Skip to content
Quay lại BlogMarketing

MARK1107 Marketing: viết báo cáo cá nhân 3.000 từ thế nào?

20 phút đọc3,815 từ

Muốn viết tốt báo cáo cá nhân 3.000 từ của MARK1107 Principles and Practice of Marketing, bạn cần dựng nó thành một chuỗi quyết định nối liền, từ phân khúc tới định vị, từ định vị tới marketing mix, rồi tự đánh giá chuỗi đó vững ở đâu và gãy ở đâu. MARK1107 là môn 30 tín chỉ ở University of Greenwich, thuộc nhóm khối tín chỉ lớn nhất của năm nhất ngành marketing, và được chấm qua hai đầu điểm là bài thuyết trình nhóm và báo cáo cá nhân. Hai phần này thưởng cho hai kỹ năng khác nhau, nên sinh viên coi báo cáo như bản kéo dài của bài thuyết trình thường mất điểm.

Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu môn MARK1107 chấm điều gì, chọn đúng khung marketing cho tổ chức mình phân tích, bố cục báo cáo 3.000 từ theo một mạch lập luận, và tránh những lỗi sinh viên Việt ở Greenwich hay mắc.

Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật lần cuối: 2026-07-29
Chuyên mục: marketing

Một buổi họp nhóm với biểu đồ in và máy tính xách tay bày trên bàn
Ảnh minh hoạ

MARK1107 Principles and Practice of Marketing học về gì?

Trả lời trực tiếp: MARK1107 là môn Level 4, tức bậc năm nhất trong hệ thống của Anh, trị giá 30 tín chỉ, do khoa Management and Marketing của Greenwich Business School giảng dạy và đặt nền cho kiến thức marketing của cả chương trình. Triết lý marketing mà môn giới thiệu gần với lập luận của Levitt (1960) trên Harvard Business Review rằng doanh nghiệp nên định nghĩa mình qua nhu cầu khách hàng chứ không qua sản phẩm đang bán.

Bên cạnh triết lý đó, môn bàn tới các vấn đề đạo đức và xã hội, ý nghĩa của cụm "customer focused", và thực hành marketing ở quy mô vùng, quốc gia lẫn toàn cầu.

Bằng chứng: Sáu chuẩn đầu ra (learning outcomes) mà môn công bố đi theo sáu bước: mô tả vai trò của marketing trong bối cảnh kinh doanh, mô tả các lực môi trường, hiểu chiến lược và các bên hữu quan (stakeholders), mô tả marketing mix, hiểu nghiên cứu thị trường cùng phân tích thị trường mục tiêu, và nắm được cạnh tranh trong marketing. Bạn nên đọc kỹ các động từ trong danh sách này. Bốn trong sáu chuẩn dùng động từ "describe" hoặc "appreciate", tức mô tả hoặc nắm được, và điều đó hợp với một môn nền tảng năm nhất. Tuy nhiên, chính vì vậy mà những sinh viên vươn lên nhóm điểm cao thường là người làm được nhiều hơn động từ mà đề giao cho mình.

Ví dụ: Một sinh viên Việt ở Greenwich nghĩ rằng môn 30 tín chỉ chỉ có nghĩa là phải đọc gấp đôi một môn 15 tín chỉ. Cố vấn MAAS chỉ cho bạn ấy một hàm ý có ích hơn, là môn này có trọng số gấp đôi trong điểm trung bình năm, và là môn mà mọi môn marketing về sau đều mặc định sinh viên đã nắm vững. Khi bạn ấy coi MARK1107 là nền móng thay vì một môn giữa nhiều môn, cách bạn ấy sắp thứ tự ưu tiên cho cả học kỳ cũng đổi theo.


MARK1107 đánh giá bằng những gì?

