Skip to content
Quay lại BlogGeneral

MKTG3110: hành trình khách hàng số là một mô hình, không phải một tấm bản đồ

17 phút đọc3,323 từ

Môn học yêu cầu bạn hiểu hành trình khách hàng số, và cụm từ đó nghe như đang mô tả một thứ có thật ngoài đời. Nó là một mô hình.

Môn học yêu cầu bạn hiểu hành trình khách hàng số, và cụm từ đó nghe như đang mô tả một thứ có thật ngoài đời. Nó là một mô hình. Chỗ phân biệt này quyết định bài của bạn thuộc loại thuật lại một hành trình hay thuộc loại lập luận cho một hành trình, và cách chấm ở năm ba tách hai loại đó rất dứt khoát. Sinh viên coi hành trình là một lộ trình quan sát được sẽ dành phần lớn số chữ để vẽ nó ra. Sinh viên coi nó là một khái niệm được dựng lên sẽ dành số chữ đó để bảo vệ lựa chọn của mình, và điểm nằm ở chỗ sau. Dưới đây là cách chuyên gia MAAS phân tích một môn có cấu trúc như thế.

Tác giả: Ban biên tập MAAS · Hiệu đính bởi chuyên gia Marketing cấp cao (Tiến sĩ, Marketing)
Cập nhật: 15/08/2026
Chuyên mục: writing-tips


Môn này là gì, và được đặt ở tầm nào?

Trả lời thẳng: Tại University of Sydney, MKTG3110 là môn Digital Marketing, 6 tín chỉ bậc đại học thuộc Business School, môn tiên quyết là MKTG1001. Mô tả được công bố đặt trọng tâm vào cách một chiến dịch marketing được thiết kế, hình thành ý tưởng và triển khai trên môi trường số, cùng với các kỹ thuật riêng có của công nghệ số và tính chất mạng lưới của các nền tảng mạng xã hội.

Bằng chứng: Mô tả sau đó gọi tên những chỗ các kỹ thuật ấy được đem ra dùng, gồm xây dựng thương hiệu, xác định công chúng mục tiêu, quan hệ công chúng và truyền thông, với mục tiêu đã nêu là trang bị cho người học khả năng hiểu hành trình khách hàng số. Vế cuối cùng đó đáng đọc lại lần thứ hai, vì phần đánh giá của môn thường xoay quanh chính ý tưởng đó.

Cảnh báo trùng mã: MKTG3110 còn được University of North Carolina at Charlotte dùng cho một môn marketing nhập môn. Tài liệu lưu hành dưới mã đó viết cho người học năm nhất và sẽ dẫn bạn đi sai đường khá xa. Hãy đối chiếu bất cứ thứ gì bạn tìm được với phần mô tả môn của Sydney trước khi dùng.

Ví dụ: Một bạn tìm được bộ ghi chú khá chỉn chu dưới mã này và học theo suốt một tuần, tới lúc đó mới nhận ra nó chỉ bàn bốn chữ P ở mức nhập môn. Mã thì khớp. Ngoài mã ra thì không khớp gì cả.


Vì sao phần chuẩn đầu ra đọc lên giống một bản mô tả công việc?

Trả lời thẳng: Vì nó được viết theo hướng đó thật. Bốn chuẩn đầu ra được công bố yêu cầu người học thể hiện được những bộ kỹ năng mà ngành đang cần, vận dụng lý thuyết để tạo ra một văn bản nghiệp vụ đạt chuẩn nghề, vận dụng cả lý thuyết lẫn phần mềm để giải quyết vấn đề có thật, và cho thấy mình nhận thức được các thách thức đương thời trong kinh doanh cùng đòi hỏi hành xử có đạo đức trước những thách thức ấy. Ba trên bốn chuẩn đầu ra gọi tên một sản phẩm hoặc một công cụ, chứ không gọi tên một thao tác tư duy.

