Mô tả môn COMM2939 của RMIT mở đầu bằng một câu mà bản thân nó cũng là tiêu chí chấm: ai trong chúng ta cũng tiếp xúc với môi trường số hằng ngày, nhưng truyền thông số ở mức chuyên nghiệp đòi hỏi kiến thức và kỹ năng nâng cao mới làm được việc. Đọc như một chỉ dẫn, câu đó nói rằng trải nghiệm dùng nền tảng hằng ngày là điểm xuất phát của COMM2939 chứ không phải chỗ dựa bằng chứng cho bài của bạn, đúng với điều Henry Jenkins (2006) gọi là hội tụ truyền thông: ranh giới cũ giữa người xem và người sản xuất nội dung không còn rõ như trước. Phần lớn bài năm nhất bị trừ điểm là trừ ngay ở chỗ này, vì viết với tư cách một người dùng có kinh nghiệm thay vì một người đánh giá vấn đề số dựa trên bằng chứng. Bài này trả lời bảy câu hỏi mà sinh viên Việt Nam học COMM2939 hỏi mentor MAAS nhiều nhất.
Tác giả: Ban biên tập MAAS · Hiệu đính bởi mentor chuyên môn của MAAS
Cập nhật: 31/07/2026
Chuyên mục: communication-pr

COMM2939 là môn gì, và nằm ở đâu trong chương trình?
Trả lời trực tiếp: COMM2939 là mã môn RMIT của Introduction to Digital Communication, môn bậc đại học năm nhất dạy tại RMIT Việt Nam cơ sở Nam Sài Gòn, thuộc chương trình Cử nhân Professional Communication (BP354). COMM2940 là cùng môn ở cơ sở Hà Nội, COMM2906 ở Melbourne City. Môn nhập môn năm nhất không chấm nhẹ tay, mà chấm theo việc bạn đã bắt đầu tư duy như người làm nghề hay chưa, không theo lượng kiến thức đã biết.
Bằng chứng: Bản ghi 055681 trong handbook của RMIT nêu rằng môn học giới thiệu về ứng xử nghề nghiệp, các vấn đề xã hội then chốt và những ứng dụng sáng tạo trong truyền thông số, phát triển hiểu biết của bạn về truyền thông số trong bối cảnh nghề nghiệp, ngành và xã hội, mở rộng hiểu biết về việc các nền tảng và dịch vụ số định hình đời sống hằng ngày ra sao, giới thiệu những khái niệm nền tảng của truyền thông số và thực hành nghề nghiệp, đồng thời phát triển kỹ năng phản biện để tạo và quản lý nội dung số hấp dẫn, cùng với việc đánh giá các vấn đề số dựa trên bằng chứng và phân tích. Trong BP354, COMM2939 nằm ở khối năm nhất cạnh Introduction to Advertising và Introduction to Public Relations, trước các môn chuyên sâu như Precision Writing for Digital Engagement và Social Media Communication.
Ngay cả thuật ngữ "nền tảng mạng xã hội" cũng có định nghĩa học thuật cụ thể: boyd và Ellison (2007), công bố trên Journal of Computer-Mediated Communication, định nghĩa nó qua ba đặc điểm là hồ sơ công khai, danh sách kết nối và khả năng duyệt qua danh sách đó.
Ví dụ: Một bạn nói với mentor rằng bạn không lo COMM2939 vì đã tự chạy một trang Instagram từ hồi cấp ba. Bản nháp đầu của bạn lập luận rằng video ngắn hiệu quả vì nó giữ được sự chú ý, và chỗ dựa duy nhất là kinh nghiệm đăng bài của chính bạn. Câu hỏi từ phía người hướng dẫn rất gọn: người chấm sẽ kiểm chứng khẳng định đó bằng cách nào. Việc chạy trang là bối cảnh hữu ích. Nó không phải bằng chứng.
Vì sao "em dùng mấy nền tảng này hằng ngày" lại phản tác dụng?
Trả lời trực tiếp: Bởi vì quen thuộc và thành thạo là hai chuyện khác nhau, và tài liệu nghiên cứu nói về chuyện này rất thẳng. Một bài năm nhất dựa vào trải nghiệm dùng nền tảng của bản thân là đang mắc đúng cái giả định mà cả một lĩnh vực đã mất hai thập kỷ để tháo gỡ. Marshall McLuhan (1964) từng lập luận rằng bản thân phương tiện truyền tải cũng mang thông điệp, không chỉ nội dung nó chở theo, nên việc bạn quen tay với một nền tảng chưa nói được gì về việc bạn hiểu nó vận hành ra sao.