Trả lời trực tiếp: Môn có hai đầu điểm, gồm một bài thuyết trình nhóm chiếm 30% với giới hạn 20 phút, và một báo cáo cá nhân 3.000 từ chiếm 70%. Cả hai đều lấy mức đạt 40% và đều được chấm theo cả sáu chuẩn đầu ra. Đề bài, hạn nộp và giới hạn chủ đề thường được ban hành lại mỗi năm học, nên bạn cần đối chiếu với sổ tay môn học (module handbook) của chính lớp mình.

Ngoài hai đầu điểm tính điểm, môn còn có phần đánh giá quá trình (formative assessment) không tính vào kết quả, gồm 2 bài trắc nghiệm trực tuyến đặt ở khoảng giữa mỗi kỳ và bao phủ nội dung bài giảng tính tới thời điểm đó.

Bằng chứng: Các con số trên lấy từ phần đánh giá mà Greenwich công bố công khai trong danh mục module. Theo danh mục này, môn do Ian Whitten điều phối, dạy qua các buổi giảng dài 1 giờ, mỗi buổi đi kèm một buổi tutorial khoảng 50 phút bám theo danh sách bài đọc trước của buổi giảng đó. Điều đáng để ý là logic thiết kế của hai đầu điểm. Bài thuyết trình là phần nhỏ hơn và bị siết bởi một giới hạn thời gian cứng, còn báo cáo gánh phần lớn số điểm và cho bạn không gian để triển khai một lập luận. Danh mục cũng ghi mức đạt 40% cho cả hai đầu điểm, nhưng phần phân hoá điểm nằm ở chỗ bạn làm đúng loại việc mà từng đầu điểm đòi hỏi. Đây là hai nhiệm vụ khác nhau, và lỗi hay gặp là chuẩn bị một lần rồi nộp hai lần.

Ví dụ: Một sinh viên dựng được bài thuyết trình 20 phút rất tốt về một thương hiệu đồ uống, rồi bung chính nội dung các slide đó thành 3.000 từ cho báo cáo. Báo cáo của bạn ấy bị chấm thấp hơn hẳn bài thuyết trình. Cố vấn giải thích lý do: bài thuyết trình thưởng cho khả năng chọn lọc, tức là cắt xuống còn vài điểm đủ sức thuyết phục trong 20 phút, còn báo cáo thưởng cho khả năng triển khai, tức là theo một mạch lý lẽ tới cùng kèm bằng chứng. Slide được bung ra thành văn không cho bạn ấy thứ nào trong hai thứ đó.


MARK1107 chấm ra sao, bài được thưởng ở đâu?

Trả lời trực tiếp: Cả hai đầu điểm đều chấm theo sáu chuẩn đầu ra, nên độ phủ ở môn này quan trọng hơn ở một môn hẹp. Trong phạm vi độ phủ đó, điểm phân hoá ở khả năng vận dụng. Mô tả được marketing mix thì đạt chuẩn đầu ra, còn chỉ ra vì sao mix của một doanh nghiệp cụ thể khớp hay không khớp với phân khúc mục tiêu mới nâng bậc điểm.

Ở Level 4, cách nâng điểm đáng tin nhất là gắn mọi khái niệm bạn đưa vào bài với một quyết định có thật mà một doanh nghiệp có thật đã đưa ra. Một khái niệm đứng một mình chỉ chứng minh rằng bạn đã học nó, còn một khái niệm được dùng để giải thích một quyết định cho thấy bạn biết dùng nó.

Bằng chứng: Các chuẩn đầu ra của môn ghép rõ hai loại yêu cầu. Nhóm thứ nhất là kiến thức mô tả, như marketing mix và các lực môi trường. Nhóm thứ hai là khung phân tích, như chiến lược và các bên hữu quan, nghiên cứu thị trường và phân tích thị trường mục tiêu, và cạnh tranh. Một báo cáo xử lý tốt nhóm thứ nhất nhưng mỏng ở nhóm thứ hai thì mới phủ hết đề cương, chứ chưa cho thấy lối lập luận mà nhóm thứ hai đòi hỏi.

