Khung lý thuyết (theoretical framework) là một lý thuyết đã được công nhận mà bạn chọn ra rồi áp dụng, còn khung khái niệm (conceptual framework) là bản đồ khái niệm do chính bạn dựng lên cho câu hỏi nghiên cứu của mình. Hai thuật ngữ này bị dùng thay cho nhau thường xuyên tới mức nhầm lẫn giữa chúng là vấn đề về khung mà học viên cao học người Việt mang tới cố vấn MAAS nhiều nhất. Bài viết này giúp bạn phân biệt hai loại khung, chọn đúng loại mà dissertation hay thesis của mình cần, và trình bày chúng sao cho người chấm theo được, qua bảy câu hỏi học viên hỏi nhiều nhất.
Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật lần cuối: 2026-06-24
Chuyên mục: research-methods

Khung khái niệm khác khung lý thuyết ở chỗ nào?
Trả lời trực tiếp: Khung lý thuyết là một lý thuyết có tên, đã được công nhận, mà bạn chọn từ tài liệu rồi áp dụng. Khung khái niệm là hệ thống khái niệm và mối quan hệ giữa chúng mà bạn dựng lên để trả lời một câu hỏi nghiên cứu. Khung lý thuyết là thứ bạn tìm và tiếp nhận, còn khung khái niệm là thứ bạn tự thiết kế từ lý thuyết, nghiên cứu trước và giả định của mình.


Bằng chứng: Varpio và cộng sự (2020) phân biệt hai khái niệm này rất chính xác. Theo nhóm tác giả, khung lý thuyết áp dụng một lý thuyết chính thức, có tên, làm lăng kính cho toàn bộ nghiên cứu, còn khung khái niệm là phần lập luận mà người nghiên cứu ghép lại từ nhiều nguồn tri thức. Cũng chính nhóm tác giả này giải thích vì sao người học cứ nhầm hai thứ với nhau: "However, all too often, these words are used interchangeably or without a clear understanding of the differences between these concepts" (Varpio et al., 2020, p. 989), nghĩa là các thuật ngữ này quá thường bị dùng thay cho nhau mà không ai hiểu rõ chúng khác nhau ở đâu. Grant và Osanloo (2014) hay được trích ở chỗ này, nhưng phép ẩn dụ ngôi nhà của hai tác giả chỉ nói về khung lý thuyết: "We believe the blueprint is an appropriate analogy of the theoretical framework of the dissertation" (Grant & Osanloo, 2014, p. 12). Khung khái niệm được hai tác giả định nghĩa ở một chỗ riêng, là cách người nghiên cứu hiểu vấn đề nên được khai thác theo hướng nào và các biến trong nghiên cứu liên hệ với nhau ra sao (Grant & Osanloo, 2014, p. 16).
Ví dụ: Một học viên thạc sĩ ngành Giáo dục người Việt tại University of Melbourne đã viết xong khung lý thuyết dựa trên lý thuyết văn hoá xã hội của Vygotsky, vậy mà supervisor, tức người hướng dẫn, vẫn yêu cầu thêm một khung khái niệm. Cố vấn MAAS chỉ cho bạn ấy thấy chỗ tách đôi. Vygotsky cung cấp lăng kính, còn khung khái niệm là sơ đồ nối sự hỗ trợ từng bước của giáo viên (teacher scaffolding), tương tác giữa các bạn học và tiến bộ về ngôn ngữ trong chính lớp học bạn ấy nghiên cứu. Cùng một lý thuyết, nhưng hai loại khung làm hai việc khác nhau.
