Skip to content
Quay lại BlogGeneral

COMM2939 Introduction to Digital Communication: tiếp cận bài assignment thế nào?

16 phút đọc3,142 từ

Mô tả môn COMM2939 của RMIT mở đầu bằng một câu mà bản thân nó cũng là tiêu chí chấm: ai trong chúng ta cũng tiếp xúc với môi trường số hằng ngày, nhưng truyền thông số ở mức chuyên nghiệp đòi hỏi kiến thức và kỹ năng nâng cao mới làm được…

Mô tả môn COMM2939 của RMIT mở đầu bằng một câu mà bản thân nó cũng là tiêu chí chấm: ai trong chúng ta cũng tiếp xúc với môi trường số hằng ngày, nhưng truyền thông số ở mức chuyên nghiệp đòi hỏi kiến thức và kỹ năng nâng cao mới làm được việc. Đọc như một chỉ dẫn, câu đó nói rằng trải nghiệm dùng nền tảng hằng ngày là điểm xuất phát của môn học chứ không phải chỗ dựa bằng chứng cho bài của bạn. Phần lớn bài năm nhất bị trừ điểm là trừ ngay ở chỗ này, vì viết với tư cách một người dùng có kinh nghiệm thay vì một người đánh giá vấn đề số dựa trên bằng chứng. Bài này trả lời bảy câu hỏi mà sinh viên Việt Nam học COMM2939 hỏi mentor MAAS nhiều nhất.

Tác giả: Ban biên tập MAAS · Hiệu đính bởi mentor Truyền thông cấp cao (Tiến sĩ, Truyền thông và Truyền thông đại chúng)
Cập nhật: 31/07/2026
Chuyên mục: writing-tips


COMM2939 là môn gì, và nằm ở đâu trong chương trình?

Trả lời trực tiếp: COMM2939 là mã môn RMIT của Introduction to Digital Communication, môn bậc đại học năm nhất dạy tại RMIT Việt Nam cơ sở Nam Sài Gòn, thuộc chương trình Cử nhân Professional Communication (BP354). COMM2940 là cùng môn đó ở cơ sở Hà Nội, COMM2906 ở Melbourne City. Việc đây là môn nhập môn năm nhất không có nghĩa là chấm nhẹ tay, mà có nghĩa là bài được chấm theo việc bạn đã bắt đầu tư duy như người làm nghề hay chưa, chứ không theo việc bạn đã biết sẵn bao nhiêu.

Bằng chứng: Bản ghi 055681 trong handbook của RMIT nêu rằng môn học giới thiệu về ứng xử nghề nghiệp, các vấn đề xã hội then chốt và những ứng dụng sáng tạo trong truyền thông số, phát triển hiểu biết của bạn về truyền thông số trong bối cảnh nghề nghiệp, ngành và xã hội, mở rộng hiểu biết về việc các nền tảng và dịch vụ số định hình đời sống hằng ngày ra sao, giới thiệu những khái niệm nền tảng của truyền thông số và thực hành nghề nghiệp, đồng thời phát triển kỹ năng phản biện để tạo và quản lý nội dung số hấp dẫn, cùng với việc đánh giá các vấn đề số dựa trên bằng chứng và phân tích. Trong BP354, môn nằm ở khối năm nhất cạnh Introduction to Advertising và Introduction to Public Relations, trước các môn chuyên sâu như Precision Writing for Digital Engagement và Social Media Communication.

Ví dụ: Một bạn nói với mentor rằng bạn không lo môn này vì đã tự chạy một trang Instagram từ hồi cấp ba. Bản nháp đầu của bạn lập luận rằng video ngắn hiệu quả vì nó giữ được sự chú ý, và chỗ dựa duy nhất là kinh nghiệm đăng bài của chính bạn. Câu hỏi từ phía người hướng dẫn rất gọn: người chấm sẽ kiểm chứng khẳng định đó bằng cách nào. Việc chạy trang là bối cảnh hữu ích. Nó không phải bằng chứng.


Vì sao "em dùng mấy nền tảng này hằng ngày" lại phản tác dụng?

