hoặc chạm vào vùng chưa lý thuyết nào lập bản đồ, hãy dựng một khung khái niệm, và khi còn phân vân thì hãy gọi tên lý thuyết mình dựa vào rồi dựng một mô hình cho thấy các khái niệm của nó áp dụng vào trường hợp của bạn ra sao.

Bằng chứng: Ravitch và Riggan (2017) đặt khung khái niệm ở vị trí lập luận cho việc vì sao nghiên cứu của bạn đáng làm và vì sao phương pháp của bạn sẽ trả lời được câu hỏi, một việc mà một lý thuyết mượn về không tự làm nổi, và là việc phải do vấn đề nghiên cứu dẫn dắt chứ không phải do thói quen của ngành.

Ví dụ: Một học viên Tài chính người Việt tại Monash cho rằng mình chỉ cần khung lý thuyết vì lý thuyết đại diện (agency theory) nằm ở trung tâm đề tài, cho tới khi cố vấn Senior Financial Strategist của MAAS chỉ ra rằng câu hỏi của bạn còn kéo theo các yếu tố hành vi và thể chế mà lý thuyết đại diện bỏ qua. Hai người giữ lý thuyết đại diện làm lăng kính có tên và thêm một khung khái niệm tích hợp các khái niệm còn lại, khớp đúng với thiết kế hỗn hợp của bạn.


Đi từ khung lý thuyết sang khung khái niệm bằng cách nào?

Trả lời trực tiếp: Hãy coi lý thuyết là vật liệu thô và khung khái niệm là cấu trúc bạn dựng lên từ vật liệu đó. Lấy lý thuyết có tên, rút ra các khái niệm mà nó cung cấp, thêm khái niệm từ nghiên cứu trước và từ phần thử nghiệm của chính bạn, rồi vẽ ra những mối quan hệ mà bạn dự kiến quan sát được trong dữ liệu của mình.

Khung lý thuyết cho bạn biết khái niệm nào quan trọng về mặt lý thuyết, còn khung khái niệm buộc bạn cam kết sẽ thực sự nghiên cứu những khái niệm nào trong số đó.

Bằng chứng: Maxwell (2013) gọi tên bốn nguồn mà mọi khung khái niệm đều rút từ đó, gồm lý thuyết và nghiên cứu đã có, kiến thức từ trải nghiệm, kết quả thử nghiệm ban đầu và các thí nghiệm tư duy, nên lý thuyết chính thức chỉ là một đầu vào trong số đó. Miles và cộng sự (2020) khuyên vẽ các khái niệm thành những ô có nhãn nối bằng mũi tên có hướng, để các mối quan hệ hiện ra tường minh.

Ví dụ: Một học viên thạc sĩ AI người Việt tại University of Edinburgh khởi đầu từ một lý thuyết về tính công bằng trong học máy nhưng không hình dung nổi nó thành luận văn bằng cách nào. Cố vấn Principal AI Architect của MAAS yêu cầu bạn liệt kê các khái niệm của lý thuyết đó, bỏ hai khái niệm bạn không đo được, và thêm một khái niệm bối cảnh từ nghiên cứu trước, kết quả là một đề tài bạn thực sự chạy được.


Hai loại khung được trình bày khác nhau thế nào trong luận văn?

Trả lời trực tiếp: Khung lý thuyết thường viết thành văn xuôi, bạn giới thiệu lý thuyết, giải thích các luận điểm chính, biện minh vì sao nó phù hợp và trích dẫn những người khai sinh ra nó. Khung khái niệm thường là một lập luận ngắn kèm sơ đồ một trang, mỗi khái niệm là một ô có nhãn, mỗi quan hệ là một mũi tên có hướng và có nhãn.

Trong sơ đồ đó, đầu vào nằm bên trái và kết quả nằm bên phải. Cả hai loại khung đều thuộc về các chương đầu, đứng cạnh phần điểm tài liệu và đứng trước chương phương pháp nghiên cứu mà chúng có nhiệm vụ định hình.

Bằng chứng: Grant và Osanloo (2014) lập luận rằng khung mà một nghiên cứu cam kết theo phải chi phối cả chương phương pháp, chương phân tích lẫn chương diễn giải, nên nó cần một cấu trúc trực quan để các chương sau còn quy chiếu về được. Miles và cộng sự (2020) coi bản đồ trực quan là công cụ phân tích cốt lõi chứ không phải đồ trang trí, vì hành động vẽ buộc người nghiên cứu cam kết vào những mối quan hệ cụ thể.

Ví dụ: Một học viên ngành Kinh doanh người Việt tại University of Manchester viết ba trang lý thuyết nhưng không có sơ đồ nào, nên người chấm không thấy lý thuyết đó áp dụng vào đâu. Cố vấn Executive Business Strategist của MAAS giữ nguyên phần lý thuyết và yêu cầu bạn thêm một sơ đồ khái niệm năm ô, trong đó mọi mũi tên đều truy ngược được về lý thuyết dựa trên nguồn lực hoặc về các cuộc phỏng vấn thử của bạn. Nhận xét đổi từ "abstract" sang "clear and defensible."