| Tiêu chí | Khung lý thuyết | Khung khái niệm |
|---|---|---|
| Nguồn gốc | Chọn ra từ tài liệu đã có | Do người nghiên cứu tự dựng |
| Đơn vị cốt lõi | Một lý thuyết có tên, đã được công nhận | Các khái niệm, biến số và quan hệ giữa chúng |
| Nguồn tham chiếu | Một truyền thống lý thuyết | Lý thuyết, nghiên cứu trước, dữ liệu thử, giả định |
| Sản phẩm điển hình | Phần bàn luận về lý thuyết và lý do nó phù hợp | Một sơ đồ một trang kèm lập luận viết thành lời |
| Phù hợp nhất với | Nghiên cứu kiểm chứng hoặc mở rộng một lý thuyết đã biết | Nghiên cứu khám phá, định tính hoặc hỗn hợp |
Khi nào bạn cần khung lý thuyết, khi nào cần khung khái niệm, khi nào cần cả hai?
Trả lời trực tiếp: Hãy dùng khung lý thuyết khi một lý thuyết đã được công nhận khớp rõ với vấn đề của bạn và bạn định kiểm chứng, áp dụng hoặc mở rộng nó. Hãy dùng khung khái niệm khi không lý thuyết đơn lẻ nào khớp trọn, khi nghiên cứu mang tính khám phá hoặc hỗn hợp, hoặc khi bạn kết hợp ý tưởng từ nhiều truyền thống. Trước hết, hãy đọc quy ước riêng của chương trình mình.
Nhiều dissertation cần cả hai, gồm một mục lý thuyết gọi tên lăng kính và một sơ đồ khái niệm vận hành hoá lăng kính đó, tức biến lý thuyết thành những khái niệm cụ thể đo hoặc quan sát được. Việc kiểm tra quy ước của chương trình quan trọng vì một số khoa dùng hai cái nhãn này cho cùng một thứ.
Bằng chứng: Jabareen (2009) lập luận rằng khung khái niệm là công cụ phù hợp cho nghiên cứu định tính và liên ngành, nơi hiểu được hiện tượng quan trọng hơn dự đoán từ một lý thuyết đơn lẻ. Varpio và cộng sự (2020) lưu ý rằng các nghiên cứu định lượng kiểm định giả thuyết thường mở đầu bằng khung lý thuyết, còn nghiên cứu theo hướng diễn giải hay dựng khung khái niệm hơn.
Ví dụ: Một học viên ngành Y tế Công cộng người Việt tại UNSW nghiên cứu sự e ngại tiêm vắc-xin trong các cộng đồng di cư, nơi không lý thuyết đơn lẻ nào bao quát đủ các yếu tố văn hoá, thông tin và khả năng tiếp cận. Cố vấn MAAS gợi ý hướng khung khái niệm, và bạn ấy kết hợp Health Belief Model với các khái niệm về niềm tin và khả năng tiếp cận rút từ nghiên cứu di cư, vì nếu chỉ dùng một lý thuyết thì một nửa phát hiện của bạn ấy sẽ không có gì để giải thích.
Chọn loại khung nào cho dissertation của mình?
Trả lời trực tiếp: Hãy bắt đầu từ câu hỏi nghiên cứu chứ đừng bắt đầu từ việc thích một cái nhãn hơn. Bạn cần tự hỏi ba điều, gồm đã có lý thuyết nào giải thích được các mối quan hệ mình quan tâm chưa, mục tiêu của mình là kiểm chứng lý thuyết đó hay khám phá phần nó chưa phủ tới, và câu hỏi của mình trải qua bao nhiêu truyền thống nghiên cứu.
Nếu một lý thuyết đã khớp và bạn đang kiểm chứng nó, hãy mở đầu bằng khung lý thuyết. Nếu câu hỏi của bạn vươn qua nhiều lý thuyết hoặc chạm vào vùng chưa lý thuyết nào lập bản đồ, hãy dựng một khung khái niệm. Còn khi phân vân, cách an toàn là gọi tên lý thuyết mình dựa vào rồi dựng một mô hình cho thấy các khái niệm của lý thuyết đó áp vào trường hợp của mình ra sao.
