Sinh viên năm nhất thường xử lý môn này theo hai hướng khá dễ đoán. Hỏi về vốn thì các bạn tìm ngay tới con số, còn hỏi về con người hay công nghệ thì các bạn lại dùng toàn tính từ.
Sinh viên năm nhất thường xử lý môn này theo hai hướng khá dễ đoán. Hỏi về vốn thì các bạn tìm ngay tới con số, còn hỏi về con người hay công nghệ thì các bạn lại dùng toàn tính từ. Môn học không phân biệt như vậy, và việc chấm bài cũng không. Organisational Resources coi cả ba đều là nguồn lực phải đo được, so sánh được và đánh đổi được với nhau, nghĩa là một đoạn viết về mức độ gắn kết của nhân viên phải mang bằng chứng đúng như cách một đoạn viết về tỷ suất sinh lời trên vốn phải mang. Dưới đây là cách mentor MAAS cùng sinh viên Việt Nam ở UNSW xử lý khoảng cách đó.
Tác giả: Ban biên tập MAAS · Hiệu đính bởi mentor cao cấp mảng Quản trị (Tiến sĩ, Hành vi tổ chức)
Cập nhật: 10/08/2026
Chuyên mục: writing-tips
Môn COMM1170 là gì và nằm ở đâu?
Trả lời ngắn: COMM1170 Organisational Resources là môn bậc cử nhân trị giá 6 đơn vị tín chỉ thuộc UNSW Business School, dạy tại cơ sở Sydney và mở ở cả ba kỳ giảng dạy. Môn yêu cầu sinh viên nhận diện các nguồn lực tài chính và phi tài chính của một tổ chức, áp các thước đo hiệu quả hiện hành cho từng nhóm, rồi tập trung vào ba nguồn lực cụ thể là con người, công nghệ và vốn, xét theo cách chúng tạo ra giá trị cho các bên liên quan chính. Môn được thiết kế để nối thẳng sang COMM1180 Creating Value.
Bằng chứng: Các dữ kiện này lấy từ trang handbook của UNSW và bảng thời khoá biểu chính thức của trường, nơi ghi số tín chỉ, khoa phụ trách, cơ sở học và việc môn mở ở cả kỳ 1, kỳ 2 lẫn kỳ 3. Bảng thời khoá biểu cũng cho thấy mỗi lớp bài giảng mang vài trăm sinh viên chỉ trong một kỳ.
Ví dụ: Coi đây là môn kinh doanh đại cương, một bạn đã ôn bằng cách đọc rộng quanh từng chủ đề. Phần đọc đó không phí, nhưng câu trả lời của bạn cứ dừng ở mức một tổ chức có thể làm gì, trong khi môn học đang hỏi bạn làm sao biết việc đó có hiệu quả hay không.
Mối nối sang COMM1180 cũng đáng coi trọng chứ không phải chi tiết nhắc cho có. Ở đây nguồn lực được đóng khung là thứ tổ chức có, còn tạo ra giá trị là thứ tổ chức làm với những thứ đó. Học xong môn này mà vẫn nghĩ nguồn lực là một danh sách thì môn kế tiếp sẽ nặng hơn nhiều.
Vì sao phản xạ coi đó là chủ đề mềm lại làm mất điểm?
Trả lời ngắn: Bởi môn học dựng trên khẳng định rằng nguồn lực phi tài chính đo được, nên viết về chúng bằng cảm nhận là ngầm bác bỏ đúng cái khẳng định mà môn đang dạy.
Bằng chứng: Bước chuyển từ báo cáo thuần tài chính sang đo lường hiệu quả trên diện rộng là một trong những dịch chuyển được ghi chép kỹ nhất của ngành quản trị. Thẻ điểm cân bằng của Kaplan và Norton lập luận rằng các thước đo tài chính tự thân chỉ nói về kết quả đã qua và nói rất ít về những năng lực tạo ra kết quả tương lai, mà đó chính là lý do con người và công nghệ được cấp bộ thước đo riêng. Các nghiên cứu sau này về tài sản vô hình lập luận y hệt từ phía kế toán: những nguồn lực ngày càng chi phối giá trị doanh nghiệp lại là những thứ mà báo cáo tài chính truyền thống nắm bắt kém nhất (Lev, 2001). Khi bài của bạn xử lý phần vốn bằng các tỷ số còn xử lý phần con người bằng cảm nhận, bài đó đã tái hiện đúng vấn đề mà cả ngành mất ba mươi năm để sửa.