Ví dụ: Một cố vấn MAAS đề nghị sinh viên nối một đường thẳng từ phần phân khúc sang phần marketing mix trong bài của mình. Bạn ấy không nối được, vì hai phần đã được viết như hai chủ đề riêng về cùng một công ty. Khi bạn ấy viết lại để các quyết định trong mix xuất phát từ phân khúc đã xác định, với cùng độ dài và cùng thương hiệu, báo cáo cuối cùng mới đọc lên thành một lập luận thống nhất.


Nên dùng khung marketing nào ở MARK1107?

Trả lời trực tiếp: Hãy dùng bộ khung cốt lõi cho thật kỹ thay vì với tới các mô hình nâng cao mà môn chưa dạy, và dùng chúng theo đúng thứ tự, tức phân khúc và chọn thị trường mục tiêu đi trước các quyết định về marketing mix. Khái niệm định vị trong STP thường được gắn với Ries và Trout (1981), những người cho rằng định vị diễn ra trong tâm trí khách hàng chứ không nằm ở sản phẩm.

Với MARK1107, bốn khung thiết yếu nằm trong bảng dưới đây. Phân khúc phải đứng trước mix, không đứng sau, vì mix chỉ có nghĩa khi bạn đã biết mình bán cho ai.

Khung Nó quyết định điều gì Chỗ sinh viên hay sai
STP (segmentation, targeting, positioning: phân khúc, chọn mục tiêu, định vị) Bạn bán cho ai và muốn được nhìn nhận thế nào Chọn phân khúc xong rồi thiết kế mix phớt lờ phân khúc đó
Marketing mix (4P, hoặc 7P với dịch vụ) Quyết định về sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến Mô tả lần lượt từng chữ P mà không nối chúng với nhau
PESTEL và phân tích đối thủ Các lực bên ngoài và đối thủ định hình lựa chọn của bạn Coi đây là phần bối cảnh, không coi là ràng buộc
Nghiên cứu thị trường (sơ cấp và thứ cấp) Điều bạn thật sự biết so với điều bạn đang giả định Trình bày giả định như thể đó là phát hiện

Bằng chứng: Smith (1956), trên Journal of Marketing tập 21, số 1, trang 3 tới 8, giới thiệu phân khúc thị trường như một chiến lược tách biệt với khác biệt hoá sản phẩm, và từ đó xác lập logic rằng doanh nghiệp có thể phục vụ một tiểu thị trường được xác định rõ thay vì cả thị trường. Borden (1964), trên Journal of Advertising Research tập 4, số 2, trang 2 tới 7, đặt ra thuật ngữ "marketing mix" để gọi chung các quyết định liên quan với nhau mà một nhà quản trị marketing kiểm soát. Giáo trình của McCarthy (1960) sau đó gom các thành phần ấy thành bốn chữ P vẫn dùng tới hôm nay. Booms và Bitner (1981), ở trang 47 tới 51, mở rộng mix thành bảy chữ P cho dịch vụ bằng cách thêm con người (people), quy trình (process) và bằng chứng vật chất (physical evidence), và phần mở rộng này quan trọng nếu tổ chức bạn chọn bán dịch vụ chứ không bán sản phẩm.

Kotler và Armstrong (2020), nay đã tới ấn bản thứ 18 của Pearson, là giáo trình mà phần lớn danh sách bài đọc ở Greenwich trỏ tới khi cần trình bày đầy đủ hơn từng khung sau khi môn đã giới thiệu chúng. Dù vậy, bạn nên trích người khởi xướng khung, tức Smith, Borden, McCarthy, Booms và Bitner, thay vì chỉ trích giáo trình tóm lược lại họ, vì chuẩn đầu ra của MARK1107 thưởng cho việc lần một ý tưởng về đúng nơi nó ra đời. Smith (1956) tóm cái được của hai chiến lược bằng một hình ảnh duy nhất: "The differentiator seeks to secure a layer of the market cake, whereas one who employs market segmentation strives to secure one or more wedge-shaped pieces" (Smith, 1956, p. 4). Nói cách khác, người khác biệt hoá cố giành một lớp của chiếc bánh thị trường, còn người phân khúc cố giành một hay vài miếng hình nêm.