Bằng chứng: Ravitch và Riggan (2017) đặt khung khái niệm vào vai trò lập luận cho câu hỏi vì sao nghiên cứu của bạn đáng làm và vì sao phương pháp của bạn trả lời được câu hỏi nghiên cứu. Đây là việc mà một lý thuyết mượn về không tự làm được, và nó phải do vấn đề nghiên cứu dẫn dắt chứ không do thói quen của ngành.
Ví dụ: Một học viên ngành Tài chính người Việt tại Monash nghĩ mình chỉ cần khung lý thuyết vì lý thuyết người đại diện (agency theory) nằm ở trung tâm đề tài. Cố vấn MAAS, một chuyên gia chiến lược tài chính cấp cao, chỉ ra rằng câu hỏi của bạn ấy còn kéo theo các yếu tố hành vi và thể chế mà agency theory không xét tới. Bạn ấy giữ agency theory làm lăng kính có tên và thêm một khung khái niệm tích hợp các khái niệm còn lại, khớp đúng với thiết kế nghiên cứu hỗn hợp (mixed methods) của mình.
Đi từ khung lý thuyết sang khung khái niệm bằng cách nào?
Trả lời trực tiếp: Hãy coi lý thuyết là vật liệu thô và khung khái niệm là cấu trúc bạn dựng từ vật liệu đó. Bạn lấy lý thuyết có tên, rút ra các khái niệm nó cung cấp, thêm khái niệm từ nghiên cứu trước và từ phần thử nghiệm (pilot) của chính mình, rồi vẽ ra những mối quan hệ bạn dự kiến sẽ quan sát được trong dữ liệu.
Khung lý thuyết cho bạn biết khái niệm nào quan trọng về mặt lý thuyết, còn khung khái niệm buộc bạn cam kết sẽ thật sự nghiên cứu những khái niệm nào trong số đó.
Bằng chứng: Maxwell (2013) gọi tên bốn nguồn mà mọi khung khái niệm đều rút từ đó, gồm lý thuyết và nghiên cứu đã có, hiểu biết từ trải nghiệm, kết quả thử nghiệm ban đầu và các thí nghiệm tư duy, nên lý thuyết chính thức chỉ là một đầu vào trong bốn. Miles và cộng sự (2020) khuyên vẽ các khái niệm thành những ô có nhãn, nối với nhau bằng mũi tên có hướng, để các mối quan hệ hiện ra rõ ràng.
Ví dụ: Một học viên thạc sĩ ngành AI người Việt tại University of Edinburgh xuất phát từ một lý thuyết về tính công bằng trong học máy nhưng không hình dung nổi nó sẽ thành một dissertation bằng cách nào. Cố vấn MAAS, một chuyên gia kiến trúc hệ thống AI, gợi ý bạn ấy liệt kê các khái niệm của lý thuyết, bỏ hai khái niệm bạn ấy không đo được, và thêm một khái niệm về bối cảnh rút từ nghiên cứu trước. Kết quả là một đề tài bạn ấy thật sự làm được.
Hai loại khung được trình bày khác nhau thế nào trong dissertation?
Trả lời trực tiếp: Khung lý thuyết thường được viết thành văn xuôi, trong đó bạn giới thiệu lý thuyết, giải thích các luận điểm chính, lập luận vì sao nó phù hợp và trích dẫn những người đề xuất ra nó. Khung khái niệm thường là một lập luận ngắn kèm sơ đồ một trang, mỗi khái niệm là một ô có nhãn và mỗi quan hệ là một mũi tên có hướng, cũng có nhãn.
Trong sơ đồ đó, đầu vào nằm bên trái và kết quả nằm bên phải. Cả hai loại khung đều thuộc về các chương đầu, đi cùng phần literature review (tổng quan tài liệu) và đứng trước chương methodology mà chúng có nhiệm vụ định hình.
