Skip to content
Quay lại BlogWriting Tips

BUSI1692 International Entrepreneurship: thế nào là một born global?

17 phút đọc3,295 từNEW

BUSI1692 có sáu chuẩn đầu ra, và cả sáu đều mở đầu bằng chữ "critically". Điều đó bất thường ngay cả với Level 7, và nó cho bạn biết môn này không chừa cho bạn một giọng mô tả nào cả.

BUSI1692 có sáu chuẩn đầu ra, và cả sáu đều mở đầu bằng chữ "critically". Điều đó bất thường ngay cả với Level 7, và nó cho bạn biết môn này không chừa cho bạn một giọng mô tả nào cả. Chuẩn đầu ra thứ nhất là chuẩn sinh viên hay đọc nhầm nhất: nó yêu cầu bạn không chỉ hiểu Khởi nghiệp Quốc tế, mà còn phải so sánh phản biện những điểm giống và khác của nó với lĩnh vực Kinh doanh Quốc tế dòng chính. Phép so sánh ấy là xương sống trí tuệ của môn, và doanh nghiệp born global chính là chỗ hai lĩnh vực này bất đồng rõ nhất. Bài viết này trả lời bảy câu hỏi mà sinh viên Việt Nam ở Greenwich hay hỏi cố vấn MAAS nhất trước khi bắt đầu BUSI1692.

Tác giả: Đội ngũ Biên tập MAAS · Hiệu đính bởi cố vấn cấp cao mảng Kinh doanh Quốc tế (PhD, International Entrepreneurship)
Last updated: 2026-07-29
Category: writing-tips


BUSI1692 International Entrepreneurship học về gì?

Trả lời ngắn: BUSI1692 là môn Level 7 trị giá 30 tín chỉ, thuộc khoa Business, Operations and Strategy của Greenwich Business School. Môn xem xét hoạt động kinh doanh quốc tế ảnh hưởng thế nào tới doanh nghiệp khởi nghiệp quốc tế, và cách người khởi nghiệp làm ăn ở thị trường nước ngoài. Nội dung công bố chạy theo bốn phần: các góc nhìn trong Khởi nghiệp Quốc tế, gồm doanh nghiệp born global và doanh nghiệp gia đình; nhận diện cơ hội trong sân chơi quốc tế, gồm causation và effectuation cùng tranh luận khám phá hay kiến tạo cơ hội; mạng lưới và quản trị đối tác cùng quan hệ đối tác, gồm cách doanh nghiệp nhỏ và vừa thiết lập hợp tác với tập đoàn đa quốc gia; và các lựa chọn quốc tế hoá, gồm những vấn đề pháp lý và sở hữu trí tuệ mà người khởi nghiệp gặp ở nước ngoài.

Bằng chứng: Môn nêu rõ việc giới thiệu sự hình thành của lĩnh vực này như một mảng riêng biệt, xem xét các doanh nghiệp born global và chúng khác doanh nghiệp truyền thống ra sao. Cách đóng khung đó đang làm công việc phân tích: nó định vị môn học như một cuộc tranh luận với lý thuyết quốc tế hoá đã được xác lập, chứ không phải một bản khảo sát về thực hành khởi nghiệp.

Ví dụ: Một bạn sinh viên Việt học thạc sĩ ở Greenwich tưởng BUSI1692 là về cách mở một doanh nghiệp xuất khẩu. Cố vấn chỉ cho bạn chuẩn đầu ra thứ nhất, vốn yêu cầu bạn so sánh lĩnh vực này với Kinh doanh Quốc tế dòng chính. Môn không dạy bạn trở thành người khởi nghiệp; môn dạy bạn tranh luận xem lý thuyết hiện có có giải thích thoả đáng người khởi nghiệp hay không.


Lập luận born global là gì, và vì sao nó quan trọng ở đây?

Trả lời ngắn: Lý thuyết quốc tế hoá truyền thống nói doanh nghiệp ra nước ngoài dần dần, theo từng giai đoạn, vừa đi vừa học. Born global đi ngược lại: chúng mang tính quốc tế ngay từ lúc khai sinh. Môn xem xét đúng sự căng thẳng này, và hiểu được nó chính là có được phép so sánh mà chuẩn đầu ra 1 đòi hỏi.