Trả lời trực tiếp: Bởi vì quen thuộc và thành thạo là hai chuyện khác nhau, và tài liệu nghiên cứu nói về chuyện này rất thẳng. Một bài năm nhất dựa vào trải nghiệm dùng nền tảng của bản thân là đang mắc đúng cái giả định mà cả một lĩnh vực đã mất hai thập kỷ để tháo gỡ.

Bennett và cộng sự (2008) rà soát bằng chứng đứng sau khẳng định phổ biến rằng một thế hệ lớn lên cùng công nghệ sẽ có sẵn kỹ năng kỹ thuật tinh vi, và thấy khẳng định ấy chỉ dựa trên bằng chứng thực nghiệm ít ỏi, giai thoại và những viện dẫn cảm tính thông thường. Họ gọi cuộc tranh luận đó là một dạng hoảng loạn đạo đức trong giới học thuật, và kết luận rằng cách dùng cùng kỹ năng của người trẻ không hề đồng nhất, không có bằng chứng nào cho thứ chuyên môn kỹ thuật đồng loạt mà cái nhãn ấy ngụ ý.

Kirschner và De Bruyckere (2017) nói thẳng hơn: không tồn tại cái gọi là người bản địa số thành thạo thông tin. Luận điểm của họ quan trọng với bài của bạn ở hệ quả đi kèm. Những kỹ năng vẫn được gán cho thế hệ này cũng giống mọi kỹ năng khác, tức là phải được dạy và được tiếp thu tử tế thì mới dùng được. Thạo thao tác một nền tảng không đồng nghĩa với phân tích được nó.

Đó chính là bước chuyển mà môn học đang đánh giá. Bạn đi từ vị trí người dùng, người biết cảm giác dùng một nền tảng ra sao, sang vị trí người phân tích, người nói được nền tảng ấy làm gì, với ai, dựa trên bằng chứng nào.

Ví dụ: Một bạn viết rằng thuật toán TikTok "cho bạn xem thứ bạn muốn xem". Bạn được đề nghị nói lại đúng ý đó theo cách kiểm chứng được, và nêu rõ khẳng định lấy từ đâu. Câu viết lại mô tả một cơ chế gợi ý đã được ghi nhận, có dẫn nguồn, và đánh dấu rõ phần nào là suy luận riêng của bạn. Vẫn ý đó, giờ đã chấm được.


"Đánh giá vấn đề số dựa trên bằng chứng" thực chất đòi hỏi gì?

Trả lời trực tiếp: Nó đòi một phương pháp thẩm định nguồn, không chỉ đòi thiện chí trích dẫn. Phương pháp hữu ích nhất đã được nghiên cứu trực tiếp, và nó không phải cách phần lớn sinh viên đang làm.

Wineburg và McGrew (2019) so sánh cách 45 người dùng internet nhiều kinh nghiệm thẩm định các trang web thật: 10 tiến sĩ sử học, 10 người kiểm chứng thông tin chuyên nghiệp, và 25 sinh viên năm nhất. Nhóm sử học và nhóm sinh viên đọc theo chiều dọc, tức ở lại trong trang và soi nội dung để phán đoán độ tin cậy, và cả hai nhóm đều thường bị đánh lừa bởi những dấu hiệu bề mặt như logo trông chính thống hay tên miền nghe uy tín. Nhóm kiểm chứng đọc theo chiều ngang, tức rời trang sau khi lướt nhanh rồi mở các tab mới để tìm hiểu ai đứng sau trang đó. Họ đi tới kết luận có cơ sở hơn trong một phần nhỏ thời gian.

Đáng chú ý là bên thua ở đây lại không phải nhóm ta nghĩ. Không phải sinh viên cẩu thả, mà là các tiến sĩ sử học dùng một phương pháp cẩn thận nhưng không hợp với môi trường này. Bài học cho COMM2939 là thẩm định nguồn trên web là một kỹ thuật riêng, và kỹ thuật đó là rời khỏi trang.