Bennett và cộng sự (2008), qua bài công bố trên British Journal of Educational Technology, rà soát bằng chứng đứng sau khẳng định phổ biến rằng một thế hệ lớn lên cùng công nghệ sẽ có sẵn kỹ năng kỹ thuật tinh vi, cái nhãn mà Prensky (2001) gọi là người bản địa số khi ông đặt ra thuật ngữ này trên tạp chí On the Horizon, và thấy khẳng định ấy chỉ dựa trên bằng chứng thực nghiệm ít ỏi, giai thoại và những viện dẫn cảm tính thông thường. Nguyên văn của nhóm tác giả là "the debate can be likened to an academic form of a 'moral panic'" (Bennett et al., 2008), và họ kết luận rằng cách dùng cùng kỹ năng của người trẻ không hề đồng nhất, không có bằng chứng nào cho thứ chuyên môn kỹ thuật đồng loạt mà cái nhãn ấy ngụ ý.
Kirschner và De Bruyckere (2017), qua bài trên Teaching and Teacher Education, nói thẳng hơn: không tồn tại cái gọi là người bản địa số thành thạo thông tin. Luận điểm của họ quan trọng với bài của bạn ở hệ quả đi kèm. Những kỹ năng vẫn được gán cho thế hệ này cũng giống mọi kỹ năng khác, tức là phải được dạy và được tiếp thu tử tế thì mới dùng được. Thạo thao tác một nền tảng không đồng nghĩa với phân tích được nó, điều mà cuốn sách về đời sống mạng xã hội của giới trẻ do Yale University Press ấn hành cũng nêu khi bàn tới cùng chủ đề (boyd, 2014): dùng thành thạo và hiểu được cơ chế đứng sau là hai năng lực tách rời nhau.
Đó chính là bước chuyển mà COMM2939 đang đánh giá. Bạn đi từ vị trí người dùng, người biết cảm giác dùng một nền tảng ra sao, sang vị trí người phân tích, người nói được nền tảng ấy làm gì, với ai, dựa trên bằng chứng nào.
Ví dụ: Một bạn viết rằng thuật toán TikTok "cho bạn xem thứ bạn muốn xem". Bạn được đề nghị nói lại đúng ý đó theo cách kiểm chứng được, và nêu rõ khẳng định lấy từ đâu. Câu viết lại mô tả một cơ chế gợi ý đã được ghi nhận, có dẫn nguồn, và đánh dấu rõ phần nào là suy luận riêng của bạn. Vẫn ý đó, giờ đã chấm được.
"Đánh giá vấn đề số dựa trên bằng chứng" thực chất đòi hỏi gì?
Trả lời trực tiếp: "Đánh giá vấn đề số dựa trên bằng chứng" đòi một phương pháp thẩm định nguồn, không chỉ đòi thiện chí trích dẫn. Phương pháp hữu ích nhất đã được nghiên cứu trực tiếp, và nó không phải cách phần lớn sinh viên đang làm.

Wineburg và McGrew (2019), nhóm nghiên cứu gắn với Stanford History Education Group công bố trên Teachers College Record, so sánh cách 45 người dùng internet nhiều kinh nghiệm thẩm định các trang web thật: 10 tiến sĩ sử học, 10 người kiểm chứng thông tin chuyên nghiệp, và 25 sinh viên năm nhất. Nhóm sử học và nhóm sinh viên đọc theo chiều dọc, tức ở lại trong trang và soi nội dung để phán đoán độ tin cậy, và cả hai nhóm đều thường bị đánh lừa bởi những dấu hiệu bề mặt như logo trông chính thống hay tên miền nghe uy tín. Nhóm kiểm chứng đọc theo chiều ngang, tức rời trang sau khi lướt nhanh rồi mở các tab mới để tìm hiểu ai đứng sau trang đó. Họ đi tới kết luận có cơ sở hơn trong một phần nhỏ thời gian.
Đáng chú ý là bên thua ở đây lại không phải nhóm ta nghĩ. Không phải sinh viên cẩu thả, mà là các tiến sĩ sử học dùng một phương pháp cẩn thận nhưng không hợp với môi trường này. Bài học cho COMM2939 là thẩm định nguồn trên web là một kỹ thuật riêng, và kỹ thuật đó là rời khỏi trang.