Bằng chứng: Johanson và Vahlne (1977) dựng mô hình Uppsala từ các doanh nghiệp Thuỵ Điển, phát hiện rằng quốc tế hoá diễn tiến qua một chuỗi quyết định tăng dần khi doanh nghiệp dần thu nhận và sử dụng tri thức về thị trường nước ngoài, với chuỗi thiết lập đi từ xuất khẩu không thường xuyên qua đại lý, tới công ty con bán hàng, rồi tới sản xuất. Hai ông cũng thấy thứ tự thâm nhập các quốc gia liên quan tới khoảng cách tâm lý, tức tổng các yếu tố cản trở dòng thông tin, như khác biệt về ngôn ngữ, giáo dục, tập quán kinh doanh và văn hoá. Oviatt và McDougall (1994) sau đó lập luận rằng những doanh nghiệp mang tính quốc tế ngay từ khi khai sinh là không tương thích với các đặc điểm vẫn được kỳ vọng ở tập đoàn đa quốc gia, và đề xuất bốn yếu tố cần và đủ cho một dự án khởi nghiệp quốc tế: nội bộ hoá một số giao dịch, dựa mạnh vào các cấu trúc quản trị thay thế để tiếp cận nguồn lực, thiết lập lợi thế vị trí ở nước ngoài, và kiểm soát các nguồn lực độc nhất.

Ví dụ: Một bạn viết rằng born global "chứng minh mô hình Uppsala là sai". Cố vấn hỏi lại điều đó có công bằng không. Oviatt và McDougall lập luận rằng chính các ngoại lệ mà lý thuyết giai đoạn tự nêu ra, tức nguồn lực lớn, thị trường ổn định, kinh nghiệm trước đó khái quát hoá được, đều không áp dụng cho các dự án khởi nghiệp mới. Đó là một luận điểm hẹp hơn và mạnh hơn nhiều so với chữ "sai". Viết lại tới độ chính xác đó đã đưa đoạn văn từ ý kiến cá nhân thành so sánh phản biện.


BUSI1692 đánh giá bằng những gì?

Trả lời ngắn: Hãy kiểm sổ tay môn học để biết chính xác các đầu điểm, trọng số và hạn nộp cho khoá của bạn, vì phần chi tiết đánh giá trong bản đặc tả được ban hành lại mỗi năm học. Thứ mà bản đặc tả nêu rõ là ý đồ của chiến lược đánh giá: nó được thiết kế sao cho các tình huống kinh doanh thực tế dẫn dắt công việc, và môn cho bạn cơ hội phản tư về những thách thức đa dạng mà một người khởi nghiệp có thể gặp trên sân chơi quốc tế, đồng thời phát triển tư duy phản biện với các vấn đề thực tiễn.

Bằng chứng: Dù các đầu điểm hoá ra là gì, sáu chuẩn đầu ra vẫn ràng buộc thế nào là một bài nộp mạnh. Chuẩn đầu ra 4 yêu cầu bạn đánh giá phản biện và nhận diện cơ hội thị trường mới, tiến hành các khảo sát đáng kể về việc tạo lập một dự án mới, và thể hiện hiểu biết phản biện về các vấn đề sở hữu trí tuệ ở thị trường nước ngoài. Chữ "đáng kể" ở đó là một chỉ dẫn về phạm vi, còn sở hữu trí tuệ được nêu đích danh, nghĩa là nó không phải phần tô điểm tuỳ chọn.

Ví dụ: Bản nháp của một bạn xử lý kỹ phần thâm nhập thị trường, mạng lưới và huy động vốn, rồi nhắc tới sở hữu trí tuệ trong đúng một câu. Cố vấn chỉ vào chuẩn đầu ra 4, nơi sở hữu trí tuệ được gọi tên. Trong một môn chấm theo sáu chuẩn, một yếu tố được nêu đích danh mà chỉ được xử lý trong một câu là khoảng trống mà người chấm sẽ nhận ra.


Nên dùng khung nào ở BUSI1692?

Trả lời ngắn: Ghép một lý thuyết quốc tế hoá với một lý thuyết cơ hội, rồi thêm mạng lưới. Nội dung môn đã cho bạn danh sách rút gọn ngay từ đầu.