Ví dụ: Một sinh viên phân tích một chuỗi cà phê viết phần 4P rất chắc nhưng không hề nhắc tới nhân viên hay không gian quán. Cố vấn hỏi lại bạn ấy rằng một chuỗi cà phê đang bán sản phẩm hay bán trải nghiệm. Khi chuyển sang 7P, bạn ấy có chỗ để bàn về cách phục vụ và môi trường vật chất của quán, và hoá ra đó đúng là nơi thương hiệu thật sự dựng nên định vị của mình.


Nên bố cục báo cáo cá nhân MARK1107 thế nào?

Trả lời trực tiếp: Hãy bố cục báo cáo thành một chuỗi quyết định thay vì một vòng tham quan qua các chủ đề, để người chấm thấy phân khúc sinh ra định vị và định vị sinh ra marketing mix. Phần đánh giá, nơi bạn xét mix có khớp với định vị không và yếu ở đâu, thường là thứ tách một báo cáo đạt yêu cầu khỏi một báo cáo mạnh, và cũng là phần sinh viên hay bỏ qua nhất.

Một bố cục chạy tốt ở mức 3.000 từ có sáu phần. Phần một là mở bài, nêu tên tổ chức và câu hỏi marketing bạn đang xem xét, khoảng 250 từ. Phần hai là môi trường bên ngoài và bối cảnh cạnh tranh, khoảng 500 từ. Phần ba là phân khúc, chọn thị trường mục tiêu và định vị cho chính tổ chức này, khoảng 700 từ. Phần bốn là marketing mix suy ra từ định vị đó, khoảng 900 từ. Phần năm là đánh giá, khoảng 450 từ, và phần sáu là kết luận, khoảng 200 từ.

Sơ đồ bố cục sáu phần cho báo cáo marketing MARK1107 dài 3.000 từ, từ mở bài tới kết luận, kèm số từ của từng phần
một bố cục chạy tốt ở mức 3.000 từ: sáu phần từ mở bài tới kết luận, mỗi phần có số từ riêng

Bằng chứng: Chuẩn đầu ra của môn yêu cầu bạn hiểu chiến lược và các bên hữu quan, và nắm được cạnh tranh, chứ không chỉ mô tả marketing mix. Một báo cáo dừng lại sau khi mô tả xong bốn chữ P mới chạm tới chuẩn đầu ra thứ tư, và chưa bao giờ chứng minh chuẩn thứ ba, thứ năm và thứ sáu, dù có thể đã viết đủ số từ.

Ví dụ: Báo cáo của một sinh viên mô tả chính xác giá, sản phẩm, phân phối và xúc tiến của một nhà bán lẻ thời trang trong 2.600 từ, rồi kết luận rằng hoạt động marketing của doanh nghiệp "hiệu quả". Cố vấn hỏi bạn ấy bằng chứng nào đỡ cho phán đoán đó. Bài không có bằng chứng nào, vì báo cáo chưa từng dựng lên một chuẩn để đo thế nào là hiệu quả. Khi bạn ấy thêm một phần đánh giá ngắn đối chiếu với tuyên bố định vị, cả báo cáo có được một kết luận mà nó thật sự đi tới.


Những lỗi nào hay mất điểm nhất ở MARK1107?

Trả lời trực tiếp: Báo cáo marketing năm nhất thường hỏng ở cùng một nhóm nhỏ chỗ quen thuộc, và gốc chung của chúng là dùng khung để kể lại thay vì dùng khung để đi tới kết luận. Bốn chữ P rời rạc, phân khúc quá rộng, phần bối cảnh quá dài, dùng 4P cho doanh nghiệp dịch vụ, thiếu phần đánh giá và nguồn yếu đều là biểu hiện của cùng một gốc đó, như bảng dưới đây tóm lại.