Bằng chứng: Cách diễn đạt đó làm thay đổi hình dung về một bài đạt điểm cao. Phần lớn môn marketing đánh giá xem bạn phân tích và đánh giá được tới đâu. Môn này đánh giá xem bạn có tạo ra được thứ mà một nơi làm việc chấp nhận hay không, tức là nó đặt ra một cái sàn chứ không đặt ra một cái trần. Từ mang sức nặng thật sự trong hai trên bốn chuẩn đầu ra là vận dụng, và nó gắn với lý thuyết chứ không gắn với phần mềm. Một sản phẩm trau chuốt mà bên trong không có lý thuyết nào thì mới đáp ứng được phần nhìn thấy của chuẩn đầu ra, còn phần thật sự được chấm điểm thì vẫn trượt.

Ví dụ: Hai bạn nộp hai bản kế hoạch chiến dịch trông đẹp ngang nhau. Một bạn giải thích từng quyết định bằng cách chỉ ra nó nhằm đạt kết quả gì. Bạn còn lại giải thích từng quyết định bằng cách chỉ ra một cơ chế đã học trong môn và nói vì sao cơ chế đó dự báo kết quả ấy. Bạn thứ hai có cùng một sản phẩm và điểm cao hơn hẳn, bởi chuẩn đầu ra đòi lý thuyết được vận dụng chứ không đòi lý thuyết được liệt kê.


Hành trình khách hàng thật ra đang khẳng định điều gì?

Trả lời thẳng: Rằng trải nghiệm khách hàng có thể được sắp xếp thành các giai đoạn một cách hữu ích, và những gì xảy ra ở giai đoạn này còn theo sang giai đoạn kế tiếp. Đó là một khung để tổ chức phân tích. Đó không phải lời khẳng định rằng có người tiêu dùng nào đi đúng một lộ trình có hình dạng như vậy.

Bằng chứng: Lemon và Verhoef (2016) trình bày hành trình như một khái niệm về quá trình, trải trên ba phần trước khi mua, lúc mua và sau khi mua, và cách họ đặt vấn đề nói rõ là để tổ chức một chương trình nghiên cứu và quản trị, chứ không phải để mô tả con đường người ta thực sự đi. Đọc theo hướng ấy mới cho phép bạn đặt được những câu hỏi mà môn học trả điểm. Điểm tiếp xúc nào doanh nghiệp kiểm soát được và điểm nào thì không? Giai đoạn nào đang là nút thắt của thương hiệu này? Bằng chứng thế nào thì đủ để kết luận một giai đoạn đang hỏng?

Ví dụ: Khi được yêu cầu dựng hành trình cho một khách hàng, một bài yếu cho ra sơ đồ năm giai đoạn khá bắt mắt kèm biểu tượng minh hoạ. Một bài mạnh chỉ đưa ba giai đoạn, biện minh cho việc gộp bớt bằng lập luận rằng với một sản phẩm mức độ cân nhắc thấp thì hai giai đoạn theo lối chia thông thường không phân biệt được với nhau, rồi nói rõ bằng chứng nào sẽ lật lại quyết định đó. Bài thứ hai có ít thứ trên giấy hơn và có nhiều lập luận hơn.


Dữ liệu chống đỡ được tới đâu?

Phân loại các khẳng định theo thứ cần có để chứng minh chúng là cách nhanh nhất để một bài marketing số thôi nói quá.

Khẳng định bạn muốn đưa ra Thứ chứng minh được nó Thứ một bảng điều khiển cho bạn
Người tiêu dùng đi qua các giai đoạn này Dữ liệu hành vi trên nhiều điểm tiếp xúc, kèm quy tắc phân định ranh giới giai đoạn Một biểu đồ phễu mà các giai đoạn do chính công cụ định nghĩa sẵn
Kênh này tạo ra số chuyển đổi kia Một nhóm đối chứng phân bổ ngẫu nhiên, hoặc thiết kế xử lý được chọn mẫu thiên lệch Một tương quan giữa việc tiếp xúc quảng cáo và việc chuyển đổi
Mẫu quảng cáo này hiệu quả hơn mẫu kia Một thử nghiệm có kiểm soát, giữ nguyên tệp công chúng Hai con số của hai chiến dịch chưa từng đứng trước cùng một tệp
Công chúng của chúng tôi là nhóm này Một khung chọn mẫu bạn mô tả được Phần người mà nền tảng đã chọn để phân phối tới
Mức tương tác dự báo được hành vi mua Một liên hệ kiểm chứng trên kết quả thật, không phải trên biến thay thế Số lượt tương tác và số lượt mua đặt cạnh nhau

Vì sao phần phân bổ đóng góp thường nói quá?