Khung Nó giải thích điều gì Cách dùng có tính phản biện
Mô hình giai đoạn Uppsala Quốc tế hoá tuần tự, dẫn dắt bởi tri thức Dùng làm mốc nền mà tình huống của bạn hoặc khớp hoặc đi ngược
Dự án khởi nghiệp quốc tế (Oviatt và McDougall) Doanh nghiệp quốc tế ngay từ khai sinh Kiểm tình huống có đủ cả bốn yếu tố không, đừng chỉ gắn nhãn
Causation và effectuation (Sarasvathy) Người khởi nghiệp đã dự đoán hay đã kiểm soát Chẩn đoán logic quyết định thật, đừng mặc định là effectuation
Góc nhìn mạng lưới Quan hệ tạo ra cơ hội và lối vào thị trường thế nào Môn coi mạng lưới là cả một phần, không phải một chú thích

Bằng chứng: Phần hai của môn bao phủ causation và effectuation cùng với tranh luận khám phá hay kiến tạo cơ hội, còn phần ba dành trọn cho mạng lưới và quản trị quan hệ đối tác, gồm cả hợp tác giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa với tập đoàn đa quốc gia. Một bài nộp chỉ dùng lý thuyết về phương thức thâm nhập là đã bỏ qua hai trong bốn phần của môn.

Ví dụ: Một bạn gắn nhãn doanh nghiệp trong tình huống của mình là born global vì nó xuất khẩu ngay năm đầu. Cố vấn cho chạy qua bốn yếu tố của Oviatt và McDougall. Doanh nghiệp ấy không kiểm soát nguồn lực độc nhất nào và cũng không có lợi thế vị trí ở nước ngoài; nó chỉ đơn giản là một nhà xuất khẩu sớm. Áp phép thử thay vì gắn nhãn đã cho ra một phát hiện thú vị hơn nhiều, và phép so sánh mà chuẩn đầu ra 1 đòi hỏi tự nhiên bật ra từ đó.


Nên bố cục bài thế nào?

Trả lời ngắn: Dựng quanh phép so sánh, không phải quanh dòng thời gian của một doanh nghiệp. Một cấu trúc phục vụ tốt các chuẩn đầu ra: (1) giới thiệu dự án và câu hỏi quốc tế cụ thể mà nó đối mặt; (2) xác lập cách Kinh doanh Quốc tế dòng chính nói điều gì lẽ ra phải xảy ra, dùng mô hình giai đoạn; (3) cho thấy điều thực sự đã xảy ra và nó lệch ở đâu; (4) giải thích chỗ lệch đó bằng lý thuyết cơ hội và mạng lưới; (5) xử lý các ràng buộc thực tiễn, gồm huy động vốn, động lực doanh nghiệp gia đình nếu có liên quan, và sở hữu trí tuệ ở các thị trường đích; (6) kết luận về việc tình huống của bạn gợi ý gì về mức thoả đáng của lý thuyết hiện có. Bước sáu mới là nơi chuẩn đầu ra 1 cuối cùng được thể hiện.

Bằng chứng: Chuẩn đầu ra 6 yêu cầu bạn thể hiện các giải pháp đổi mới, tổng hợp, và vận dụng độc lập những cách tiếp cận mới cho việc mở rộng một dự án khởi nghiệp hoặc doanh nghiệp gia đình. Tổng hợp là một yêu cầu về cấu trúc, không phải một câu kết hoa mỹ: nó nghĩa là các phần phải được gom lại thành một lập trường, điều mà một cấu trúc kiểu từng-doanh-nghiệp hay từng-chủ-đề không bao giờ ép bạn phải làm.

Ví dụ: Một bạn tổ chức bài thành bốn mục phản chiếu bốn phần của môn. Bài phủ hết mọi thứ và không kết luận được gì. Cố vấn cho bạn dựng lại quanh một câu hỏi: việc doanh nghiệp trong tình huống quốc tế hoá nhanh được giải thích tốt hơn bởi lối vào mạng lưới hay bởi việc kiểm soát nguồn lực. Vẫn từng ấy nội dung, tổ chức lại quanh một luận điểm còn tranh cãi, và lần đầu tiên bài thể hiện được năng lực tổng hợp.


