Skip to content
Quay lại BlogBusiness & Management

BUSI1692 International Entrepreneurship: born global là gì?

22 phút đọc4,217 từ

Trong môn BUSI1692 International Entrepreneurship, born global là doanh nghiệp mang tính quốc tế ngay từ lúc ra đời, thay vì ra nước ngoài dần dần từng bước như lý thuyết quốc tế hoá truyền thống dự đoán, và chính khác biệt này là trục lập luận của cả môn. Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu môn học của University of Greenwich thật sự đòi hỏi điều gì, chọn và dùng các lý thuyết như một phép thử chứ không như một cái nhãn, dựng bài quanh một phép so sánh, và tránh những lỗi làm mất điểm nhiều nhất.

BUSI1692 có sáu learning outcome, tức sáu chuẩn đầu ra mà bài của bạn được chấm theo, và cả sáu đều mở đầu bằng chữ "critically". Điều này hiếm gặp ngay cả ở Level 7, bậc thạc sĩ trong hệ thống của Anh, và nó cho bạn biết môn không chừa chỗ cho một bài viết chỉ mô tả. Chuẩn đầu ra thứ nhất cũng là chuẩn sinh viên hay đọc nhầm nhất. Nó không chỉ yêu cầu bạn hiểu International Entrepreneurship, mà còn yêu cầu bạn so sánh lĩnh vực này với International Business dòng chính, và doanh nghiệp born global là chỗ hai lĩnh vực bất đồng với nhau rõ nhất.

Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật lần cuối: 2026-07-29
Chuyên mục: business-management

Một nhóm ngồi quanh bàn họp trong văn phòng, cùng xem lại tài liệu in
Ảnh minh hoạ

BUSI1692 International Entrepreneurship học về gì?

Trả lời trực tiếp: BUSI1692 là môn Level 7, tức bậc thạc sĩ theo khung FHEQ của Vương quốc Anh, trị giá 30 tín chỉ, thuộc khoa Business, Operations and Strategy của Greenwich Business School. Môn tìm hiểu hoạt động kinh doanh quốc tế tác động thế nào tới doanh nghiệp khởi nghiệp quốc tế và người khởi nghiệp làm ăn ở nước ngoài ra sao. Nội dung môn chia thành bốn phần.

Bốn phần đó gồm các góc nhìn về khởi nghiệp quốc tế, nhận diện cơ hội quốc tế, mạng lưới và quan hệ đối tác, và các lựa chọn quốc tế hoá, trải trên một môn 30 tín chỉ. Mô tả môn học nói rõ môn giới thiệu quá trình International Entrepreneurship hình thành thành một lĩnh vực riêng, xem xét các doanh nghiệp born global và cách chúng khác doanh nghiệp truyền thống. Cách đặt vấn đề này có chủ ý phân tích. Nó biến môn học thành một cuộc tranh luận với lý thuyết quốc tế hoá đã được xác lập, chứ không phải một bản khảo sát về cách người ta khởi nghiệp.

Gốc xa hơn của lĩnh vực này nằm ở Schumpeter (1934), người coi người khởi nghiệp là nhà đổi mới thực hiện những "new combinations", tức những cách kết hợp nguồn lực mới. Về sau, Schumpeter (1942) mài khái niệm này thành "creative destruction", quá trình trong đó các doanh nghiệp mới thay chỗ doanh nghiệp và công nghệ đang giữ vị thế. Lý thuyết Uppsala và lý thuyết international new venture mà môn thật sự chấm bạn là một lập luận muộn hơn và cụ thể hơn nằm bên trong truyền thống cũ đó, chứ không thay thế nó.

Một sinh viên Việt Nam học thạc sĩ ở Greenwich từng nghĩ BUSI1692 dạy cách mở một doanh nghiệp xuất khẩu. Cố vấn của bạn ấy chỉ vào chuẩn đầu ra thứ nhất, nơi môn yêu cầu so sánh lĩnh vực này với International Business dòng chính. Môn không dạy bạn trở thành người khởi nghiệp. Môn dạy bạn tranh luận xem lý thuyết hiện có đã giải thích thoả đáng người khởi nghiệp hay chưa.


Lập luận born global là gì, và vì sao nó quan trọng ở môn này?