Trả lời thẳng: Vì những con số nền tảng báo về là số quan sát, còn câu mà sinh viên viết về chúng lại là câu nhân quả. Khoảng cách giữa hai thứ đó không phải sai số làm tròn, và đây là kết quả đã đo được chứ không phải một lời dặn cho cẩn thận.

Bằng chứng: Gordon, Zettelmeyer, Bhargava và Chapsky (2019) so sánh ước lượng từ thí nghiệm với ước lượng từ quan sát, dựa trên 15 thí nghiệm quảng cáo qui mô lớn tại Mỹ chạy trên Facebook, bao phủ khoảng 500 triệu lượt quan sát người dùng và 1,6 tỷ lượt hiển thị quảng cáo. Họ báo cáo rằng những cách tiếp cận quan sát mà nhà quảng cáo thường có trong tay lại thường không cho ra được tác động nhân quả mà các thí nghiệm ngẫu nhiên xác định. Điều đáng chú ý cho bài của bạn không nằm ở chỗ các con số quan sát bị sai, mà nằm ở chỗ độ lớn lẫn chiều của sai lệch thay đổi theo từng chiến dịch, nghĩa là không có mẹo ước chừng nào chỉnh lại được.

Bằng chứng, lớp thứ hai: Dòng nghiên cứu về mô hình hoá không lạc quan hơn theo kiểu khác, nó chỉ nói rõ hơn về điều kiện áp dụng. Li và Kannan (2014) dựng một mô hình phân bổ chuyển đổi trên nhiều kênh rồi kiểm chứng nó bằng một thí nghiệm hiện trường, thay vì kiểm chứng bằng độ khớp của chính mô hình, và đó mới là chuẩn đáng để ý. Anderl, Becker, von Wangenheim và Schumann (2016) tiếp cận việc dựng hành trình và phân bổ đóng góp bằng lý thuyết đồ thị, và chỉ ra bức tranh thu được phụ thuộc nhiều thế nào vào những lựa chọn mô hình hoá đặt ra từ trước khi đụng tới dữ liệu.

Ví dụ: Một bạn viết rằng quảng cáo mạng xã hội trả phí đã kéo số chuyển đổi tăng 34%. Bảng điều khiển đúng là có hiện con số 34%. Thứ nó đo được là tỷ lệ chuyển đổi trong nhóm người mà nền tảng chọn để hiển thị quảng cáo, đặt cạnh nhóm người nó không chọn. Con số thì thật còn câu văn dựng quanh nó thì không. Chỉ cần một đoạn ngắn gọi tên giới hạn ấy là một khẳng định bị trừ điểm đã thành một chỗ thể hiện được năng lực phán đoán.


Dùng kết quả từ phần mềm thế nào để nó không viết hộ lập luận của bạn?

Trả lời thẳng: Bằng cách quyết định mình muốn biết điều gì trước khi mở công cụ, và bằng cách viết phần diễn giải bằng chữ của mình thay vì bằng từ vựng của công cụ. Chuẩn đầu ra nói vận dụng lý thuyết phần mềm. Phần mềm xuất hiện mà không kèm lý thuyết thì đọc lên chỉ như một ảnh chụp màn hình có chú thích.

Bằng chứng: Các chỉ số của nền tảng do chính nền tảng định nghĩa, và các định nghĩa ấy mang theo những giả định mà lập luận của bạn thừa hưởng lại mà không nói ra. Một lượt hiển thị, một con số tiếp cận, một phiên truy cập và một lượt tương tác đều là quyết định đo lường của người khác, đặt ra cho mục đích của họ. Gọi tên định nghĩa mà mình đang dựa vào là một nước đi nhỏ, và nó tách một bài năm ba khỏi một bài năm nhất.

