Muốn chia 10.000 từ của BUSI1359 cho hợp lý, bạn nên chốt câu hỏi nghiên cứu và phương pháp ngay trong bản extended outline 1.000 từ, rồi phân bổ số từ theo sáu chương, dành phần nặng nhất cho literature review, findings và discussion. Bài viết này giúp bạn làm được điều đó từ tuần đầu tiên, gồm cách hiểu năm chuẩn đầu ra, cách viết bản outline, cách chia chương và cách lên lịch để bản nháp đầy đủ xong trước hạn nộp đủ lâu.
BUSI1359 là một môn dissertation bậc thạc sĩ, và phần lớn rủi ro của môn nằm sớm hơn nhiều so với điều sinh viên thường nghĩ. Trước bài dissertation 10.000 từ, chiếm 100% điểm với mức đạt 50, có đúng một bài đánh giá quá trình (formative) là bản extended outline 1.000 từ, chỉ chấm Pass hoặc Fail. Greenwich gọi bản outline này là tấm bản đồ đường đi cho toàn bộ dự án, và cách gọi đó đáng để tâm, vì một bài dissertation đi lạc thường lạc từ chính bản outline được viết qua loa.
Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật lần cuối: 2026-07-29
Chuyên mục: business-management

BUSI1359 International Business Project học về gì?
Trả lời trực tiếp: BUSI1359 là môn Level 7, tức bậc thạc sĩ, trị giá 30 tín chỉ, do Executive Business Centre của Greenwich Business School phụ trách. Môn yêu cầu một công trình khoảng 10.000 từ, lập luận bằng lý thuyết và bằng chứng. Bạn tự học và vận dụng lý thuyết vào một câu hỏi kinh doanh có thật, như quy định của World Trade Organization (WTO) tác động ra sao tới chiến lược mở rộng của doanh nghiệp.
Bằng chứng: Phần mục tiêu công bố của môn dùng ba chữ để định nghĩa chuẩn cần đạt, là có cấu trúc (structured), có lập luận (argued) và được kiểm chứng (verified). Chữ khó đạt nhất là "verified". Nó có nghĩa mỗi luận điểm của bạn phải truy ngược được về dữ liệu và bằng chứng mà bạn đã tìm ra và dùng đúng cách, chứ không phải một khẳng định rút ra từ việc đọc. Mục tiêu môn cũng yêu cầu bạn đi theo một mạch suy nghĩ hợp lý để rút ra kết luận, và có thể cả khuyến nghị, từ bằng chứng.
Ví dụ: Một sinh viên Việt học thạc sĩ ở Greenwich kể với cố vấn MAAS rằng bạn ấy đã "chọn được đề tài", là tác động của chuyển đổi số lên doanh nghiệp. Cố vấn hỏi bằng chứng nào sẽ trả lời được câu hỏi đó và sinh viên đó sẽ tìm bằng chứng ở đâu. Bạn ấy chưa trả lời được câu nào, nghĩa là bạn ấy mới chọn được một mảng chủ đề chứ chưa có câu hỏi nghiên cứu. Nhận ra khác biệt này ở tuần thứ hai thì sửa không tốn gì, còn để tới tháng thứ tư thì có thể phải trả giá bằng cả bài dissertation.
BUSI1359 đánh giá bằng những gì?
Trả lời trực tiếp: Môn có một bài đánh giá tổng kết duy nhất là bài dissertation 10.000 từ chiếm 100% điểm, mức đạt 50, đối chiếu với cả năm chuẩn đầu ra. Bài đánh giá quá trình là bản extended outline 1.000 từ, chấm Pass hoặc Fail. Lịch dạy thường gồm các buổi một tiếng mỗi tuần trong học kỳ hai, sau đó chuyển sang các buổi gặp riêng supervisor cho tới ngày nộp.
Bằng chứng: Cách môn được sắp xếp cho bạn biết rủi ro nằm ở đâu. Phần dạy theo nhóm dừng lại giữa chừng, còn phần hướng dẫn là gặp riêng và phụ thuộc vào việc bạn chủ động đặt lịch, chuẩn bị trước. Một sinh viên tới buổi gặp supervisor (người hướng dẫn) mà không mang theo bản viết nào để bàn thì đã biến buổi hướng dẫn thành một cuộc trò chuyện, và các cuộc trò chuyện không tự cộng dồn thành 10.000 từ. Hãy xác nhận ngày nộp cùng mọi yêu cầu riêng của chương trình trong module handbook (sổ tay môn học) của chính bạn.