Trả lời trực tiếp: Lý thuyết quốc tế hoá truyền thống cho rằng doanh nghiệp ra nước ngoài dần dần, theo từng giai đoạn, vừa đi vừa học. Doanh nghiệp born global đi ngược lại, vì chúng mang tính quốc tế ngay từ lúc ra đời. Môn xem xét đúng sự căng thẳng giữa hai cách nhìn này, và khi hiểu được nó, bạn có sẵn phép so sánh mà chuẩn đầu ra 1 đòi hỏi.

Johanson và Vahlne (1977) dựng mô hình Uppsala từ các doanh nghiệp Thuỵ Điển. Hai tác giả thấy quốc tế hoá diễn ra qua một chuỗi quyết định nhỏ, tăng dần, khi doanh nghiệp từ từ thu nhận và sử dụng hiểu biết về thị trường nước ngoài. Chuỗi thiết lập đi từ xuất khẩu không đều đặn, sang bán qua đại lý, rồi lập công ty con bán hàng, và cuối cùng là sản xuất tại chỗ. Họ cũng thấy thứ tự doanh nghiệp vào các quốc gia gắn với psychic distance, tạm dịch là khoảng cách tâm lý, tức tổng các yếu tố cản dòng thông tin, như khác biệt về ngôn ngữ, giáo dục, tập quán kinh doanh và văn hoá. Thuật ngữ born global được Rennie (1993) đặt ra trong một bài trên McKinsey Quarterly.

Oviatt và McDougall (1994) sau đó lập luận rằng những doanh nghiệp quốc tế ngay từ khi ra đời không khớp với các đặc điểm mà người ta vẫn chờ đợi ở doanh nghiệp đa quốc gia. Hai tác giả đề xuất bốn yếu tố cần và đủ cho một international new venture, tức doanh nghiệp mới mang tính quốc tế. Bốn yếu tố đó là nội bộ hoá một số giao dịch, dựa mạnh vào các cấu trúc quản trị thay thế để tiếp cận nguồn lực, tạo được lợi thế về địa điểm ở nước ngoài, và kiểm soát những nguồn lực độc nhất.

Một sinh viên từng viết rằng born global "chứng minh mô hình Uppsala sai". Cố vấn hỏi lại bạn ấy xem nói vậy có công bằng không. Oviatt và McDougall lập luận rằng chính những ngoại lệ mà lý thuyết giai đoạn tự nêu ra, gồm nguồn lực lớn, thị trường ổn định và kinh nghiệm cũ có thể áp sang nơi khác, đều không áp dụng cho doanh nghiệp mới, và đó là một luận điểm hẹp hơn nhưng mạnh hơn nhiều so với chữ "sai". Khi sinh viên đó viết lại cho chính xác tới mức đó, đoạn văn chuyển từ ý kiến cá nhân thành một phép so sánh có phản biện.


BUSI1692 được đánh giá như thế nào?

Trả lời trực tiếp: Hãy kiểm module handbook, tức sổ tay môn học, để biết chính xác các thành phần đánh giá, trọng số và hạn nộp của khoá bạn, vì phần đánh giá trong bản đặc tả môn được ban hành lại mỗi năm học. Điều bản đặc tả nói rõ là ý đồ của cách đánh giá, lấy tình huống kinh doanh thực tế làm động lực cho bài và rèn tư duy phản biện về các vấn đề thực tiễn.

Theo bản đặc tả, môn tạo cơ hội để bạn suy ngẫm về những thách thức mà một người khởi nghiệp có thể gặp trên thị trường quốc tế. Dù các thành phần đánh giá cụ thể là gì, sáu chuẩn đầu ra vẫn quyết định một bài nộp mạnh trông ra sao. Chuẩn đầu ra 4 yêu cầu bạn đánh giá phản biện và nhận diện cơ hội thị trường mới, tiến hành những khảo sát "substantial", tức có quy mô đáng kể, về việc tạo lập một doanh nghiệp mới, và thể hiện hiểu biết phản biện về các vấn đề sở hữu trí tuệ (IPR) ở thị trường nước ngoài. Chữ "substantial" ở đây là một chỉ dẫn về phạm vi, còn IPR được gọi đích danh, nghĩa là nó không phải phần tô điểm có cũng được, không có cũng được.

Bản nháp của một sinh viên xử lý kỹ phần thâm nhập thị trường, mạng lưới và huy động vốn, nhưng chỉ nhắc tới sở hữu trí tuệ trong một câu. Cố vấn chỉ vào chuẩn đầu ra 4, nơi IPR xuất hiện bằng tên. Trong một môn chấm theo sáu chuẩn đầu ra, một yếu tố được gọi tên mà chỉ được xử lý trong một câu là khoảng trống người chấm chắc chắn nhận ra.