Ba thao tác từ nghiên cứu ấy đáng áp thẳng vào phần tìm tài liệu của bạn:

Thao tác Nghĩa là gì Trông ra sao trong bài của bạn
Định vị trước Có kế hoạch trước khi lao vào nội dung lạ Quyết định thế nào mới là nguồn đáng tin cho khẳng định này, trước khi đi tìm
Đọc theo chiều ngang Rời trang để phán đoán chính trang đó Trước khi trích một báo cáo ngành, tra xem ai tài trợ cho tổ chức phát hành nó
Kìm tay không bấm vội Đọc hết danh sách kết quả rồi mới bấm Đừng trích kết quả đầu tiên, hãy quét toàn cảnh rồi mới chọn

Ví dụ: Một nhóm trích một con số về mức dùng mạng xã hội ở Việt Nam từ blog của một agency marketing. Nhóm được yêu cầu dành năm phút tra xem agency đó là ai và con số ban đầu đến từ đâu. Dấu vết dừng lại ở một khảo sát do chính agency đặt hàng để quảng bá dịch vụ của họ. Nhóm giữ lại luận điểm và thay nguồn.


Những kiểu hỏng thường gặp ở môn này là gì?

Trả lời trực tiếp: Bốn kiểu, và chúng chung một gốc, đó là coi thế giới số như thứ mình đã biết sẵn thay vì thứ mình đang đi tìm hiểu.

  1. Lấy trải nghiệm cá nhân làm bằng chứng. Việc bạn dùng một nền tảng là một quan sát hợp lệ để nêu ra. Nó không phải chỗ dựa cho một khẳng định chung về công chúng.
  2. Mô tả nền tảng thay vì phân tích vấn đề. Một mục giải thích một tính năng vận hành ra sao, mà không có lập luận nào về việc nó tác động tới ai, là đã trả lời một câu hỏi kỹ thuật chứ không phải câu hỏi truyền thông.
  3. Nhầm mới với hợp. Một nguồn từ tháng trước không tự động tốt hơn nguồn năm năm trước. Câu hỏi là khẳng định mà nó chống đỡ còn đứng vững hay không.
  4. Coi "số" là một khối duy nhất. Môn học hỏi riêng về bối cảnh nghề nghiệp, bối cảnh ngành và bối cảnh xã hội, bởi cùng một nền tảng lại vận hành khác nhau trong từng bối cảnh.

Ví dụ: Bản nháp của một bạn về tin sai lệch mô tả rất kỹ cơ chế của một tính năng chia sẻ mà không hề nói ai chịu thiệt và dựa trên bằng chứng nào. Buổi hướng dẫn chỉ có đúng một câu hỏi: vấn đề ở đây là gì, và ai đang gặp nó. Bản viết lại rút phần mô tả tính năng xuống còn hai câu và dành phần còn lại cho chính vấn đề.


Xử lý phần ứng xử nghề nghiệp thế nào cho khỏi thành bảng nội quy?

Trả lời trực tiếp: Hãy coi ứng xử nghề nghiệp là một loạt phán đoán có hệ quả, không phải một bảng đánh dấu tuân thủ. Môn học xếp ứng xử nghề nghiệp cạnh các vấn đề xã hội và ứng dụng sáng tạo, và cách xếp đó báo hiệu môn đòi lập luận chứ không đòi thuộc bài.

Nước đi hiệu quả là viết phần ứng xử vào ngay trong phân tích thay vì gắn một đoạn đạo đức vào cuối bài. Khi bạn mô tả một quyết định truyền thông, hãy nói người làm nghề nợ công chúng điều gì ở thời điểm ấy, sức ép nào kéo về hướng ngược lại, và bạn sẽ giải quyết ra sao. Viết như vậy chính là thực hành nghề nghiệp. Một đoạn kết riêng mở đầu bằng "về mặt đạo đức, cần cân nhắc rằng" lộ ra ngay là phần gắn thêm, và người chấm đã đọc rất nhiều đoạn như thế.