Cass Sunstein (2001) cảnh báo về nguy cơ ngược lại: gõ đúng từ khoá quen thuộc mà không rời trang có thể chỉ đưa bạn quanh quẩn trong một buồng vọng âm. Ba thao tác từ nghiên cứu ấy đáng áp thẳng vào phần tìm tài liệu của bạn:
| Thao tác | Nghĩa là gì | Trông ra sao trong bài của bạn |
|---|---|---|
| Định vị trước | Có kế hoạch trước khi lao vào nội dung lạ | Quyết định thế nào mới là nguồn đáng tin cho khẳng định này, trước khi đi tìm |
| Đọc theo chiều ngang | Rời trang để phán đoán chính trang đó | Trước khi trích một báo cáo ngành, tra xem ai tài trợ cho tổ chức phát hành nó |
| Kìm tay không bấm vội | Đọc hết danh sách kết quả rồi mới bấm | Đừng trích kết quả đầu tiên, hãy quét toàn cảnh rồi mới chọn |
Ví dụ: Một nhóm trích một con số về mức dùng mạng xã hội ở Việt Nam từ blog của một agency marketing. Nhóm được yêu cầu dành năm phút tra xem agency đó là ai và con số ban đầu đến từ đâu. Dấu vết dừng lại ở một khảo sát do chính agency đặt hàng để quảng bá dịch vụ của họ. Nhóm giữ lại luận điểm và thay nguồn.
Những kiểu hỏng thường gặp ở môn này là gì?
Trả lời trực tiếp: Bốn kiểu, và chúng chung một gốc, đó là coi thế giới số như thứ mình đã biết sẵn thay vì thứ mình đang đi tìm hiểu.
- Lấy trải nghiệm cá nhân làm bằng chứng. Việc bạn dùng một nền tảng là một quan sát hợp lệ để nêu ra. Nó không phải chỗ dựa cho một khẳng định chung về công chúng.
- Mô tả nền tảng thay vì phân tích vấn đề. Một mục giải thích một tính năng vận hành ra sao, mà không có lập luận nào về việc nó tác động tới ai, là đã trả lời một câu hỏi kỹ thuật chứ không phải câu hỏi truyền thông. Sherry Turkle (2011) cảnh báo đúng về nguy cơ này: mô tả càng chi tiết về công nghệ càng dễ che mất câu hỏi thật, đó là công nghệ đang làm gì với các mối quan hệ của con người.
- Nhầm mới với hợp. Một nguồn từ tháng trước không tự động tốt hơn nguồn năm năm trước. Câu hỏi là khẳng định mà nó chống đỡ còn đứng vững hay không.
- Coi "số" là một khối duy nhất. COMM2939 hỏi riêng về bối cảnh nghề nghiệp, bối cảnh ngành và bối cảnh xã hội, bởi cùng một nền tảng lại vận hành khác nhau trong từng bối cảnh, đúng như Manuel Castells (1996) mô tả khi ông nói về một xã hội được tổ chức quanh mạng lưới thay vì quanh một trung tâm duy nhất: cùng một kết nối số phục vụ những logic rất khác nhau tuỳ vào bối cảnh nó vận hành.
Ví dụ: Bản nháp của một bạn về tin sai lệch mô tả rất kỹ cơ chế của một tính năng chia sẻ mà không hề nói ai chịu thiệt và dựa trên bằng chứng nào. Buổi hướng dẫn chỉ có đúng một câu hỏi: vấn đề ở đây là gì, và ai đang gặp nó. Bản viết lại rút phần mô tả tính năng xuống còn hai câu và dành phần còn lại cho chính vấn đề.
Xử lý phần ứng xử nghề nghiệp thế nào cho khỏi thành bảng nội quy?
Trả lời trực tiếp: Hãy coi ứng xử nghề nghiệp là một loạt phán đoán có hệ quả, không phải một bảng đánh dấu tuân thủ. COMM2939 xếp ứng xử nghề nghiệp cạnh các vấn đề xã hội và ứng dụng sáng tạo, và cách xếp đó báo hiệu môn đòi lập luận chứ không đòi thuộc bài. Erving Goffman (1959) mô tả việc trình hiện bản thân trước công chúng như một chuỗi lựa chọn có tính toán, và một tài khoản nghề nghiệp trên mạng xã hội là đúng loại sân khấu ông nói tới.