Nên dùng những lý thuyết nào trong BUSI1692?

Trả lời trực tiếp: Hãy ghép một lý thuyết quốc tế hoá với một lý thuyết về cơ hội, rồi thêm góc nhìn mạng lưới. Nội dung môn đã cho bạn sẵn danh sách rút gọn, gồm mô hình Uppsala làm mốc so sánh, lý thuyết international new venture của Oviatt và McDougall, cặp causation và effectuation của Sarasvathy (2001), và góc nhìn mạng lưới mà môn dành trọn một phần để học.

Lý thuyết Nó giải thích điều gì Cách dùng có phản biện
Mô hình giai đoạn Uppsala Quốc tế hoá từ từ, dựa trên hiểu biết tích luỹ dần Dùng làm mốc nền mà tình huống của bạn hoặc khớp, hoặc đi ngược
International new ventures (Oviatt và McDougall) Doanh nghiệp quốc tế ngay từ khi ra đời Kiểm tình huống có đủ cả bốn yếu tố hay không, đừng chỉ gắn nhãn
Causation và effectuation (Sarasvathy, 2001) Người khởi nghiệp đã dự đoán hay đã kiểm soát Chẩn đoán logic ra quyết định thật sự, đừng mặc định là effectuation
Góc nhìn mạng lưới Quan hệ tạo ra cơ hội và lối vào thị trường như thế nào Môn coi mạng lưới là cả một phần học, không phải một chú thích

Phần hai của môn học về causation và effectuation cùng với tranh luận cơ hội được khám phá hay được tạo ra, còn phần ba dành trọn cho mạng lưới và quản trị quan hệ đối tác, kể cả quan hệ giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa với tập đoàn đa quốc gia. Chính Sarasvathy vạch ranh giới rất rõ khi viết "effectuation processes take a set of means as given and focus on selecting between possible effects that can be created with that set of means" (Sarasvathy, 2001, p. 245). Nói cách khác, effectuation bắt đầu từ những phương tiện đang có trong tay rồi chọn xem có thể tạo ra kết quả nào, ngược hẳn với causation vốn đặt mục tiêu trước rồi mới lập kế hoạch. Vì vậy, gọi hành vi của một doanh nghiệp là "effectuation" mà không kiểm xem lập luận thật sự đi theo chiều nào là một cách dùng sai thuật ngữ rất hay gặp. Một bài chỉ dùng lý thuyết về phương thức thâm nhập thị trường là đã bỏ qua hai trong bốn phần của môn.

Một sinh viên gắn nhãn born global cho doanh nghiệp trong tình huống của mình chỉ vì nó xuất khẩu ngay năm đầu tiên. Cố vấn cho bạn ấy đối chiếu doanh nghiệp đó với bốn yếu tố của Oviatt và McDougall. Doanh nghiệp không kiểm soát nguồn lực độc nhất nào và cũng không có lợi thế địa điểm ở nước ngoài, nên nó chỉ là một doanh nghiệp xuất khẩu sớm. Áp phép thử thay vì gắn nhãn cho ra một phát hiện thú vị hơn nhiều, và phép so sánh mà chuẩn đầu ra 1 đòi hỏi tự nhiên hình thành từ đó.


Nên dựng bố cục bài BUSI1692 như thế nào?

Trả lời trực tiếp: Hãy dựng bài quanh phép so sánh, không quanh dòng thời gian của một doanh nghiệp. Bố cục phục vụ tốt các chuẩn đầu ra đi qua sáu bước, từ giới thiệu doanh nghiệp và câu hỏi quốc tế nó gặp, tới điều lý thuyết dòng chính dự đoán, điều thật sự xảy ra, cách giải thích chỗ lệch, các ràng buộc thực tế, và cuối cùng là kết luận về lý thuyết.

Cụ thể, bước (1) giới thiệu doanh nghiệp và câu hỏi quốc tế cụ thể mà nó đối mặt. Bước (2) trình bày điều International Business dòng chính cho rằng lẽ ra phải xảy ra, dựa trên mô hình giai đoạn. Bước (3) cho thấy điều thật sự đã xảy ra và nó lệch ở đâu. Bước (4) giải thích chỗ lệch đó bằng lý thuyết cơ hội và mạng lưới. Bước (5) xử lý các ràng buộc thực tế, gồm huy động vốn, đặc thù của doanh nghiệp gia đình nếu có liên quan, và IPR ở các thị trường đích. Bước (6) kết luận xem tình huống của bạn nói gì về mức thoả đáng của lý thuyết hiện có, và đây là nơi chuẩn đầu ra 1 cuối cùng được chứng minh.