Bằng chứng: Grant và Osanloo (2014) lập luận rằng khung mà một nghiên cứu theo đuổi phải chi phối chương phương pháp, chương phân tích và chương diễn giải, nên nó cần một cấu trúc trực quan để các chương sau còn quy chiếu về được. Miles và cộng sự (2020) coi bản đồ trực quan là công cụ phân tích cốt lõi chứ không phải đồ trang trí, vì khi vẽ, người nghiên cứu buộc phải cam kết vào những mối quan hệ cụ thể.
Ví dụ: Một học viên ngành Kinh doanh người Việt tại University of Manchester viết ba trang lý thuyết nhưng không có sơ đồ nào, nên người chấm không thấy lý thuyết đó áp vào đâu. Cố vấn MAAS, một chuyên gia chiến lược kinh doanh, góp ý rằng phần lý thuyết nên giữ nguyên và cần thêm một sơ đồ khái niệm. Bạn ấy vẽ một sơ đồ năm ô, trong đó mọi mũi tên đều truy ngược được về lý thuyết dựa trên nguồn lực (resource-based theory) hoặc về các cuộc phỏng vấn thử của mình. Nhận xét của người chấm đổi từ "abstract" (trừu tượng) sang "clear and defensible" (rõ ràng và bảo vệ được).
Supervisor và người chấm đánh giá từng loại khung ra sao?
Trả lời trực tiếp: Với khung lý thuyết, người chấm xem lý thuyết đã được công nhận chưa, được trình bày đúng chưa, có trích về đúng người đề xuất không và có thật sự khớp với vấn đề không. Với khung khái niệm, họ xem mỗi khái niệm có nguồn không, mỗi quan hệ có được lập luận không, và mô hình đã đủ tập trung để nghiên cứu được chưa.
Họ cũng xem khung khái niệm có quay lại trong chương phân tích và chương bàn luận hay không. Cách nhanh nhất để mất điểm ở cả hai loại khung là thiếu mạch lạc, chẳng hạn gọi tên một lý thuyết rồi không bao giờ dùng tới, hoặc vẽ một sơ đồ rồi không nhắc lại sau chương hai.
Bằng chứng: Ravitch và Riggan (2017) nhận xét rằng điểm yếu phổ biến nhất trong khung khái niệm của người học là coi nó như một chương viết một lần cho xong, thay vì coi nó là mạch lập luận dẫn đường mà cả dissertation phải phản chiếu.
Ví dụ: Một nghiên cứu sinh DBA người Việt tại University of Sunderland trình bày một khung khái niệm chắc chắn ở chương hai rồi không nhắc lại lần nào nữa. Cố vấn MAAS gợi ý thêm một đoạn ở đầu chương phân tích và một đoạn trong chương bàn luận, mỗi đoạn trỏ ngược về những mũi tên cụ thể. Bạn ấy chỉ viết thêm đúng phần nối đó, và bản thesis sửa lại được chấp nhận với các chỉnh sửa nhỏ.
Người học hay mắc lỗi gì khi nhầm hai loại khung?
Trả lời trực tiếp: Có bốn lỗi chiếm phần lớn. Lỗi đầu tiên là gọi một mô hình tự dựng là "khung lý thuyết" trong khi nó không mượn lý thuyết có tên nào. Lỗi thứ hai là nêu tên một lý thuyết lớn rồi không bao giờ dùng tới các khái niệm của nó. Lỗi thứ ba là dựng khung khái niệm với những ô không có nguồn, khiến mô hình đọc ra như ý kiến cá nhân.
Lỗi thứ tư là mặc định hai cái nhãn thay thế được cho nhau rồi bỏ qua yêu cầu của supervisor. Cách chữa cả bốn lỗi là gọi đúng tên những gì mình làm: nếu đã dùng một lý thuyết thì nói rõ và dùng nó thật, còn nếu tự dựng mô hình thì dẫn nguồn cho từng bộ phận của mô hình.