Nước đi hiệu quả là viết phần ứng xử vào ngay trong phân tích thay vì gắn một đoạn đạo đức vào cuối bài. Khi bạn mô tả một quyết định truyền thông, hãy nói người làm nghề nợ công chúng điều gì ở thời điểm ấy, sức ép nào kéo về hướng ngược lại, và bạn sẽ giải quyết ra sao. Viết như vậy chính là thực hành nghề nghiệp. Một đoạn kết riêng mở đầu bằng "về mặt đạo đức, cần cân nhắc rằng" lộ ra ngay là phần gắn thêm, và người chấm đã đọc rất nhiều đoạn như thế.
Ví dụ: Một bạn gắn một đoạn về tính minh bạch vào cuối bài phân tích tình huống. Người hướng dẫn chuyển đúng nội dung đó lên mục mà thương hiệu đã chọn không công bố quan hệ tài trợ, rồi hỏi bạn phương án thay thế sẽ khiến thương hiệu mất gì. Số chữ gần như không đổi. Mục đó trở thành một lập luận.
Bài năm nhất nên đưa bao nhiêu lý thuyết?
Trả lời trực tiếp: Đủ để bạn có vốn từ chính xác tới mức làm cho khẳng định kiểm chứng được, không hơn. Các khái niệm nền tảng có mặt để bạn nói được điều gì cụ thể, không phải để trưng ra.
Một phép thử dùng được: với mỗi khái niệm bạn gọi tên, thử xoá tên đó đi và xem câu văn có mơ hồ hơn không. Nếu câu vẫn nguyên vẹn khi không có nó thì khái niệm ấy chỉ là trang trí. Người chấm năm nhất nhìn chung ấn tượng với một khung được dùng tử tế xuyên suốt bài phân tích hơn là năm khung được định nghĩa ở phần mở đầu rồi không bao giờ dùng lại.
Ví dụ về gọi tên chính xác: thay vì viết chung chung rằng công chúng chủ động chọn nội dung, hãy gọi đúng khung đang dùng, chẳng hạn Uses and Gratifications Theory mà Blumler và Katz (1974) tập hợp lại trong một tuyển tập do Sage Publications ấn hành, trong đó người dùng chọn một nền tảng để thỏa mãn một nhu cầu cụ thể chứ không bị nền tảng thụ động dẫn dắt. Với một lập luận về gọi video call thay vì nhắn tin, khung phù hợp hơn có thể là Social Presence Theory mà Williams và Christie (1976) đặt nền móng, đo mức độ một kênh truyền tải được sự hiện diện của người đối thoại, gần với Media Richness Theory mà Daft và Lengel (1986) đề xuất sau đó để xếp hạng kênh theo lượng tín hiệu nó mang được. Còn khi bài của bạn bàn về tốc độ một xu hướng lan trên nền tảng, Everett Rogers (1962) với lý thuyết khuếch tán đổi mới là khung đáng gọi tên hơn là chỉ nói nền tảng đó "viral".
Hãy trích dẫn nhất quán theo đúng chuẩn mà class guide của bạn quy định, và xác nhận chuẩn đó trên Canvas thay vì mặc định. Dẫn nguồn cho mọi khẳng định về thực tế, gồm cả những con số bạn tìm thấy trong tài liệu ngành, kèm nguồn và ngày.
Ví dụ: Một bạn mở bài bằng định nghĩa sáu khái niệm, rồi viết một phần phân tích không dùng khái niệm nào. Phần định nghĩa bị cắt xuống còn hai khái niệm bạn thật sự áp dụng, và đề nghị bạn dùng mỗi khái niệm ít nhất hai lần trong phần thân. Bản nháp mất 300 chữ và lên một bậc điểm.
Cấu trúc nào hợp cho bài COMM2939?
Trả lời trực tiếp: Hãy dựng bài sao cho vấn đề dẫn dắt phân tích, không phải nền tảng dẫn dắt:
- Vấn đề. Điều gì đang bị đặt lên bàn cân, với ai, nêu ở dạng có thể đúng hoặc sai.
- Bối cảnh. Nghề nghiệp, ngành hay xã hội, và nói rõ bạn đang làm việc trong bối cảnh nào, kể cả khi câu hỏi thật ra là liệu một nền tảng có đóng vai không gian công cộng theo nghĩa Jürgen Habermas (1989) từng bàn hay không.