Ví dụ: Một bạn gắn một đoạn về tính minh bạch vào cuối bài phân tích tình huống. Người hướng dẫn chuyển đúng nội dung đó lên mục mà thương hiệu đã chọn không công bố quan hệ tài trợ, rồi hỏi bạn phương án thay thế sẽ khiến thương hiệu mất gì. Số chữ gần như không đổi. Mục đó trở thành một lập luận.


Bài năm nhất nên đưa bao nhiêu lý thuyết?

Trả lời trực tiếp: Đủ để bạn có vốn từ chính xác tới mức làm cho khẳng định kiểm chứng được, không hơn. Các khái niệm nền tảng có mặt để bạn nói được điều gì cụ thể, không phải để trưng ra.

Một phép thử dùng được: với mỗi khái niệm bạn gọi tên, thử xoá tên đó đi và xem câu văn có mơ hồ hơn không. Nếu câu vẫn nguyên vẹn khi không có nó thì khái niệm ấy chỉ là trang trí. Người chấm năm nhất nhìn chung ấn tượng với một khung được dùng tử tế xuyên suốt bài phân tích hơn là năm khung được định nghĩa ở phần mở đầu rồi không bao giờ dùng lại.

Hãy trích dẫn nhất quán theo đúng chuẩn mà class guide của bạn quy định, và xác nhận chuẩn đó trên Canvas thay vì mặc định. Dẫn nguồn cho mọi khẳng định về thực tế, gồm cả những con số bạn tìm thấy trong tài liệu ngành, kèm nguồn và ngày.

Ví dụ: Một bạn mở bài bằng định nghĩa sáu khái niệm, rồi viết một phần phân tích không dùng khái niệm nào. Phần định nghĩa bị cắt xuống còn hai khái niệm bạn thật sự áp dụng, và đề nghị bạn dùng mỗi khái niệm ít nhất hai lần trong phần thân. Bản nháp mất 300 chữ và lên một bậc điểm.


Cấu trúc nào hợp cho bài COMM2939?

Trả lời trực tiếp: Hãy dựng bài sao cho vấn đề dẫn dắt phân tích, không phải nền tảng dẫn dắt:

  1. Vấn đề. Điều gì đang bị đặt lên bàn cân, với ai, nêu ở dạng có thể đúng hoặc sai.
  2. Bối cảnh. Nghề nghiệp, ngành hay xã hội, và nói rõ bạn đang làm việc trong bối cảnh nào.
  3. Bằng chứng. Nguồn đã thẩm định theo chiều ngang, kèm một câu nói vì sao nguồn đó đáng tin.
  4. Phân tích. Bằng chứng cho thấy điều gì, gồm cả những gì đi ngược lập luận của bạn.
  5. Hàm ý nghề nghiệp. Người làm nghề nên làm khác đi ra sao, và cái giá của việc đó.
  6. Giới hạn. Bằng chứng của bạn không nói được điều gì.

Hãy kiểm tra lại danh sách bài, trọng số và chuẩn đầu ra của chính lớp mình trên Canvas. Class guide thay đổi theo từng học kỳ, và môn này chạy ba học kỳ mỗi năm tại Việt Nam.

Ví dụ: Một bạn đã viết được phần phân tích khá chắc nhưng tiêu đề mục nào cũng lấy nền tảng làm chủ ngữ. Bạn được đề nghị viết lại các tiêu đề sao cho mỗi tiêu đề gọi tên một vấn đề. Bạn sửa sáu dòng. Cả tài liệu tự sắp xếp lại quanh một lập luận.


Câu hỏi thường gặp

COMM2939 có phải là COMM2940 không?
Đúng, cùng một môn ở hai cơ sở RMIT Việt Nam khác nhau. COMM2939 học tại Nam Sài Gòn còn COMM2940 học tại cơ sở Hà Nội. Hãy kiểm tra mã của chính bạn trên Canvas trước khi trích vào bài.

Môn năm nhất có được chấm nhẹ tay hơn không?
Không theo cách sinh viên hay mong. Kỳ vọng về độ sâu thì thấp hơn, nhưng kỳ vọng về phương pháp thì không. Người chấm đang tìm xem bạn đã bắt đầu tìm nguồn và lập luận như một người làm truyền thông hay chưa.