Ví dụ: Hai sinh viên có cùng một supervisor. Sinh viên thứ nhất gửi 1.500 từ trước mỗi buổi gặp và ra về với những chỉnh sửa cụ thể. Sinh viên thứ hai tới để trao đổi ý tưởng và ra về với lời động viên. Tới tháng thứ ba, sinh viên thứ nhất đã có một bản nháp đầy đủ tuy còn thô để hoàn thiện, còn sinh viên thứ hai có một bản kế hoạch đã chỉn chu nhưng chưa có chương nào.
BUSI1359 chấm ra sao, bài được thưởng ở đâu?
Trả lời trực tiếp: Nói gọn, năm chuẩn đầu ra là làm literature review, vận dụng nguyên lý kinh doanh quốc tế vào đề tài, tìm và dùng đúng dữ liệu, rút kết luận dựa trên bằng chứng, và hoàn thành công trình khoảng 10.000 từ. Chuẩn thứ tư phân tách các bậc điểm, vì người chấm phải truy ngược được mỗi kết luận về thứ bạn đã thu thập.
Bằng chứng: Nguyên văn năm chuẩn đầu ra gồm thực hiện một literature review, vận dụng các nguyên lý kinh tế và kinh doanh quốc tế hoặc quản trị phù hợp vào đề tài đã chọn, biết cách xác định, tìm và sử dụng dữ liệu cùng bằng chứng phù hợp, trình bày kết luận và phân tích dựa trên bằng chứng, và hoàn thành một công trình viết đáng kể khoảng 10.000 từ. Hãy để ý chuẩn thứ nhất nói "thực hiện" literature review, tức phần tổng quan văn liệu, chứ không nói tóm tắt văn liệu. Ở bậc thạc sĩ, literature review là một lập luận về hiện trạng tri thức, kết lại bằng việc chỉ ra khoảng trống mà nghiên cứu của bạn nhắm tới. Chương này biện minh cho sự tồn tại của câu hỏi nghiên cứu, nên một chương chỉ mô tả sẽ kéo yếu mọi phần phía sau. Boote và Beile (2005), trong bài báo trải từ trang 3 tới trang 15 của tạp chí Educational Researcher, lập luận rằng một literature review kỹ lưỡng và tinh tế là nền móng của nghiên cứu có giá trị, rồi đề xuất bộ tiêu chí để đánh giá chất lượng của riêng chương này. Hart (2018) coi literature review là một hành vi của trí tưởng tượng và lập luận chứ không phải việc lập danh mục.
Ví dụ: Một cố vấn MAAS đọc chương literature review của một sinh viên rồi hỏi chương đó kết luận điều gì. Sinh viên đó trả lời rằng chương đã "bao quát các lý thuyết chính". Cố vấn hỏi tiếp bạn ấy thấy lý thuyết nào thuyết phục nhất, vì sao, và có điều gì mà không lý thuyết nào giải thích được. Hai câu trả lời của chính sinh viên đó trở thành phần cuối của chương, và chính phần cuối ấy làm câu hỏi nghiên cứu trông cần thiết thay vì tuỳ tiện.
Viết đề cương mở rộng 1.000 từ thế nào?
Trả lời trực tiếp: Hãy coi extended outline là kiến trúc của cả dự án. Bản outline thường phủ năm phần, gồm câu hỏi nghiên cứu (khoảng 100 từ), lý do và khoảng trống (khoảng 200 từ), góc nhìn lý thuyết như quan điểm nguồn lực của Barney (1991) hay mô hình chiết trung của Dunning (1980), khoảng 200 từ, phương pháp (khoảng 300 từ) và kế hoạch chương (khoảng 200 từ).
Bằng chứng: Năm phần ấy đi theo đúng mục đích mà Greenwich nêu cho bản outline. Câu hỏi nghiên cứu phải được viết thành một câu hỏi thật sự. Phần phương pháp phải nói rõ bạn dùng dữ liệu gì, lấy từ đâu và phân tích ra sao, còn kế hoạch chương phải kèm số từ dự kiến cho từng chương. Nội dung chỉ dẫn của môn bao gồm mối quan hệ giữa phương pháp, dữ liệu và thiết kế nghiên cứu, các vấn đề về chọn mẫu và xác định biến, dữ liệu định lượng so với định tính, và cách thiết kế nghiên cứu tình huống (case study). Saunders, Lewis và Thornhill (2019) trình bày đúng mối phụ thuộc giữa triết lý nghiên cứu, thiết kế, phương pháp và dữ liệu mà môn này dạy. Những chủ đề đó được dạy sớm chính vì bản outline đòi bạn quyết định về tất cả chúng, và một quyết định sai ở bước này sẽ lan ra suốt 10.000 từ. Nếu bạn chưa viết được phần phương pháp một cách cụ thể thì bạn chưa có một dự án khả thi, và đó đúng là điều bản outline sinh ra để phơi bày.