- Bằng chứng. Nguồn đã thẩm định theo chiều ngang, kèm một câu nói vì sao nguồn đó đáng tin.
- Phân tích. Bằng chứng cho thấy điều gì, gồm cả những gì đi ngược lập luận của bạn, kể cả khi nó chỉ ra một cơ chế cũ hơn nền tảng số, như thuyết truyền thông hai bước mà Katz và Lazarsfeld (1955) đề xuất, trong đó người có ảnh hưởng lọc thông điệp trước khi tới đám đông.
- Hàm ý nghề nghiệp. Người làm nghề nên làm khác đi ra sao, và cái giá của việc đó.
- Giới hạn. Bằng chứng của bạn không nói được điều gì.
Hãy kiểm tra lại danh sách bài, trọng số và chuẩn đầu ra của chính lớp mình trên Canvas. Class guide thay đổi theo từng học kỳ, và COMM2939 chạy ba học kỳ mỗi năm tại Việt Nam.
Ví dụ: Một bạn đã viết được phần phân tích khá chắc nhưng tiêu đề mục nào cũng lấy nền tảng làm chủ ngữ. Bạn được đề nghị viết lại các tiêu đề sao cho mỗi tiêu đề gọi tên một vấn đề. Bạn sửa sáu dòng. Cả tài liệu tự sắp xếp lại quanh một lập luận.
Câu hỏi thường gặp
COMM2939 có phải là COMM2940 không?
Đúng, cùng một môn ở hai cơ sở RMIT Việt Nam khác nhau. COMM2939 học tại Nam Sài Gòn còn COMM2940 học tại cơ sở Hà Nội. Hãy kiểm tra mã của chính bạn trên Canvas trước khi trích vào bài.
Môn năm nhất có được chấm nhẹ tay hơn không?
Không theo cách sinh viên hay mong. Kỳ vọng về độ sâu thì thấp hơn, nhưng kỳ vọng về phương pháp thì không. Người chấm COMM2939 đang tìm xem bạn đã bắt đầu tìm nguồn và lập luận như một người làm truyền thông hay chưa.
Em viết về nền tảng em dùng nhiều được không?
Được, và thường ra bài tốt hơn vì bạn để ý được nhiều thứ. Luật ở đây là sự quen thuộc của bạn sinh ra câu hỏi, còn bằng chứng bên ngoài mới trả lời câu hỏi ấy.
Em dùng chính tài khoản mạng xã hội của mình làm nghiên cứu tình huống được không?
Chỉ khi đề bài cho phép, và bạn phải xử lý dữ liệu của chính mình với đúng mức hoài nghi dành cho dữ liệu của người khác. Nancy Baym (2015) gọi đúng vào việc này khi bàn về cách các mối quan hệ cá nhân dịch chuyển qua nền tảng số. Nêu rõ bao nhiêu bài, trong khoảng thời gian nào, và mẫu đó không nói lên được điều gì.
Nguồn của em cần mới tới mức nào?
Mới đủ để khẳng định còn đứng vững. Một nghiên cứu năm 2015 về một tính năng nay không còn tồn tại là chỗ dựa yếu, còn một nghiên cứu năm 2008 về cách chuyên môn hình thành thì không hề cũ. Với số liệu hành vi mạng xã hội, ưu tiên khảo sát định kỳ của những tổ chức như Pew Research Center hơn một con số lẻ trích lại nhiều lần qua các bài blog.
Cách sửa bản nháp nhanh nhất là gì?
Gạch chân mọi khẳng định chung về công chúng hoặc nền tảng, rồi kiểm từng cái xem có nguồn nào không phải chính bạn, đúng phép đọc theo chiều ngang mà Sam Wineburg (2019) mô tả. Chỗ nào còn trơ ra không có chỗ dựa, chỗ đó là chỗ điểm đang đi mất.
MAAS đồng hành với sinh viên COMM2939 thế nào
MAAS làm việc với sinh viên RMIT Việt Nam ở vai trò mentor và cố vấn học thuật. Với một môn năm nhất, việc đó thường là giúp bạn thực hiện đúng bước chuyển mà COMM2939 đang đánh giá: từ viết như một người dùng nền tảng sang viết như một người đánh giá vấn đề dựa trên bằng chứng. Trên thực tế nghĩa là soi xem khẳng định nào của bạn có chỗ dựa và khẳng định nào chỉ là thói quen, chỉ cho bạn cách thẩm định một nguồn theo chiều ngang trước khi dựng lập luận lên nó, và đọc lại bản nháp do chính bạn viết đối chiếu với chuẩn đầu ra để bạn thấy chỗ nào người chấm sẽ đòi bằng chứng. Bạn tự tìm hiểu và tự viết bài. Việc của mentor là đặt trước những câu hỏi mà người chấm sẽ đặt, đủ sớm để bạn còn kịp trả lời.