Lỗi Vì sao mất điểm Cách sửa
Bốn chữ P thành bốn phần rời rạc Cho thấy mô tả, không cho thấy chiến lược Suy ra từng chữ P từ định vị bạn đã chọn
Phân khúc định nghĩa là "người trẻ 18-35 tuổi" Quá rộng, không dẫn đường cho quyết định nào Phân khúc theo hành vi hoặc nhu cầu, không chỉ theo nhân khẩu học
600 từ mở đầu là lịch sử công ty Bối cảnh không phải phân tích Giới hạn phần bối cảnh ở khoảng 250 từ
Dùng 4P cho doanh nghiệp dịch vụ Bỏ mất ba chữ P chứa giá trị thật Dùng 7P khi thứ chào bán là dịch vụ
Không có phần đánh giá Bỏ ngỏ các chuẩn đầu ra bậc cao Đối chiếu mix với định vị một cách rõ ràng
Nguồn toàn là website thương hiệu và blog Nền bằng chứng yếu cho một luận điểm mang điểm Neo khái niệm vào công trình học thuật gốc

Bằng chứng: Ở Level 4, khoảng cách giữa các bậc điểm hiếm khi nằm ở kiến thức về các khung, vì các khung được dạy trực tiếp và dễ tái hiện. Khoảng cách nằm ở chỗ các khung được dùng để đi tới một kết luận về một tổ chức cụ thể, hay chỉ được tường thuật lần lượt từng cái.

Ví dụ: Một sinh viên định nghĩa phân khúc mục tiêu của mình là "sinh viên ở London". Cố vấn hỏi nhóm sinh viên đó có điểm chung nào đủ để làm thay đổi một quyết định về giá. Bạn ấy thu hẹp lại thành sinh viên năm đầu sống xa nhà, ưu tiên sự tiện lợi hơn giá rẻ, và ngay lập tức phần giá cùng phần phân phối có một điểm tựa để nhất quán theo.


Bài thuyết trình và báo cáo ăn khớp với nhau thế nào ở MARK1107?

Trả lời trực tiếp: Hãy coi bài thuyết trình là buổi tổng duyệt cho tư duy của bạn, không phải bản nháp của báo cáo. Giới hạn 20 phút buộc bạn quyết định luận điểm trung tâm thật sự là gì, và đó là khâu chuẩn bị rất có ích. Sau đó, hãy viết báo cáo từ lập luận chứ không từ các slide, vì sắc thái mà bài thuyết trình phải cắt cho vừa thời gian thuộc về báo cáo.

Bằng chứng: Bài thuyết trình chiếm 30% còn báo cáo chiếm 70%, và báo cáo dài 3.000 từ mà không chịu một ràng buộc thời gian tương đương. Tỷ trọng đó cho thấy một lập luận được triển khai đầy đủ có giá trị hơn một phần trình bày bị nén, nghĩa là báo cáo cần chất liệu mà bài thuyết trình không có chỗ để chứa.

Ví dụ: Bài thuyết trình của một nhóm lập luận rằng một thương hiệu nên tái định vị lên phân khúc cao cấp hơn, và cả nhóm bảo vệ ý đó tốt trong 20 phút. Sau đó hai thành viên viết báo cáo cá nhân lặp lại đúng ba luận cứ ấy, chỉ dài hơn. Cố vấn chỉ ra rằng phần dung lượng dôi ra của báo cáo chính là lời mời xử lý lập luận phản bác, tức việc tái định vị sẽ khiến thương hiệu mất gì ở phân khúc hiện có, và cả hai báo cáo đều chưa chạm tới điều đó.