Ví dụ: Bản outline của một sinh viên đề xuất phỏng vấn 30 lãnh đạo cấp cao ở 5 tập đoàn đa quốc gia trong 8 tuần. Cố vấn hỏi bạn ấy sẽ tiếp cận những người đó bằng cách nào, và sinh viên đó nhận ra mình chưa hề tính tới. Bạn ấy thiết kế lại dự án quanh các báo cáo thường niên công khai và phương pháp phân tích tài liệu (documentary analysis), giữ nguyên câu hỏi mà làm dự án trở nên khả thi. Bản outline đã bắt được vấn đề khi việc thiết kế lại còn rẻ.
Nên bố cục bài dissertation 10.000 từ thế nào?
Trả lời trực tiếp: Cấu trúc quen thuộc vẫn hiệu quả nhất, vì ở độ dài này đi chệch khỏi nó thường làm bạn mất sự rõ ràng mà không thêm được độ độc đáo. Một cách chia dùng được là introduction khoảng 1.000 từ, literature review khoảng 2.500 từ, methodology khoảng 1.500 từ, findings khoảng 2.000 từ, discussion khoảng 2.000 từ và conclusion khoảng 1.000 từ. Chương discussion là nơi điểm dồn về.
Bằng chứng: Phần introduction khoảng 1.000 từ gồm câu hỏi nghiên cứu và ý nghĩa của nó, literature review khoảng 2.500 từ kết lại bằng khoảng trống, methodology đi kèm phần lý giải vì sao chọn phương pháp đó, findings khoảng 2.000 từ trình bày kết quả, discussion khoảng 2.000 từ nối kết quả ngược về văn liệu, còn conclusion gói cả hạn chế lẫn khuyến nghị. Mục tiêu môn yêu cầu bạn đi theo mạch suy nghĩ hợp lý để rút ra kết luận từ bằng chứng, và đó chính là việc chương discussion làm. Chương này lấy các findings, đưa chúng trở lại phần văn liệu đã tổng quan ở trước, rồi giải thích hiểu biết của chúng ta đã thay đổi ra sao. Một bài dissertation có chương findings rồi đi thẳng sang conclusion là đã bỏ qua đúng bước lập luận mà mục tiêu môn mô tả, và chương discussion cũng thường là chương mỏng nhất ở những bài làm vội.

Ví dụ: Một sinh viên dành 4.000 từ cho literature review và chỉ 900 từ cho discussion, vì literature review dễ viết hơn. Cố vấn chỉ ra rằng literature review thể hiện chuẩn đầu ra thứ nhất, còn discussion thể hiện cùng lúc chuẩn thứ hai và chuẩn thứ tư. Sinh viên đó cân lại số từ về phía discussion, kể cả phải cắt bớt những đoạn tốt trong literature review, và nhờ vậy bài làm mạnh lên ở hai chuẩn thay vì dồn quá nhiều cho một chuẩn.
Những lỗi nào hay mất điểm nhất ở BUSI1359?
Trả lời trực tiếp: Bài dissertation bậc thạc sĩ dạng này thường vấp đi vấp lại vào cùng một nhóm lỗi, từ việc chỉ có đề tài mà chưa có câu hỏi nghiên cứu, viết literature review như bản tóm tắt, chọn phương pháp sau khi có dữ liệu, bày findings mà không bàn luận, tới dùng buổi gặp supervisor để trò chuyện và bỏ trống phần hạn chế.