Bằng chứng: Varpio và cộng sự (2020) cho rằng phần lớn sự nhầm lẫn đến từ cách dùng thiếu chính xác và lẫn lộn giữa "theory", "theoretical framework" và "conceptual framework" ở các ngành khác nhau, và đề nghị tác giả nói rõ mình đang dùng loại nào và vì sao. Maxwell (2013) cảnh báo riêng về những khung chỉ dựng từ lý thuyết đã có mà bỏ qua hiểu biết từ trải nghiệm và dữ liệu thử của chính người nghiên cứu.
Ví dụ: Một học viên ngành Giáo dục người Việt tại UCL gọi sơ đồ bốn ô của mình là khung lý thuyết, dù sơ đồ không mượn lý thuyết có tên nào. Cố vấn MAAS chỉ ra chỗ lệch nhãn, và bạn ấy đổi tên sơ đồ thành khung khái niệm, rồi thêm một mục lý thuyết ngắn gọi tên lý thuyết học tập mà sơ đồ dựa vào. Khi thuật ngữ đã khớp với nội dung, sự bối rối của người chấm ở vòng đầu không còn.
Câu hỏi thường gặp
Một dissertation có thể có cả khung khái niệm lẫn khung lý thuyết không?
Có, và nhiều dissertation tốt làm đúng như vậy. Khung lý thuyết gọi tên lý thuyết đã được công nhận mà bạn dựa vào, còn khung khái niệm cho thấy các khái niệm trong nghiên cứu của bạn nối với nhau ra sao, thường là để vận hành hoá chính lý thuyết đó. Bạn trình bày lý thuyết trước, rồi tới mô hình khái niệm áp dụng nó.
Khung khái niệm có phải chỉ là khung lý thuyết kèm thêm sơ đồ không?
Không. Khung khái niệm có thể chứa một lý thuyết nhưng rộng hơn, vì nó tích hợp nghiên cứu trước, dữ liệu thử và giả định của bạn vào một mô hình dựng riêng cho một câu hỏi. Sơ đồ chỉ tóm tắt lại lập luận đó.
Loại nào viết trước trong quá trình làm bài?
Thường là khung lý thuyết, vì bạn cần biết mình dựa vào lý thuyết nào trước khi dựng được mô hình từ nó. Trên thực tế, hai phần phát triển song song khi câu hỏi nghiên cứu sắc dần lên.
Nghiên cứu định lượng có dùng khung khái niệm không?
Có. Trong dissertation định lượng, các mũi tên của khung khái niệm thường trở thành giả thuyết kiểm định được và các ô trở thành biến số đo được, còn khung lý thuyết cung cấp lý thuyết đang được kiểm chứng.
Nếu supervisor dùng hai thuật ngữ thay cho nhau thì sao?
Bạn theo quy ước đặt nhãn của khoa mình, nhưng giữ mạch lập luận rõ ràng, tức là nói rõ mình dựa vào lý thuyết có tên nào và cho thấy các khái niệm của lý thuyết đó áp vào nghiên cứu của mình ra sao. Nội dung quan trọng hơn cái nhãn.
MAAS có giúp tôi quyết định mình cần loại khung nào không?
Có. Dịch vụ Academic Mentoring của MAAS và trung tâm tài nguyên Dissertation Mentoring có phần hướng dẫn theo cấu trúc về chọn khung, gọi tên lý thuyết, vẽ bản đồ khái niệm và căn khớp cả hai với phương pháp theo từng phase, kèm phản hồi từ cố vấn trình độ tiến sĩ trong vòng 48 giờ.
Hướng dẫn này dựa trên đâu
Cách phân biệt trình bày ở trên dựa trên sáu nguồn trải từ 2009 đến 2020 chứ không dựa trên quy ước của riêng một trường nào. Varpio và cộng sự (2020) cùng Jabareen (2009) đều đăng trên tạp chí về phương pháp, cách nhau mười một năm, lần lượt là Academic Medicine và International Journal of Qualitative Methods, còn Grant và Osanloo (2014) đăng trên Administrative Issues Journal. Ravitch và Riggan (2017), Maxwell (2013) và Miles cùng cộng sự (2020) là sách chuyên khảo về thiết kế nghiên cứu chứ không phải bài báo, nên phần hướng dẫn của họ rộng hơn một lập luận đơn lẻ.