Nếu bạn muốn có một lượt đọc thứ hai, hãy mang theo brief và bản nháp hiện tại. Chúng tôi ghép bạn với mentor đúng chuyên ngành trong vòng 48 giờ khi mạng lưới đã có người phù hợp, hoặc khoảng 2 tuần nếu MAAS phải mở một đợt tuyển riêng, buổi trao đổi 20 phút đầu tiên miễn phí, và phần hỗ trợ đi kèm cam kết ba mức Pass, Merit, Distinction cùng 45 ngày hỗ trợ sau khi nộp bài. Khoảng 23% mạng lưới chuyên gia của MAAS có bằng Tiến sĩ. Bắt đầu ở trang dịch vụ academic mentoring, hoặc đọc bài hướng dẫn cho hai môn đi sau COMM2939 trong cùng chuyên ngành là COMM2953 Precision Writing for Digital Engagement và COMM2955 Social Media Communication. Về kỹ năng nền là đọc ra đề bài thực sự yêu cầu gì, xem bài giải mã động từ đề bài.
References
Bennett, S., Maton, K., & Kervin, L. (2008). The 'digital natives' debate: A critical review of the evidence. British Journal of Educational Technology, 39(5), 775–786. https://doi.org/10.1111/j.1467-8535.2007.00793.x
Prensky, M. (2001). Digital natives, digital immigrants. On the Horizon, 9(5), 1–6. https://doi.org/10.1108/10748120110424816
boyd, d. (2014). It's complicated: The social lives of networked teens. Yale University Press.
Blumler, J. G., & Katz, E. (Eds.). (1974). The uses of mass communications: Current perspectives on gratifications research. Sage Publications.
Short, J., Williams, E., & Christie, B. (1976). The social psychology of telecommunications. Wiley.
McLuhan, M. (1964). Understanding media: The extensions of man. McGraw-Hill.
Castells, M. (1996). The rise of the network society. Blackwell Publishers.
Goffman, E. (1959). The presentation of self in everyday life. Anchor Books.
Jenkins, H. (2006). Convergence culture: Where old and new media collide. New York University Press.
Baym, N. K. (2015). Personal connections in the digital age (2nd ed.). Polity Press.
Turkle, S. (2011). Alone together: Why we expect more from technology and less from each other. Basic Books.
boyd, d., & Ellison, N. B. (2007). Social network sites: Definition, history, and scholarship. Journal of Computer-Mediated Communication, 13(1), 210–230. https://doi.org/10.1111/j.1083-6101.2007.00393.x
Daft, R. L., & Lengel, R. H. (1986). Organizational information requirements, media richness and structural design. Management Science, 32(5), 554–571.
Rogers, E. M. (1962). Diffusion of innovations. Free Press.
Katz, E., & Lazarsfeld, P. F. (1955). Personal influence: The part played by people in the flow of mass communications. Free Press.
Habermas, J. (1989). The structural transformation of the public sphere: An inquiry into a category of bourgeois society (T. Burger, Trans.). MIT Press. (Original work published 1962)
Sunstein, C. R. (2001). Republic.com. Princeton University Press.
Kirschner, P. A., & De Bruyckere, P. (2017). The myths of the digital native and the multitasker. Teaching and Teacher Education, 67, 135–142. https://doi.org/10.1016/j.tate.2017.06.001
Wineburg, S., & McGrew, S. (2019). Lateral reading and the nature of expertise: Reading less and learning more when evaluating digital information. Teachers College Record, 121(11). https://doi.org/10.1177/016146811912101102
Tools & resources
- RMIT Handbook, bản ghi môn Introduction to Digital Communication: https://handbook.rmit.edu.au/ords/r/rmit/catalogue/course?p6_code=055681
- Cử nhân Professional Communication (RMIT Việt Nam): https://www.rmit.edu.vn/study-at-rmit/undergraduate-programs/bachelor-professional-communication
- Course guide và class guide của RMIT Việt Nam: https://www.rmit.edu.vn/students/my-studies/program-course-information/course-guides