| Lỗi | Vì sao mất điểm | Cách sửa |
|---|---|---|
| Có đề tài mà chưa có câu hỏi nghiên cứu | Không kiểm chứng được gì dựa trên một đề tài | Viết thành một câu hỏi mà bạn có thể trả lời sai |
| Literature review viết như bản tóm tắt | Chuẩn 1 đòi thực hiện một phần tổng quan, không đòi kể lại việc đọc | Kết chương bằng việc gọi tên khoảng trống |
| Chọn phương pháp sau khi đã thu dữ liệu | Đảo ngược logic thiết kế mà môn dạy | Quyết định phương pháp, dữ liệu và thiết kế cùng lúc trong bản outline |
| Trình bày findings mà không có discussion | Bỏ qua bước lập luận mà chuẩn 4 cho điểm | Cho chương discussion trọng lượng ngang chương findings |
| Dùng buổi gặp supervisor để trò chuyện | Phản hồi cần một văn bản để bám vào | Gửi bản viết trước mỗi buổi gặp |
| Không có phần hạn chế | Đọc lên như thiếu nhận thức chứ không phải tự tin | Nói thẳng những điều mà thiết kế của bạn không chứng minh được |
Bằng chứng: Mục tiêu môn nêu rõ yêu cầu bạn nắm được hiện trạng nghiên cứu mới nhất trong mảng mình chọn. Nắm được hiện trạng cũng có nghĩa là biết đóng góp của chính mình dừng ở đâu. Phần hạn chế vì thế không phải một lời xin lỗi, mà là bằng chứng cho thấy bạn hiểu phương pháp của mình xác lập được điều gì và không xác lập được điều gì.
Ví dụ: Một sinh viên lo rằng thừa nhận mẫu nghiên cứu nhỏ sẽ bị trừ điểm. Cố vấn giải thích điều ngược lại, rằng một mẫu nhỏ không được nhắc tới trông như một sơ suất, còn một mẫu nhỏ được bàn tới rõ ràng lại cho thấy ý thức về phương pháp. Bryman, Bell và Harley (2019) coi việc nêu thẳng các hạn chế là một phần của sự chặt chẽ về phương pháp, không phải một sự nhượng bộ. Sinh viên đó giữ nguyên kết quả, trình bày nó như một kết quả mang tính gợi ý chứ không khái quát hoá được, và chương ấy mạnh lên.
Quản lý một dự án 10.000 từ song song các môn khác ra sao?
Trả lời trực tiếp: Hãy tính ngược từ ngày nộp theo từng chương, đừng tính theo số từ mỗi ngày. Mốc bản nháp đầy đủ nên nằm trước hạn nộp ít nhất 3 tuần, vì chương discussion, nơi bạn đối chiếu findings với khung đã chọn như khung văn hoá của Hofstede (2001), gần như luôn phải viết lại khi bạn nhìn thấy toàn bộ findings, và lần viết lại đó là chỗ có điểm.
Bằng chứng: Mỗi chương cần một mốc riêng, gồm bản outline, bản nháp literature review, chương methodology, ngày thu xong dữ liệu, bản nháp findings, bản nháp đầy đủ và vòng chỉnh sửa. Môn được thiết kế quanh việc tự học, và phần mục tiêu công bố nêu đích danh trách nhiệm tự đi qua các bước nối tiếp của quá trình nghiên cứu để kịp hạn nộp. Quản lý thời gian vì thế không phải kỹ năng phụ ở môn này, nó nằm ngay trong mục tiêu môn. Quy ước chung của ngành đứng sau khối lượng ấy được cơ quan đảm bảo chất lượng giáo dục đại học của Anh ghi rõ trong bảng thuật ngữ: "one credit is typically described as being equal to 10 hours of notional learning" (Quality Assurance Agency for Higher Education, 2021, p. 2), tức mỗi tín chỉ thường tương đương 10 giờ học danh nghĩa. Với 30 tín chỉ, BUSI1359 tương đương khoảng 300 giờ làm việc, phần lớn không có lịch cố định, và đó là lý do môn thưởng cho một kế hoạch viết ra giấy chứ không thưởng cho thiện chí.
Ví dụ: Một sinh viên Việt dự tính viết 500 từ mỗi ngày và nghĩ mình sẽ xong thong thả. Bạn ấy không tính tới 2 tuần mất trắng khi chờ được cấp quyền truy cập một bộ dữ liệu. Cố vấn gợi ý bạn ấy cài thời gian dự phòng riêng quanh các bước phụ thuộc dữ liệu, vì đó là những bước duy nhất mà sinh viên đó không thể đẩy nhanh bằng cách làm chăm hơn.
Câu hỏi thường gặp
Bản outline 1.000 từ có tính điểm không?
Không, bản outline chỉ chấm Pass hoặc Fail. Nhưng nó quyết định hình hài của 10.000 từ mang 100% điểm, và đó là lý do bản đặc tả môn gọi nó là tấm bản đồ đường đi cần được viết thật cẩn thận.
Có làm được một bài dissertation hoàn toàn dựa trên tài liệu không?