Cố vấn MAAS hỗ trợ quyết định về khung ra sao?
Cùng chuyên gia MAAS, bạn đi qua lựa chọn này dưới dạng trao đổi hướng dẫn chứ không phải giao việc cho người khác làm. Hai bên cùng thử xem một lý thuyết có đủ khớp không, bạn dựng một mô hình khái niệm bảo vệ được khi lý thuyết không khớp, và kiểm xem cả hai có quay lại trong chương phương pháp cùng chương bàn luận hay không. Mạng lưới của MAAS có hơn 100 chuyên gia, trong đó 23% có bằng tiến sĩ. Mỗi lần đồng hành chạy theo từng phase: bạn tự viết, chuyên gia hướng dẫn và nhận xét, và bạn nhận bản ghi của mỗi buổi sau khi buổi đó kết thúc. Quyền tác giả thuộc về bạn từ đầu tới cuối.
Sẵn sàng chốt xem dissertation của bạn cần loại khung nào? Đặt lịch tư vấn miễn phí 15 phút, mang theo câu hỏi nghiên cứu của bạn, và MAAS sẽ ghép bạn với một cố vấn cùng ngành trong vòng 48 giờ nếu mạng lưới đã có người ở lĩnh vực đó. Nếu chưa có, MAAS mở một đợt tuyển riêng cho trường hợp của bạn, thường mất khoảng hai tuần.
Tài nguyên liên quan
- Hướng dẫn viết khung khái niệm: dựng mô hình khi bạn đã xác định là mình cần nó
- Hướng dẫn viết khung lý thuyết: chương lý thuyết có tên mà khung khái niệm vận hành hoá
- Hướng dẫn viết câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu: câu hỏi mà khung của bạn phải trả lời
- Hướng dẫn viết chương phương pháp nghiên cứu: nơi mũi tên trở thành giả thuyết và biến số đo được
- Dịch vụ Academic Mentoring: hướng dẫn 1 kèm 1 với cố vấn trình độ tiến sĩ
- Gặp đội ngũ cố vấn của MAAS: năng lực chuyên môn đứng sau phần tư vấn của MAAS
Tài liệu tham khảo
- Grant, C., & Osanloo, A. (2014). Understanding, selecting, and integrating a theoretical framework in dissertation research: Creating the blueprint for your "house". Administrative Issues Journal: Connecting Education, Practice, and Research, 4(2), 12–26. https://doi.org/10.5929/2014.4.2.9
- Jabareen, Y. (2009). Building a conceptual framework: Philosophy, definitions, and procedure. International Journal of Qualitative Methods, 8(4), 49–62. https://doi.org/10.1177/160940690900800406
- Maxwell, J. A. (2013). Qualitative research design: An interactive approach (3rd ed.). SAGE Publications.
- Miles, M. B., Huberman, A. M., & Saldaña, J. (2020). Qualitative data analysis: A methods sourcebook (4th ed.). SAGE Publications.
- Ravitch, S. M., & Riggan, M. (2017). Reason & rigor: How conceptual frameworks guide research (2nd ed.). SAGE Publications.
- Varpio, L., Paradis, E., Uijtdehaage, S., & Young, M. (2020). The distinctions between theory, theoretical framework, and conceptual framework. Academic Medicine, 95(7), 989–994. https://doi.org/10.1097/ACM.0000000000003075
Bài viết này thuộc loạt MAAS Journal dành cho học viên cao học người Việt đang du học. MAAS Academic Mentoring là đối tác cố vấn: chúng tôi hướng dẫn học viên theo mô hình đồng hành từng phase, kèm phản hồi mang tính phát triển từ cố vấn trình độ tiến sĩ. Chúng tôi không viết bài, không nộp bài và không cam kết điểm số thay cho học viên.