Giảng viên hướng dẫn và người chấm đánh giá từng loại khung thế nào?

Trả lời trực tiếp: Với khung lý thuyết, người chấm kiểm tra xem lý thuyết đã được công nhận chưa, có được trình bày đúng không, có trích về đúng người khai sinh không và có thực sự khớp với vấn đề không. Với khung khái niệm, họ kiểm tra xem mỗi khái niệm có nguồn không, mỗi quan hệ có được biện minh không, và mô hình đã đủ tập trung để nghiên cứu được chưa.

Họ cũng kiểm tra xem khung khái niệm có xuất hiện lại trong chương phân tích và chương bàn luận hay không. Cách nhanh nhất để mất điểm ở cả hai loại khung là thiếu mạch lạc, khi bạn gọi tên một lý thuyết rồi không bao giờ dùng tới nó, hoặc vẽ một sơ đồ rồi không nhắc lại sau chương hai.

Bằng chứng: Ravitch và Riggan (2017) nhận xét rằng điểm yếu phổ biến nhất trong khung khái niệm của sinh viên là coi nó như một chương làm một lần cho xong, thay vì coi nó là lô gích dẫn đường mà cả luận văn phải phản chiếu.

Ví dụ: Một nghiên cứu sinh DBA người Việt tại University of Sunderland trình bày một khung khái niệm mạnh ở chương hai rồi không bao giờ nhắc lại nó nữa. Cố vấn MAAS yêu cầu bạn thêm một đoạn ở đầu chương phân tích và một đoạn trong chương bàn luận, mỗi đoạn trỏ ngược về những mũi tên cụ thể. Chỉ cần chừng đó mô liên kết, và bản sửa được thông qua với các chỉnh sửa nhỏ.


Sinh viên hay mắc lỗi gì khi nhầm lẫn hai loại khung?

Trả lời trực tiếp: Có bốn lỗi chiếm phần lớn. Lỗi đầu tiên là gọi một mô hình tự dựng là "khung lý thuyết" trong khi nó không mượn lý thuyết có tên nào. Lỗi thứ hai là nêu tên một đại lý thuyết rồi không bao giờ dùng tới các khái niệm của nó. Lỗi thứ ba là dựng khung khái niệm với những ô không có nguồn, khiến mô hình đọc ra như ý kiến cá nhân.

Lỗi thứ tư là mặc định hai cái nhãn thay thế được cho nhau và bỏ qua yêu cầu của giảng viên hướng dẫn. Cách chữa cả bốn lỗi là viết đúng như sự thật, nếu bạn đã mượn một lý thuyết thì hãy nói ra và dùng nó, còn nếu bạn tự dựng một mô hình thì hãy dẫn nguồn cho từng bộ phận.

Bằng chứng: Varpio và cộng sự (2020) quy phần lớn sự nhầm lẫn này cho cách dùng thiếu chính xác và thay thế lẫn nhau giữa "theory", "theoretical framework" và "conceptual framework" giữa các ngành, đồng thời kêu gọi tác giả nói rõ mình đang dùng loại nào và vì sao. Maxwell (2013) cảnh báo riêng về những khung chỉ dựng từ lý thuyết đã có mà bỏ qua kiến thức trải nghiệm cùng dữ liệu thử của chính người nghiên cứu.

Ví dụ: Một học viên Giáo dục người Việt tại UCL gọi sơ đồ bốn ô của mình là khung lý thuyết, dù nó không mượn lý thuyết có tên nào. Cố vấn MAAS đổi nhãn nó thành khung khái niệm và thêm một mục lý thuyết ngắn gọi tên lý thuyết học tập mà nó dựa vào. Thuật ngữ khớp với nội dung, và sự bối rối của người chấm ở vòng đầu biến mất.


Câu hỏi thường gặp

Một luận văn có thể có cả khung khái niệm lẫn khung lý thuyết không?
Có, và nhiều luận văn mạnh làm đúng như vậy. Khung lý thuyết gọi tên lý thuyết đã được công nhận mà bạn làm việc cùng, còn khung khái niệm cho thấy các khái niệm trong nghiên cứu của bạn nối với nhau ra sao, thường là để vận hành hoá chính lý thuyết đó. Bạn trình bày lý thuyết trước, rồi mới tới mô hình khái niệm áp dụng nó.

Khung khái niệm có phải chỉ là khung lý thuyết kèm thêm sơ đồ không?
Không. Khung khái niệm có thể chứa một lý thuyết nhưng phạm vi rộng hơn, nó tích hợp nghiên cứu trước, dữ liệu thử và giả định của chính bạn vào một mô hình dựng riêng cho một câu hỏi. Sơ đồ chỉ tóm tắt lại lập luận đó.

Loại nào viết trước trong quá trình làm bài?
Thường là khung lý thuyết, vì bạn cần biết mình dựa vào lý thuyết nào trước khi dựng được mô hình từ nó. Trên thực tế hai phần phát triển song song khi câu hỏi nghiên cứu của bạn sắc dần lên.