Câu hỏi thường gặp

MARK1107 có khó không?
Khái niệm của môn ở mức nhập môn. Cái khó nằm ở độ phủ, vì cả hai đầu điểm đều được chấm theo cả sáu chuẩn đầu ra, và ở trọng số, vì 30 tín chỉ khiến môn này kéo điểm trung bình năm của bạn mạnh hơn phần lớn các môn khác. Lỗi hay gặp là xem nhẹ môn, chứ không phải thấy môn khó.

Có được chọn bất kỳ tổ chức nào cho báo cáo không?
Thường là được, trong phạm vi đề bài cho phép, và chọn khéo quan trọng hơn sinh viên nghĩ. Hãy chọn một tổ chức có các quyết định marketing nhìn thấy được và có tài liệu ghi lại. Một thương hiệu mà bạn chỉ mô tả được từ chính website của nó sẽ đẩy bạn vào lối viết mô tả.

Nên dùng 4P hay 7P?
Dùng 7P nếu thứ tổ chức chào bán về cơ bản là một dịch vụ, vì con người, quy trình và bằng chứng vật chất là nơi giá trị của dịch vụ được trao tới khách hàng. Dùng 4P cho một doanh nghiệp bán sản phẩm đơn thuần. Dù chọn cách nào, hãy nói rõ bạn chọn khung nào và vì sao.

Cần bao nhiêu nguồn?
Hãy theo con số đề bài đưa ra, nhưng câu hỏi về chất lượng quan trọng hơn số lượng. Một nguồn gốc của khung được dùng đúng có giá trị hơn năm bài blog tóm tắt lại cùng một ý tưởng.

MAAS có hỗ trợ được môn MARK1107 không?
Cố vấn MAAS làm việc cùng bạn ở khâu chọn tổ chức, định nghĩa một phân khúc thật sự dẫn đường được cho các quyết định, và kiểm tra xem mix của bạn có suy ra từ định vị hay không. Bạn vẫn là tác giả của báo cáo, còn việc của cố vấn là tìm ra mối nối yếu trước khi người chấm tìm ra.


Nếu các phần trong bài vẫn rời nhau

Những báo cáo làm tốt ở môn này hiếm khi nổi bật nhờ phủ được nhiều khung nhất. Điểm chung của chúng là phân khúc dẫn tới định vị, định vị dẫn tới marketing mix, và phần đánh giá nói thẳng chuỗi ấy vững ở đâu và gãy ở đâu. Nếu bạn đã nghiên cứu xong mà các phần vẫn rời rạc, cố vấn MAAS có thể cùng bạn rà lại chuỗi quyết định đó trước khi bạn bắt tay vào viết.

Trao đổi với cố vấn MAAS về môn học của bạn


Bài liên quan


References

  • Booms, B. H., & Bitner, M. J. (1981). Marketing strategies and organization structures for service firms. In J. H. Donnelly & W. R. George (Eds.), Marketing of services (pp. 47–51). American Marketing Association.
  • Borden, N. H. (1964). The concept of the marketing mix. Journal of Advertising Research, 4(2), 2–7.
  • Levitt, T. (1960). Marketing myopia. Harvard Business Review, 38(4), 45–56.
  • Kotler, P., & Armstrong, G. (2020). Principles of marketing (18th ed.). Pearson.
  • McCarthy, E. J. (1960). Basic marketing: A managerial approach. Irwin.
  • Ries, A., & Trout, J. (1981). Positioning: The battle for your mind. McGraw-Hill.
  • Smith, W. R. (1956). Product differentiation and market segmentation as alternative marketing strategies. Journal of Marketing, 21(1), 3–8.

Tools & resources


Bài viết thuộc chuỗi MAAS Journal dành cho du học sinh Việt Nam. Hỗ trợ làm assignment và essay của MAAS là một đối tác hỗ trợ học thuật, đồng hành cùng sinh viên theo mô hình Outline, Draft, Final với phản hồi phát triển từ các chuyên gia cùng chuyên ngành. MAAS không viết hộ hay nộp bài thay sinh viên.

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.