Những lỗi nào hay mất điểm nhất ở BUSI1692?

Trả lời ngắn: Sáu lỗi lặp lại ở các bài Khởi nghiệp Quốc tế.

Lỗi Vì sao mất điểm Cách sửa
Kể câu chuyện của một dự án Mọi chuẩn đầu ra đều mở bằng "critically" Biến doanh nghiệp thành bằng chứng cho một luận điểm, không phải chủ thể
Gọi một doanh nghiệp là born global theo nhãn Chuẩn 1 đòi so sánh phản biện Kiểm nó theo bốn yếu tố
Mặc định là effectuation vì nghe có vẻ khởi nghiệp Chẩn đoán sai logic quyết định Xem người sáng lập đã dự đoán hay đã kiểm soát
Bỏ qua mạng lưới Môn dành hẳn một phần cho mạng lưới Coi lối vào mạng lưới là một lời giải thích khả dĩ, không phải bối cảnh
Một câu về sở hữu trí tuệ Sở hữu trí tuệ được nêu tên trong chuẩn 4 Xử lý sở hữu trí tuệ ở đúng các thị trường đích cụ thể
Không có lập trường ở cuối Chuẩn 6 đòi tổng hợp Kết luận về điều tình huống nói lên về lý thuyết

Bằng chứng: Sáu chuẩn đầu ra được chấm cùng nhau nghĩa là độ phủ mang tính cấu trúc. Khi mọi chuẩn đều mang chữ "critically" và một chuẩn nêu đích danh sở hữu trí tuệ, chuẩn yếu nhất của bài nộp thường quyết định trần điểm của nó, vì một người chấm đi tìm bằng chứng cho sáu thứ sẽ tìm thấy một thứ mỏng.

Ví dụ: Một bạn viết ra phần phân tích nhận diện cơ hội rất chỉn chu mà không hề nhắc tới doanh nghiệp gia đình, dù tình huống của bạn là một doanh nghiệp gia đình thế hệ thứ hai mở rộng ra nước ngoài. Môn giới thiệu các thách thức của doanh nghiệp gia đình ngay ở phần một, và chuẩn đầu ra 3 nêu đích danh việc thiết kế, quản trị và huy động vốn cho một dự án khởi nghiệp hoặc doanh nghiệp gia đình. Bạn đã đi lướt qua đúng chuẩn đầu ra liên quan nhất trong cả môn.


Xử lý phần sở hữu trí tuệ thế nào khi không có nền luật?

Trả lời ngắn: Bạn không bị yêu cầu phân tích pháp lý. Bạn được yêu cầu thể hiện hiểu biết phản biện về các vấn đề sở hữu trí tuệ ở thị trường nước ngoài, tức là nhận ra rằng bảo hộ mang tính lãnh thổ, rằng đăng ký ở một quốc gia không tự đi theo bạn sang quốc gia khác, và rằng rủi ro thực tế khác nhau tuỳ thị trường và tuỳ thứ đang được bảo hộ. Hãy xác định tài sản có thể bảo hộ của dự án thực sự là gì, một thương hiệu, một kiểu dáng, một quy trình, một cơ sở dữ liệu, rồi bàn xem nó phơi ra tới đâu ở đúng những thị trường mà tình huống của bạn bước vào.

Bằng chứng: Chuẩn đầu ra 4 đặt sở hữu trí tuệ cạnh việc nhận diện cơ hội và tạo lập dự án, tức đóng khung nó như một ràng buộc thương mại lên việc mở rộng chứ không phải một chủ đề pháp lý. Phần bốn của môn bao phủ các vấn đề pháp lý và sở hữu trí tuệ mà người khởi nghiệp có thể gặp ở thị trường quốc tế đúng theo giọng thực tiễn đó.

Ví dụ: Một bạn viết về một thương hiệu tiêu dùng Việt Nam mở rộng sang hai thị trường châu Á đã xử lý sở hữu trí tuệ như một ô đánh dấu tuân thủ. Cố vấn hỏi doanh nghiệp sẽ thực sự mất gì nếu tên thương hiệu của họ bị người khác đăng ký trước ở một thị trường đích. Đóng khung nó thành một rủi ro thương mại đối với việc thâm nhập thị trường, thay vì một thủ tục pháp lý, đã nối phần đó vào phần còn lại của lập luận.