Ví dụ: Sinh viên Việt Nam thường sang với tay nghề thực hành khá vững trên các công cụ này, có khi vững hơn bạn cùng lớp, rồi khá bất ngờ khi bản trình bày trau chuốt lại nhận điểm thấp hơn dự tính. Chỗ hụt hiếm khi thuộc về kỹ thuật. Nó nằm ở chỗ phần phân tích thuật lại những gì bảng điều khiển hiển thị thay vì lập luận xem hiển thị ấy có nghĩa gì, và cách chữa gói trong một câu cho mỗi con số: con số này là gì, nó không nói được điều gì, và từ đó suy ra quyết định nào.


Chuẩn đầu ra về đạo đức thật sự chạm vào đâu?

Trả lời thẳng: Thường là chạm vào khâu đo lường, không phải khâu nội dung. Sinh viên hay chờ câu hỏi đạo đức xoay quanh chuyện chiến dịch nói gì. Trong một môn về môi trường số, nó chạm vào chuyện chiến dịch thu thập gì và kết quả được báo cáo với mức tự tin ra sao, ít nhất là ngang mức đó.

Bằng chứng: Một khẳng định được trình bày chắc chắn hơn mức phương pháp cho phép trước hết là một vấn đề báo cáo, sau đó mới là một vấn đề đạo đức, và câu chữ của chuẩn đầu ra gắn hành xử có đạo đức với các thách thức đương thời trong kinh doanh chứ không gắn riêng với nội dung quảng cáo. Coi việc đo lường trung thực là một phần của chuẩn đầu ra về đạo đức, thay vì coi nó là một ghi chú phương pháp tách rời, thường cho ra bài mạch lạc hơn là gắn thêm một đoạn về quyền riêng tư vào cuối bài.

Lưu ý về phạm vi: mỗi chuẩn đầu ra được cho trọng số bao nhiêu, và bài đánh giá nào gánh nó, thay đổi theo từng kỳ giảng dạy. Đề cương môn của chính kỳ bạn học mới là căn cứ về cấu trúc bài và trọng số. Không có gì ở đây thay được việc đọc nó.

Ví dụ: Khi được yêu cầu bàn về đạo đức trong một bản đề xuất chiến dịch, một bài yếu thêm một đoạn kết về quyền riêng tư chẳng nối vào đâu trong phần trên. Một bài mạnh quay lại sửa chính phần kết quả của mình, viết lại hai khẳng định ở đúng mức tự tin mà bằng chứng cho phép, rồi nói rằng đó mới là quyết định đạo đức mà đề bài thật sự đòi hỏi.


Một trình tự làm việc gợi ý

  1. Xác định chiến dịch đang trả lời câu hỏi gì trước khi chọn kênh. Kênh chỉ là phương tiện, còn điểm đi theo phần lập luận.
  2. Dựng mô hình hành trình một cách có chủ đích. Nói rõ bạn dùng những giai đoạn nào, vì sao là những giai đoạn đó chứ không phải giai đoạn khác, và điều gì sẽ khiến bạn sửa lại.
  3. Với mỗi con số định đưa vào bài, viết một mệnh đề nói nó đo cái gì và ai là người định nghĩa nó.
  4. Tách phần mô tả khỏi phần suy luận. Nói chuyện gì đã xảy ra, rồi nói bạn suy ra điều gì, rồi nói điều gì phải đúng thì suy luận ấy mới đứng được.
  5. Chỗ nào không chứng minh được quan hệ nhân quả thì nói thẳng, và nói luôn thiết kế nào sẽ chứng minh được. Cách này ăn điểm hơn một khẳng định để trần.
  6. Đọc lại sản phẩm bằng con mắt nhà tuyển dụng, rồi đọc lại bằng con mắt người chấm. Chuẩn đầu ra đòi bạn làm hài lòng cả hai, và chỉ người thứ hai mới đọc phần biện minh.

Câu hỏi thường gặp

Môn này thuộc trường nào?
University of Sydney, nơi MKTG3110 là môn Digital Marketing, 6 tín chỉ thuộc Business School. Cùng mã này còn được University of North Carolina at Charlotte dùng cho một môn nhập môn, nên hãy đối chiếu phần mô tả môn trước khi tin bất cứ tài liệu nào bạn tìm được.