Em viết về nền tảng em dùng nhiều được không?
Được, và thường ra bài tốt hơn vì bạn để ý được nhiều thứ. Luật ở đây là sự quen thuộc của bạn sinh ra câu hỏi, còn bằng chứng bên ngoài mới trả lời câu hỏi ấy.

Em dùng chính tài khoản mạng xã hội của mình làm nghiên cứu tình huống được không?
Chỉ khi đề bài cho phép, và bạn phải xử lý dữ liệu của chính mình với đúng mức hoài nghi dành cho dữ liệu của người khác. Nêu rõ bao nhiêu bài, trong khoảng thời gian nào, và mẫu đó không nói lên được điều gì.

Nguồn của em cần mới tới mức nào?
Mới đủ để khẳng định còn đứng vững. Một nghiên cứu năm 2015 về một tính năng nay không còn tồn tại là chỗ dựa yếu, còn một nghiên cứu năm 2008 về cách chuyên môn hình thành thì không hề cũ.

Cách sửa bản nháp nhanh nhất là gì?
Gạch chân mọi khẳng định chung về công chúng hoặc nền tảng, rồi kiểm từng cái xem có nguồn nào không phải chính bạn. Chỗ nào còn trơ ra không có chỗ dựa, chỗ đó là chỗ điểm đang đi mất.


MAAS đồng hành với sinh viên COMM2939 thế nào

MAAS làm việc với sinh viên RMIT Việt Nam ở vai trò mentor và cố vấn học thuật. Với một môn năm nhất, việc đó thường là giúp bạn thực hiện đúng bước chuyển mà môn học đang đánh giá: từ viết như một người dùng nền tảng sang viết như một người đánh giá vấn đề dựa trên bằng chứng. Trên thực tế nghĩa là soi xem khẳng định nào của bạn có chỗ dựa và khẳng định nào chỉ là thói quen, chỉ cho bạn cách thẩm định một nguồn theo chiều ngang trước khi dựng lập luận lên nó, và đọc lại bản nháp do chính bạn viết đối chiếu với chuẩn đầu ra để bạn thấy chỗ nào người chấm sẽ đòi bằng chứng. Bạn tự tìm hiểu và tự viết bài. Việc của mentor là đặt trước những câu hỏi mà người chấm sẽ đặt, đủ sớm để bạn còn kịp trả lời.

Nếu bạn muốn có một lượt đọc thứ hai, hãy mang theo brief và bản nháp hiện tại. Chúng tôi ghép bạn với mentor đúng chuyên ngành trong vòng 48 giờ, buổi trao đổi 20 phút đầu tiên miễn phí, và phần hỗ trợ đi kèm cam kết ba mức Pass, Merit, Distinction cùng bảo hành 90 ngày. Khoảng 23 phần trăm mạng lưới chuyên gia của MAAS có bằng Tiến sĩ. Bắt đầu ở trang dịch vụ academic mentoring, hoặc đọc bài hướng dẫn cho hai môn đi sau môn này trong cùng chuyên ngành là COMM2953 Precision Writing for Digital EngagementCOMM2955 Social Media Communication. Về kỹ năng nền là đọc ra đề bài thực sự yêu cầu gì, xem bài giải mã động từ đề bài.


References

Bennett, S., Maton, K., & Kervin, L. (2008). The 'digital natives' debate: A critical review of the evidence. British Journal of Educational Technology, 39(5), 775–786. https://doi.org/10.1111/j.1467-8535.2007.00793.x

Kirschner, P. A., & De Bruyckere, P. (2017). The myths of the digital native and the multitasker. Teaching and Teacher Education, 67, 135–142. https://doi.org/10.1016/j.tate.2017.06.001

Wineburg, S., & McGrew, S. (2019). Lateral reading and the nature of expertise: Reading less and learning more when evaluating digital information. Teachers College Record, 121(11). https://doi.org/10.1177/016146811912101102


Tools & resources

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.