Câu trả lời tuỳ yêu cầu của chương trình, nên bạn cần kiểm tra module handbook. Phần cố định là chuẩn đầu ra thứ ba, tức bạn phải xác định, tìm và sử dụng dữ liệu cùng bằng chứng phù hợp, và dữ liệu tài liệu hoặc dữ liệu thứ cấp có thể đáp ứng chuẩn này khi không tiếp cận được dữ liệu sơ cấp.
Literature review nên có bao nhiêu nguồn?
Đủ để xác lập hiện trạng nghiên cứu cho đúng câu hỏi của bạn, và đó là một phán đoán chứ không phải một con số. Một literature review có 40 nguồn mà không bao giờ đi tới một lập trường thì yếu hơn một literature review có 25 nguồn nhưng có lập trường rõ ràng.
Nếu kết quả trái với điều mình kỳ vọng thì sao?
Kết quả trái kỳ vọng vẫn có thể làm nên một bài dissertation tốt, không phải một bài hỏng. Chuẩn đầu ra thứ tư yêu cầu kết luận dựa trên bằng chứng, và bằng chứng làm bạn bất ngờ có giá trị hơn bằng chứng chỉ xác nhận điều bạn đã nghĩ, miễn là bạn bàn được vì sao khác biệt ấy xuất hiện.
MAAS có hỗ trợ được môn BUSI1359 không?
Cố vấn MAAS làm việc cùng bạn qua từng giai đoạn của quá trình nghiên cứu, từ lúc dựng một câu hỏi và bản outline khả thi, sắp xếp literature review thành một lập luận, tới lúc chuẩn bị cho các buổi gặp supervisor. Bạn vẫn là tác giả và là người làm nghiên cứu. Việc của cố vấn là thử thách lập luận của bạn và chỉ ra chỗ người chấm có thể sẽ phản bác.
Từ mảng chủ đề tới câu hỏi trả lời được
Những bài dissertation đi suôn sẻ hiếm khi nổi bật nhờ đề tài tham vọng nhất. Điểm chung của chúng là câu hỏi đủ hẹp để trả lời được, phương pháp khả thi trước khi đẹp, và bản outline được viết như thể nó thật sự quan trọng. Nếu bạn đang có một mảng chủ đề nhưng chưa có một câu hỏi mà mình có thể trả lời sai, cố vấn MAAS có thể cùng bạn gọt nó thành câu hỏi nghiên cứu trước hạn nộp outline.
Trao đổi với cố vấn MAAS về môn học của bạn
Bài liên quan
- BUSI1271 Global Strategy: hướng dẫn cách làm bài
- Cách chọn đề tài dissertation
- Dịch vụ cố vấn học thuật
References
- Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of Management, 17(1), 99–120.
- Boote, D. N., & Beile, P. (2005). Scholars before researchers: On the centrality of the dissertation literature review in research preparation. Educational Researcher, 34(6), 3–15. https://doi.org/10.3102/0013189X034006003
- Bryman, A., Bell, E., & Harley, B. (2019). Business research methods (5th ed.). Oxford University Press.
- Dunning, J. H. (1980). Toward an eclectic theory of international production: Some empirical tests. Journal of International Business Studies, 11(1), 9–31.
- Hart, C. (2018). Doing a literature review: Releasing the research imagination (2nd ed.). SAGE.
- Hofstede, G. (2001). Culture's consequences: Comparing values, behaviors, institutions and organizations across nations (2nd ed.). SAGE.
- Quality Assurance Agency for Higher Education. (2021). Higher education credit framework for England: Advice on academic credit arrangements (2nd ed.). Retrieved August 21, 2026, from https://www.qaa.ac.uk/docs/qaa/quality-code/higher-education-credit-framework-for-england.pdf
- Saunders, M., Lewis, P., & Thornhill, A. (2019). Research methods for business students (8th ed.). Pearson.
Tools & resources
- University of Greenwich. (n.d.). Module information [Module catalogue entry]. Retrieved July 29, 2026, from https://www.gre.ac.uk/modules/modules?crse=1359&subj=BUSI&term=205000
- University of Greenwich. (n.d.). Academic skills. Retrieved July 29, 2026, from https://www.gre.ac.uk/students/support/academic-skills
Bài viết thuộc chuỗi MAAS Journal dành cho du học sinh Việt Nam. MAAS là đối tác hỗ trợ học thuật, đồng hành cùng sinh viên qua từng giai đoạn của quá trình nghiên cứu với phản hồi phát triển từ chuyên gia đúng chuyên ngành. MAAS không viết hay nộp bài thay sinh viên.