Chuẩn đầu ra 6 yêu cầu bạn đưa ra giải pháp đổi mới, tổng hợp, và tự áp dụng những cách tiếp cận mới cho việc mở rộng một doanh nghiệp mới hoặc một doanh nghiệp gia đình. Tổng hợp là một yêu cầu về cấu trúc chứ không phải một câu kết cho đẹp. Nó có nghĩa là các phần phải được gom lại thành một lập trường, điều mà một bố cục kể lần lượt từng doanh nghiệp hay từng chủ đề không bao giờ buộc bạn làm.

Một sinh viên chia bài thành bốn mục, mỗi mục ứng với một phần của môn. Bài bao quát mọi thứ nhưng không kết luận được điều gì. Cố vấn đề nghị bạn ấy dựng lại bài quanh một câu hỏi duy nhất, đó là việc doanh nghiệp trong tình huống quốc tế hoá nhanh được giải thích tốt hơn bằng lối vào mạng lưới hay bằng quyền kiểm soát nguồn lực. Vẫn là từng ấy nội dung, nhưng khi được sắp xếp quanh một luận điểm còn tranh cãi, bài lần đầu tiên thể hiện được năng lực tổng hợp.


Những lỗi nào hay làm mất điểm nhất trong BUSI1692?

Trả lời trực tiếp: Bài nộp ở mảng này thường trượt ở cùng mấy chỗ quen thuộc, gồm kể chuyện doanh nghiệp thay vì lập luận, gắn nhãn born global mà không kiểm, mặc định effectuation, bỏ qua mạng lưới, chỉ viết một câu về sở hữu trí tuệ, và không có lập trường ở cuối bài. Mỗi lỗi ứng với một chuẩn đầu ra cụ thể, và bảng dưới đây chỉ cách sửa.

Bảng liệt kê sáu lỗi thường gặp trong bài BUSI1692, lý do mất điểm và cách sửa từng lỗi
Những lỗi hay khiến bài BUSI1692 mất điểm nhất, đối chiếu với sáu chuẩn đầu ra của môn.

Lỗi Vì sao mất điểm Cách sửa
Kể lại câu chuyện của một doanh nghiệp Mọi chuẩn đầu ra đều mở bằng "critically" Biến doanh nghiệp thành bằng chứng cho một luận điểm, không để nó là chủ đề
Gọi một doanh nghiệp là born global chỉ theo nhãn Chuẩn đầu ra 1 đòi so sánh có phản biện Kiểm nó theo bốn yếu tố
Mặc định là effectuation vì nghe có vẻ khởi nghiệp Chẩn đoán sai logic ra quyết định Xem người sáng lập đã dự đoán hay đã kiểm soát
Bỏ qua mạng lưới Môn dành hẳn một phần cho mạng lưới Coi lối vào mạng lưới là một cách giải thích khả dĩ, không phải bối cảnh
Chỉ một câu về sở hữu trí tuệ IPR được gọi tên trong chuẩn đầu ra 4 Xử lý IPR ở đúng các thị trường đích cụ thể
Không có lập trường ở cuối bài Chuẩn đầu ra 6 đòi tổng hợp Kết luận về điều tình huống nói lên về lý thuyết

Sáu chuẩn đầu ra được chấm cùng nhau, nên việc phủ đủ cả sáu là một yêu cầu về cấu trúc. Khi chuẩn nào cũng mang chữ "critically" và một chuẩn gọi tên IPR, chuẩn yếu nhất của bài thường quyết định trần điểm, vì người chấm đi tìm bằng chứng cho sáu thứ sẽ thấy ngay thứ nào mỏng. Lý thuyết cũng chịu cùng kỷ luật đó. Dù bạn dựa vào Johanson và Vahlne (1977), Oviatt và McDougall (1994) hay Sarasvathy (2001), người chấm sẽ kiểm xem lý thuyết được gọi tên có thật sự được áp vào tình huống của bạn hay chỉ được nhắc tới.