Ví dụ: Một bạn viết rằng nhân sự của công ty "rất có động lực và gắn bó". Khi được hỏi bạn sẽ nhìn vào đâu để kiểm điều đó, bạn chuyển sang tỷ lệ nghỉ việc tự nguyện trong năm đầu, tỷ lệ đề bạt nội bộ và tỷ lệ vắng mặt, rồi phát hiện hai trong ba chỉ số không ủng hộ khẳng định của mình. Đoạn văn của bạn ngắn lại, cụ thể hơn, và bảo vệ được.
Xử lý từng nguồn lực bằng thước đo thì trông thế nào?
Trả lời ngắn: Gọi tên nguồn lực cho chính xác, chọn một thước đo phản ánh đúng điều bạn khẳng định về nó, rồi nói thước đo ấy bỏ sót điều gì. Bước thứ ba mới là chỗ tách một bài năm nhất được điểm tốt khỏi một bài chỉ dừng ở mức đọc được.
| Nguồn lực | Khẳng định mơ hồ | Khẳng định có thước đo | Thước đo bỏ sót điều gì |
|---|---|---|---|
| Con người | "Đội ngũ nhân sự là một thế mạnh." | Tỷ lệ nghỉ việc tự nguyện ở các vị trí trọng yếu, thời gian tuyển bù, tỷ lệ đề bạt nội bộ | Tỷ lệ nghỉ việc có thể giảm chỉ vì thị trường lao động xấu đi, không phải vì nội bộ tốt lên |
| Công nghệ | "Công ty đã đầu tư vào chuyển đổi số." | Thời gian hệ thống sẵn sàng, thời gian hoàn thành quy trình trước và sau, tỷ lệ sử dụng trong nhóm đủ điều kiện | Số lượt đăng nhập không cho biết cách làm việc có thật sự đổi hay không |
| Vốn | "Công ty có sức khoẻ tài chính tốt." | Tỷ suất sinh lời trên vốn sử dụng, khả năng thanh khoản, cơ cấu kỳ hạn nợ | Các tỷ số đều đi sau, chúng mô tả vị thế bạn đã ở chứ không phải vị thế sắp tới |
Bằng chứng: Mọi thước đo ở cột giữa đều là chỉ báo thay thế chứ không phải chính thứ cần đo, và đó là lý do cột bên phải tồn tại. Đây là đặc tính chung của việc đo lường hiệu quả chứ không phải khiếm khuyết của một chỉ số cụ thể nào: cái gì được đo thì hút nỗ lực về phía nó, và một thước đo khi biến thành chỉ tiêu sẽ thôi mô tả đúng thứ nó vốn mô tả. Thừa nhận điều đó trong bài không phải là rào đón. Đó là khác biệt giữa việc bạn dùng một thước đo và việc thước đo dùng lại bạn.
Ví dụ: Một bài phân tích khen doanh nghiệp vì giảm được hai mươi phần trăm thời gian xử lý mỗi cuộc gọi. Khi được hỏi điều gì có thể tạo ra con số đó mà chất lượng phục vụ không hề tốt lên, người viết nhận ra nhân viên có thể cắt cuộc gọi sớm và vấn đề quay lại dưới dạng các cuộc gọi lặp. Đặt thêm tỷ lệ giải quyết ngay trong lần liên hệ đầu tiên bên cạnh con số cũ đã biến một lời khen thành một bài phân tích.
Phần điểm mà đa số sinh viên bỏ lại nằm ở đâu?
Trả lời ngắn: Ở phần đánh đổi giữa ba nguồn lực. Môn học gọi tên con người, công nghệ và vốn cùng nhau là có lý do, nên một bài xử lý chúng trong ba mục kín mít là bài đã trả lời ba câu hỏi nhỏ thay vì câu hỏi thật sự được đặt ra.
Bằng chứng: Các nguồn lực cùng tranh nhau một lượng vốn hữu hạn, và những câu hỏi quản trị thú vị đều nằm ở phần đánh đổi giữa chúng. Tự động hoá một quy trình cùng lúc là quyết định về công nghệ, quyết định về vốn và quyết định về con người, mà tác động của nó lên các bên liên quan phụ thuộc vào cả ba thứ một lúc. Cách mô tả môn học đặt trọng tâm vào các bên liên quan cũng chỉ về hướng đó: giá trị được tạo ra cho các bên liên quan chính, mà mỗi bên lại trải nghiệm cùng một quyết định về nguồn lực theo cách khác nhau.