Nghiên cứu định lượng có dùng khung khái niệm không?
Có. Trong luận văn định lượng, các mũi tên của khung khái niệm thường trở thành giả thuyết kiểm định được và các ô trở thành biến số đo được, còn khung lý thuyết cung cấp lý thuyết đang được kiểm chứng.

Nếu giảng viên hướng dẫn dùng hai thuật ngữ thay thế cho nhau thì sao?
Bạn theo quy ước đặt nhãn của khoa mình, nhưng giữ lô gích cho rõ, tức là nói rõ mình dựa vào lý thuyết có tên nào và cho thấy các khái niệm của lý thuyết đó áp dụng vào nghiên cứu của bạn ra sao. Nội dung quan trọng hơn cái nhãn.

MAAS có giúp tôi quyết định mình cần loại khung nào không?
Có. Dịch vụ Academic Mentoring của MAAStrung tâm tài nguyên Dissertation Mentoring có phần huấn luyện theo cấu trúc về việc chọn khung, gọi tên lý thuyết, vẽ bản đồ khái niệm và căn khớp cả hai với phương pháp nghiên cứu theo từng phase, kèm phản hồi từ cố vấn trình độ tiến sĩ trong vòng 48 giờ.


Hướng dẫn này dựa trên đâu

Phân biệt được lập luận ở trên dựa trên sáu nguồn trải từ 2009 đến 2020, không dựa trên quy ước của một trường nào. Varpio và cộng sự (2020) cùng Jabareen (2009) đều xuất hiện trên tạp chí phương pháp, cách nhau mười một năm, lần lượt là Academic MedicineInternational Journal of Qualitative Methods, còn Grant và Osanloo (2014) đăng trên Administrative Issues Journal. Ravitch và Riggan (2017), Maxwell (2013) và Miles cùng cộng sự (2020) là sách chuyên khảo về thiết kế nghiên cứu chứ không phải bài báo, và đó là lý do phần hướng dẫn của họ ở dưới rộng hơn một lập luận đơn lẻ.

Cố vấn MAAS hỗ trợ quyết định về khung ra sao

Cùng chuyên gia MAAS, bạn đi qua lựa chọn này như một cuộc trao đổi huấn luyện chứ không phải một lần bàn giao, thử xem một lý thuyết có đủ khớp không, dựng một mô hình khái niệm bảo vệ được khi nó không khớp, và kiểm tra xem cả hai có xuất hiện lại trong chương phương pháp cùng chương bàn luận hay không. Mạng lưới của MAAS có hơn 100 chuyên gia, trong đó 23% có bằng tiến sĩ. Mỗi lần đồng hành chạy theo từng phase, bạn tự viết còn chuyên gia hướng dẫn và review, kèm mục tiêu điểm ba bậc theo chuẩn Pass, Merit và Distinction, cùng 45 ngày hỗ trợ tiếp nối sau khi nộp bài trên phần huấn luyện đã cung cấp. Quyền tác giả vẫn thuộc về bạn từ đầu đến cuối.

Sẵn sàng chốt xem luận văn của bạn cần loại khung nào? Đặt lịch tư vấn miễn phí 20 phút, mang theo câu hỏi nghiên cứu của bạn và MAAS sẽ ghép bạn với một cố vấn cùng ngành trong vòng 48 giờ nếu mạng lưới đã phủ lĩnh vực đó. Nếu chưa phủ, MAAS mở một đợt tuyển riêng cho trường hợp của bạn, thường mất khoảng hai tuần.


Tài nguyên liên quan


Tài liệu tham khảo

  • Grant, C., & Osanloo, A. (2014). Understanding, selecting, and integrating a theoretical framework in dissertation research: Creating the blueprint for your "house". Administrative Issues Journal: Connecting Education, Practice, and Research, 4(2), 12–26. https://doi.org/10.5929/2014.4.2.9
  • Jabareen, Y. (2009). Building a conceptual framework: Philosophy, definitions, and procedure. International Journal of Qualitative Methods, 8(4), 49–62. https://doi.org/10.1177/160940690900800406
  • Maxwell, J. A. (2013). Qualitative research design: An interactive approach (3rd ed.). SAGE Publications.
  • Miles, M. B., Huberman, A. M., & Saldaña, J. (2020). Qualitative data analysis: A methods sourcebook (4th ed.). SAGE Publications.
  • Ravitch, S. M., & Riggan, M. (2017). Reason & rigor: How conceptual frameworks guide research (2nd ed.). SAGE Publications.
  • Varpio, L., Paradis, E., Uijtdehaage, S., & Young, M. (2020). The distinctions between theory, theoretical framework, and conceptual framework. Academic Medicine, 95(7), 989–994. https://doi.org/10.1097/ACM.0000000000003075

Bài viết này thuộc loạt MAAS Journal dành cho học viên cao học người Việt đang du học. MAAS Academic Mentoring là đối tác tư vấn, chúng tôi huấn luyện học viên theo mô hình bàn giao từng phase kèm phản hồi phát triển từ cố vấn trình độ tiến sĩ. Chúng tôi không viết bài, không nộp bài và không cam kết điểm số thay cho học viên.

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.