Một sinh viên viết được phần phân tích nhận diện cơ hội rất chỉn chu nhưng không hề nhắc tới doanh nghiệp gia đình, dù tình huống của bạn ấy là một doanh nghiệp gia đình thế hệ thứ hai đang mở rộng ra nước ngoài. Môn giới thiệu các thách thức của doanh nghiệp gia đình ngay ở phần một, và chuẩn đầu ra 3 gọi tên việc thiết kế, quản lý và huy động vốn cho một doanh nghiệp khởi nghiệp hoặc doanh nghiệp gia đình. Sinh viên đó đã bỏ qua đúng chuẩn đầu ra liên quan nhất tới tình huống của mình.


Xử lý phần sở hữu trí tuệ thế nào khi không học luật?

Trả lời trực tiếp: Môn không yêu cầu bạn phân tích pháp lý. Môn yêu cầu bạn hiểu có phản biện các vấn đề IPR ở thị trường nước ngoài, tức nhận ra rằng bảo hộ có tính lãnh thổ, đăng ký ở một nước không tự có hiệu lực ở nước khác, và rủi ro thực tế thay đổi theo thị trường cũng như theo loại tài sản cần bảo hộ.

Cách làm là xác định tài sản có thể bảo hộ của doanh nghiệp thật sự là gì, có thể là một thương hiệu, một kiểu dáng, một quy trình hay một cơ sở dữ liệu, rồi bàn xem tài sản đó dễ bị xâm phạm tới mức nào ở đúng những thị trường mà tình huống của bạn bước vào. Chuẩn đầu ra 4 đặt IPR cạnh việc nhận diện cơ hội và tạo lập doanh nghiệp, tức coi nó là một ràng buộc thương mại đối với việc mở rộng chứ không phải một chủ đề pháp lý. Phần bốn của môn cũng bàn các vấn đề pháp lý và sở hữu trí tuệ mà người khởi nghiệp có thể gặp ở thị trường quốc tế theo đúng tinh thần thực tiễn đó.

Một sinh viên viết về một thương hiệu tiêu dùng Việt Nam mở rộng sang hai thị trường châu Á đã coi IPR như một ô cần đánh dấu cho đủ thủ tục. Cố vấn hỏi bạn ấy doanh nghiệp sẽ thật sự mất gì nếu có người khác đăng ký tên thương hiệu đó trước ở một thị trường đích. Khi nhìn vấn đề như một rủi ro thương mại đối với việc thâm nhập thị trường thay vì một thủ tục pháp lý, phần này nối liền được với phần còn lại của lập luận.


Câu hỏi thường gặp

BUSI1692 có giống môn khởi nghiệp ở bậc đại học không?
Không. Các môn khởi nghiệp ở Level 5 thường yêu cầu bạn phát triển một ý tưởng rồi suy ngẫm về nó. Môn này yêu cầu bạn so sánh có phản biện một lĩnh vực nghiên cứu với lý thuyết International Business dòng chính, tức một nhiệm vụ lập luận chứ không phải một nhiệm vụ phát triển ý tưởng.

Mình có cần ý tưởng kinh doanh của riêng mình không?
Bạn nên kiểm đề bài, nhưng các chuẩn đầu ra xoay quanh việc phân tích doanh nghiệp và cơ hội chứ không xoay quanh startup của chính bạn. Chuẩn đầu ra 4 yêu cầu khảo sát có quy mô đáng kể về việc tạo lập doanh nghiệp, và bạn hoàn toàn có thể làm điều đó trên một tình huống có thật.

Có phải mọi doanh nghiệp quốc tế hoá nhanh đều là born global?
Không, và mặc định như vậy là lỗi phổ biến nhất. Hãy đối chiếu tình huống với bốn yếu tố của Oviatt và McDougall trước khi dùng thuật ngữ này.

Nên cân đối lý thuyết và tư liệu tình huống thế nào?
Cần đủ lý thuyết để tình huống đang được giải thích chứ không chỉ được kể lại. Một phép thử hữu ích là thử bỏ doanh nghiệp đi mà giữ lại lập luận, rồi xem còn lại một luận điểm lý thuyết nào không. Nếu không còn gì, tình huống đang làm thay phần việc mà lý thuyết lẽ ra phải làm.