Cần học xong môn nào trước?
Trang môn ghi môn tiên quyết là MKTG1001. Điều kiện tiên quyết được nêu lại mỗi năm, nên hãy xem trang của đúng năm bạn đăng ký thay vì một cuốn cẩm nang cũ.

Các bài đánh giá và trọng số ra sao?
Cấu trúc bài và trọng số thay đổi theo từng kỳ giảng dạy và được ghi trong đề cương môn của bạn. Trọng số lưu hành trên các trang chép bài sinh viên thường đã lỗi thời, và dựng kế hoạch làm bài trên đó là rủi ro không cần thiết.

Đây có phải môn nặng kỹ thuật không?
Đây là môn thiên về vận dụng chứ không thiên về kỹ thuật. Chuẩn đầu ra yêu cầu vận dụng lý thuyết và phần mềm vào vấn đề có thật, tức là thạo công cụ được coi là đương nhiên chứ không phải là chỗ cho điểm.

Một văn bản nghiệp vụ thì cần bao nhiêu lý thuyết?
Đủ để mọi quyết định đáng kể truy được về một cơ chế chứ không truy về sở thích. Một văn bản đạt chuẩn nghề không phải là văn bản hết tính lý thuyết, nó chỉ thôi nói ra lý thuyết của mình, còn chuẩn đầu ra thì yêu cầu bạn tiếp tục nói ra.

Tôi dùng con số tăng trưởng do nền tảng báo về làm bằng chứng được không?
Bạn báo cáo được, và bạn nên nói rõ đó là con số gì. Trình bày một con số quan sát của nền tảng như thể đó là tác động nhân quả đã đo được là chỗ nói quá phổ biến nhất trong bài marketing số, còn gọi tên giới hạn ấy thường được cộng điểm hơn là bị trừ.


Bài liên quan

Hỏi chuyên gia MAAS về môn của bạn


MAAS đứng ở đâu trong việc này

Chuyên gia MAAS đồng hành cùng người học ở những môn như thế này, chứ không làm thay. Với marketing số, vòng review hữu ích nhất thường là một lượt đọc soi các khẳng định: lấy từng con số trong bản nháp rồi hỏi nó đo cái gì, ai định nghĩa nó, và câu văn dựng trên nó có đang gánh nhiều hơn mức bằng chứng cho phép hay không. Người học thường nhận ra phần tư duy chiến dịch của mình vốn ổn, còn phần báo cáo thì tự tin quá tay, và đó là vấn đề sửa được, sửa trước khi nộp thì đỡ tốn công hơn sửa sau khi nộp rất nhiều. Bài vẫn là của bạn. Nếu điều đó hữu ích, dịch vụ hỗ trợ học thuậtdịch vụ gia sư là hai chỗ nên bắt đầu.


References

Anderl, E., Becker, I., von Wangenheim, F., & Schumann, J. H. (2016). Mapping the customer journey: Lessons learned from graph-based online attribution modeling. International Journal of Research in Marketing, 33(3), 457–474. https://doi.org/10.1016/j.ijresmar.2016.03.001

Gordon, B. R., Zettelmeyer, F., Bhargava, N., & Chapsky, D. (2019). A comparison of approaches to advertising measurement: Evidence from big field experiments at Facebook. Marketing Science, 38(2), 193–225. https://doi.org/10.1287/mksc.2018.1135

Lemon, K. N., & Verhoef, P. C. (2016). Understanding customer experience throughout the customer journey. Journal of Marketing, 80(6), 69–96. https://doi.org/10.1509/jm.15.0420

Li, H., & Kannan, P. K. (2014). Attributing conversions in a multichannel online marketing environment: An empirical model and a field experiment. Journal of Marketing Research, 51(1), 40–56. https://doi.org/10.1509/jmr.13.0050

Tools & resources

The University of Sydney. (2026). MKTG3110: Digital Marketing. https://www.sydney.edu.au/units/MKTG3110

The University of Sydney. (2026). Unit of study outlines. https://www.sydney.edu.au/students/unit-of-study-outlines.html

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.

MKTG3110: hành trình khách hàng số là một mô hình, không phải một tấm bản đồ