Câu hỏi thường gặp

BUSI1692 có giống môn khởi nghiệp bậc đại học không?
Không. Các môn khởi nghiệp Level 5 thường yêu cầu bạn phát triển và phản tư về một ý tưởng. Môn này yêu cầu bạn so sánh phản biện một lĩnh vực nghiên cứu với lý thuyết Kinh doanh Quốc tế dòng chính, tức một nhiệm vụ mang tính lập luận chứ không phải phát triển.

Em có cần ý tưởng kinh doanh của riêng mình không?
Hãy kiểm đề bài, nhưng các chuẩn đầu ra xoay quanh việc phân tích các dự án và cơ hội chứ không phải startup của chính bạn. Chuẩn 4 yêu cầu khảo sát đáng kể về việc tạo lập dự án, và điều này tiến hành được trên một tình huống có thật.

Có phải mọi doanh nghiệp quốc tế hoá nhanh đều là born global?
Không, và mặc định như vậy là lỗi phổ biến nhất. Hãy kiểm tình huống theo bốn yếu tố của Oviatt và McDougall trước khi dùng thuật ngữ này.

Nên có bao nhiêu lý thuyết so với tư liệu tình huống?
Đủ lý thuyết để tình huống đang được giải thích chứ không phải được kể lại. Một phép thử hữu ích: nếu bỏ doanh nghiệp đi mà giữ lại lập luận, có còn một luận điểm lý thuyết nào không? Nếu không, tình huống đang làm thay công việc mà lý thuyết lẽ ra phải làm.

MAAS có hỗ trợ được môn BUSI1692 không?
Cố vấn MAAS đồng hành cùng bạn ở khâu chọn một tình huống thực sự thử được lý thuyết, vận dụng các khung như phép thử thay vì nhãn dán, và rà xem bản nháp đã xử lý đủ sáu chuẩn đầu ra gồm cả sở hữu trí tuệ chưa. Bạn vẫn là tác giả bài của mình; việc của cố vấn là chỉ ra chỗ người chấm sẽ phản bác.


Sẵn sàng dựng phép so sánh mà BUSI1692 đang đòi hỏi?

Những bài làm tốt ở đây không phải bài có dự án hấp dẫn nhất. Đó là bài dựng lên được điều lý thuyết đã xác lập dự đoán, chỉ ra chính xác chỗ tình huống đi lệch khỏi nó, và giải thích chỗ lệch ấy bằng lý thuyết cơ hội và mạng lưới thay vì bằng sự ngưỡng mộ dành cho người sáng lập. Nếu bạn đã có tình huống mà chưa nhìn ra lập luận mà nó chống đỡ, cố vấn MAAS có thể cùng bạn dựng phép so sánh trước khi bạn viết.

Trao đổi với cố vấn MAAS về môn học của bạn


Bài liên quan


References

  • Johanson, J. & Vahlne, J.-E. (1977). The internationalization process of the firm: A model of knowledge development and increasing foreign market commitments. Journal of International Business Studies, 8(1), 23–32. https://doi.org/10.1057/palgrave.jibs.8490676
  • Oviatt, B. M. & McDougall, P. P. (1994). Toward a theory of international new ventures. Journal of International Business Studies, 25(1), 45–64.
  • Sarasvathy, S. D. (2001). Causation and effectuation: Toward a theoretical shift from economic inevitability to entrepreneurial contingency. Academy of Management Review, 26(2), 243–263. https://doi.org/10.2307/259121
  • Schumpeter, J. A. (1934). The theory of economic development. Harvard University Press.

Tools & resources


Bài viết thuộc chuỗi MAAS Journal dành cho du học sinh Việt Nam. MAAS Academic Mentoring là đối tác cố vấn; chúng tôi đồng hành cùng sinh viên theo mô hình Outline → Draft → Final với phản hồi phát triển từ các cố vấn trình độ PhD. MAAS không viết hộ hay nộp bài thay sinh viên.

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.