MAAS có đồng hành được ở BUSI1692 không?
Cố vấn MAAS làm việc cùng bạn ở khâu chọn một tình huống thật sự thử thách được lý thuyết, dùng các khung lý thuyết như phép thử thay vì cái nhãn, và rà xem bản nháp đã xử lý đủ sáu chuẩn đầu ra, kể cả IPR, hay chưa. Bạn vẫn là tác giả của bài, còn cố vấn kiểm xem tình huống có thật sự làm được việc bạn giao cho nó hay không.

Các lý thuyết mà môn này dựa vào đã có từ bao giờ?
Chúng còn lâu đời hơn chính môn học. Cách Schumpeter mô tả người khởi nghiệp có từ năm 1934, mô hình Uppsala của Johanson và Vahlne có từ năm 1977, lý thuyết international new venture của Oviatt và McDougall có từ năm 1994, và phân biệt causation với effectuation của Sarasvathy có từ năm 2001. Đó là một khoảng 67 năm mà môn nén lại trong vài tuần đọc tài liệu.


Hướng dẫn này dựa trên những nguồn nào?

Trả lời trực tiếp: Hướng dẫn dựa trên bản đặc tả môn BUSI1692 do University of Greenwich công bố và trên ba bài báo nền tảng làm trục lý thuyết cho môn, gồm mô hình Uppsala của Johanson và Vahlne (1977), lý thuyết international new venture của Oviatt và McDougall (1994), và cặp causation, effectuation của Sarasvathy (2001). Chi tiết đánh giá của khoá bạn vẫn cần kiểm lại trong sổ tay môn học.

Các lý thuyết đứng sau bảng khung lý thuyết ở trên nằm trong một số ít bài báo nền tảng, được trích dẫn rất nhiều, chứ không nằm trong các bản tóm tắt riêng của từng môn. Johanson và Vahlne (1977) cùng Oviatt và McDougall (1994) đều đăng trên Journal of International Business Studies, cách nhau 17 năm, còn Sarasvathy (2001) đăng trên Academy of Management Review. Chỉ cần đọc nguyên bản của một trong ba bài này thay vì một bản tóm tắt thứ cấp, bạn thường đã đủ chất liệu để làm phép so sánh ở chuẩn đầu ra 1 một cách thuyết phục.

Để tình huống của bạn thật sự có giá trị trong bài

Những bài làm tốt ở môn này hiếm khi nổi bật nhờ có doanh nghiệp hấp dẫn nhất. Điểm chung của chúng là trình bày được điều lý thuyết đã xác lập dự đoán, chỉ đúng chỗ tình huống đi lệch khỏi dự đoán đó, rồi giải thích chỗ lệch bằng lý thuyết cơ hội và mạng lưới thay vì bằng sự ngưỡng mộ dành cho người sáng lập. Nếu bạn đã có tình huống mà chưa thấy nó ủng hộ lập luận nào, một cố vấn MAAS có thể cùng bạn làm rõ phép so sánh trước khi bạn bắt tay vào viết. Cách MAAS đồng hành qua các chặng Outline, Draft, Final được mô tả ở trang hỗ trợ làm assignment và essay.

Trao đổi với cố vấn MAAS về môn học của bạn


Bài liên quan


References

  • Johanson, J., & Vahlne, J.-E. (1977). The internationalization process of the firm: A model of knowledge development and increasing foreign market commitments. Journal of International Business Studies, 8(1), 23–32. https://doi.org/10.1057/palgrave.jibs.8490676
  • Oviatt, B. M., & McDougall, P. P. (1994). Toward a theory of international new ventures. Journal of International Business Studies, 25(1), 45–64.
  • Rennie, M. W. (1993). Born global. McKinsey Quarterly, (4), 45–52.
  • Sarasvathy, S. D. (2001). Causation and effectuation: Toward a theoretical shift from economic inevitability to entrepreneurial contingency. Academy of Management Review, 26(2), 243–263. https://doi.org/10.2307/259121
  • Schumpeter, J. A. (1934). The theory of economic development. Harvard University Press.
  • Schumpeter, J. A. (1942). Capitalism, socialism and democracy. Harper & Brothers.

Tools & resources


Bài viết này thuộc chuỗi MAAS Journal dành cho du học sinh Việt Nam. Hỗ trợ làm assignment và essay của MAAS là một đối tác hỗ trợ học thuật, đồng hành cùng sinh viên theo mô hình Outline, Draft, Final với nhận xét phát triển từ chuyên gia đúng chuyên ngành. MAAS không viết bài hay nộp bài thay sinh viên.

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.