Ví dụ: Một báo cáo khuyến nghị đầu tư hệ thống mới để giảm chi phí nhân công và coi khoản tiết kiệm đó là kết quả cuối cùng. Trong khi phần viết về con người, đặt ở mục riêng, đã ghi nhận tinh thần nhân viên xuống thấp sau một đợt tái cấu trúc trước đó. Tới lúc người viết đặt hai mục cạnh nhau, khuyến nghị có thêm một điều kiện về cách triển khai thay đổi, và bài phân tích rốt cuộc mới dùng được cả hai mục mà chính nó đã viết ra.
Dùng khung lý thuyết thế nào để không thành liệt kê?
Trả lời ngắn: Dùng một khung làm lăng kính và để bằng chứng đứng ra lập luận. Bài năm nhất rất hay đưa một khung vào chỉ vì nó thuộc về chủ đề, chứ không phải vì nó trả lời được câu hỏi đang nằm trước mặt.
Bằng chứng: Quan điểm dựa trên nguồn lực là điểm neo tự nhiên ở đây, bởi nó giải thích vì sao một số nguồn lực tạo ra lợi thế bền vững còn số khác thì không: nguồn lực phải có giá trị, hiếm, khó bắt chước và được tổ chức hậu thuẫn để khai thác (Barney, 1991). Phép thử đó hữu ích chính vì phần lớn nguồn lực đều trượt, và nói ra điều ấy về một nguồn lực cụ thể là một nước đi phân tích. Một khung áp đều lên mọi thứ là một khung đã bị dùng làm đồ trang trí.
Ví dụ: Có bạn áp lần lượt cùng một phép thử bốn phần lên sáu nguồn lực của doanh nghiệp, và lần nào cũng kết luận rằng nguồn lực đó có giá trị. Khi được hỏi đối thủ có thể sao chép cái nào trong vòng một năm, bạn thấy bốn trong sáu cái sao chép được, và hai cái còn lại mới trở thành chủ đề thật sự của bài luận.
Sinh viên Việt Nam hay mất điểm ở đâu?
Trả lời ngắn: Ở lối mô tả thay vì đánh giá, và ở lối khen tổ chức đang được phân tích. Cả hai lộ ra rõ hơn ở một môn về nguồn lực so với các môn khác, bởi một đoạn mô tả nguồn lực đọc lên rất trung tính ngay cả khi nó chẳng làm được việc phân tích nào.
Bằng chứng: Bảng tiêu chí của một môn kinh doanh năm nhất phân biệt rõ mô tả với phân tích, và bạn tự kiểm được phân biệt đó khá dễ: nếu một câu có thể xuất hiện nguyên vẹn trong báo cáo thường niên của chính công ty thì đó là mô tả. Đánh giá thì đòi bạn so sánh, cân nhắc, hoặc nói ra điều gì phải đúng thì khẳng định của bạn mới đứng vững. Cũng nên nhớ rằng phê phán vị thế nguồn lực của một tổ chức không phải là bất lịch sự, đó là lập trường phân tích mà đề bài mặc định bạn phải có.
Ví dụ: Một đoạn văn giải thích rất chi tiết chương trình đào tạo của doanh nghiệp rồi kết lại bằng nhận xét rằng chương trình toàn diện. Bản viết lại giữ hai câu mô tả và dành phần còn lại để hỏi xem chương trình có xử lý đúng khoảng trống năng lực mà doanh nghiệp đang gặp hay không, mà thực tế là chỉ xử lý được một phần. Giọng văn bớt khen đi còn điểm thì lên.
Một lưu ý về thuật ngữ: hãy giữ chính xác các thuật ngữ như tangible, intangible, capability và stakeholder. Trong tiếng Việt thường ngày chúng nhoè thành những từ gần đúng, mà bảng tiêu chí lại dựa vào việc các phân biệt ấy còn nguyên.
Nên chuẩn bị thế nào suốt kỳ?
Trả lời ngắn: Tập thói quen gắn một thước đo vào mỗi khẳng định, bắt đầu ngay từ tuần đầu, bởi thói quen đó chính là thứ bài đánh giá kiểm tra và nó không hình thành kịp trong lúc ôn thi.
Một nhịp chạy được: mỗi khi một nhóm nguồn lực được giới thiệu, ghi lại ba thước đo bạn thật sự lấy được cho một doanh nghiệp bạn có thể tra cứu, kèm một điểm yếu của từng thước đo. Tới giữa kỳ bạn sẽ có một vốn từ về đo lường dùng được, thay vì một danh sách khái niệm. Khi đã có bản nháp, hãy lấy mọi tính từ mang tính đánh giá mà bạn đã dùng, kiểu như mạnh, hiệu quả, vững chắc, rồi kiểm xem có bằng chứng nào nằm trong vòng một hai câu quanh nó không. Những tính từ không có bằng chứng ở gần chính là chỗ điểm lặng lẽ trôi đi.
Bằng chứng: Dạng bài và trọng số thay đổi giữa các kỳ, và course outline của chính bạn, do Business School công bố trước khi bắt đầu giảng, mới là căn cứ. Thứ giữ nguyên qua các đợt là mối quan tâm của môn với việc đo lường, bởi nó nằm ngay trong phần mô tả môn học chứ không nằm ở một bài cụ thể nào.
Mentor MAAS thật sự làm gì ở môn này?
MAAS làm việc với vai trò cố vấn học thuật. Bài tập sớm hữu ích nhất ở đây rất hẹp: bạn mang tới một đoạn văn, và mentor hỏi bằng chứng nào sẽ khiến bạn đổi ý về khẳng định trong đó. Nếu không có bằng chứng nào làm được điều đó thì khẳng định ấy chưa phải một lập luận. Sau đó thì công việc như thường lệ, tức là đọc bản nháp đối chiếu tiêu chí của môn, kiểm xem các thước đo của bạn có gánh nổi sức nặng bạn đặt lên chúng không, và soi xem ba nguồn lực trong bài có nói chuyện với nhau hay không. Bạn tự viết và tự nộp bài của mình, còn phần trích dẫn được kiểm ngay trong lượt đọc ấy.
Câu hỏi thường gặp
Môn COMM1170 mấy tín chỉ và chạy khi nào?
Sáu đơn vị tín chỉ, mở ở cả ba kỳ giảng dạy của UNSW tại cơ sở Sydney, thuộc UNSW Business School.
Môn tập trung vào ba nguồn lực nào?
Con người, công nghệ và vốn, xét theo cách chúng tạo ra giá trị cho các bên liên quan chính của tổ chức, sau khi đã nhìn rộng qua các nhóm nguồn lực tài chính và phi tài chính.
Môn này liên quan gì tới COMM1180?
Nó được thiết kế để chuẩn bị cho môn Creating Value, nơi trọng tâm chuyển từ thứ tổ chức có sang thứ tổ chức làm với những gì mình có. Coi nguồn lực là một danh sách tĩnh ở môn này sẽ khiến bước chuyển đó khó hơn.
Có cần kiến thức kế toán không?
Không cần quá mức diễn giải được các thước đo thông dụng. Bạn cần đọc được một tỷ số và hiểu nó nói gì cũng như không nói gì, mà đó là yêu cầu khác với việc lập báo cáo tài chính.
Phê phán công ty mình phân tích có được không?
Được, và thường là cần thiết. Đánh giá thì phải có lập trường. Thứ không chấp nhận được là phê phán không kèm bằng chứng, hỏng vì đúng lý do khiến lời khen không kèm bằng chứng cũng hỏng.
Môn chấm thế nào?
Dạng bài và trọng số khác nhau giữa các kỳ, và course outline của bạn là căn cứ. Dù bài ra dưới hình thức nào thì phần mô tả môn học cũng khiến việc đo lường và giá trị cho các bên liên quan trở thành thứ được chấm xuyên suốt.
Bài liên quan
- COMM1190: vì sao biểu đồ vẽ đúng mà điểm vẫn ở nhóm giữa?
- HR9413: con người, quản trị và tổ chức
- Đồng hành học thuật cùng chuyên gia MAAS
Trao đổi với mentor MAAS về môn học của bạn
References
Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of Management, 17(1), 99–120. https://doi.org/10.1177/014920639101700108
Kaplan, R. S., & Norton, D. P. (1996). The balanced scorecard: Translating strategy into action. Harvard Business School Press.
Lev, B. (2001). Intangibles: Management, measurement, and reporting. Brookings Institution Press.
Neely, A., Gregory, M., & Platts, K. (1995). Performance measurement system design: A literature review and research agenda. International Journal of Operations & Production Management, 15(4), 80–116. https://doi.org/10.1108/01443579510083622
Wright, P. M., Dunford, B. B., & Snell, S. A. (2001). Human resources and the resource based view of the firm. Journal of Management, 27(6), 701–721. https://doi.org/10.1177/014920630102700607
