MARK1107 Principles and Practice of Marketing là môn 30 tín chỉ ở University of Greenwich, tức là một trong những khối tín chỉ lớn nhất của năm nhất ngành marketing. Môn có hai đầu điểm, một bài thuyết trình nhóm và một báo cáo cá nhân, và hai phần này thưởng cho hai thứ khác nhau. Sinh viên coi báo cáo như phiên bản dài hơn của bài thuyết trình thường mất điểm. Các mục dưới đây làm rõ những chỗ sinh viên Việt ở Greenwich hay vướng nhất.
Tác giả: Đội ngũ Biên tập MAAS · Hiệu đính bởi mentor chuyên môn của MAAS
Last updated: 2026-07-29
Category: marketing

MARK1107 Principles and Practice of Marketing học về gì?
Trả lời ngắn: MARK1107 là môn Level 4 trị giá 30 tín chỉ, do khoa Management and Marketing của Greenwich Business School (GBS) giảng dạy, làm nền móng cho kiến thức marketing trong chương trình. Môn giới thiệu triết lý marketing, gần với lập luận của Levitt (1960), giáo sư tại Harvard Business School, trên Harvard Business Review, rằng doanh nghiệp nên định nghĩa mình qua nhu cầu khách hàng chứ không qua sản phẩm đang bán.
Bằng chứng: Sáu chuẩn đầu ra công bố của môn đi theo sáu bước: mô tả vai trò của marketing trong bối cảnh kinh doanh, mô tả các lực môi trường, hiểu chiến lược và các nhóm hữu quan, mô tả marketing mix, hiểu nghiên cứu thị trường và phân tích thị trường mục tiêu, và nắm được cạnh tranh trong marketing. Hãy đọc kỹ các động từ. Bốn trong sáu là "mô tả" hoặc "nắm được", phù hợp với một môn nền tảng năm nhất, nhưng điều đó cũng có nghĩa những bạn vươn lên nhóm điểm cao chính là những bạn đi xa hơn cái động từ được giao.
Ví dụ: Một bạn sinh viên Việt ở Greenwich cho rằng môn 30 tín chỉ nghĩa là phải đọc gấp đôi môn 15 tín chỉ. Cố vấn MAAS chỉ ra hàm ý hữu ích hơn: nó có trọng số gấp đôi trong điểm trung bình năm, và là môn mà mọi môn marketing về sau đều mặc định bạn đã thấm. Coi nó là nền móng thay vì một môn giữa nhiều môn đã đổi hẳn cách bạn sắp thứ tự ưu tiên cả kỳ.
MARK1107 đánh giá bằng những gì?
Trả lời ngắn: Hai đầu điểm. Một bài thuyết trình nhóm chiếm 30%, giới hạn 20 phút, và một báo cáo cá nhân 3.000 từ chiếm 70%. Cả hai đều có mức đạt 40%, thấp hơn mức đạt 50 điểm ở các môn sau đại học vì Level 4 là năm nhập môn trong Framework for Higher Education Qualifications, và đều được chấm theo cả sáu chuẩn đầu ra.
Ngoài ra còn phần đánh giá quá trình không tính điểm: hai bài trắc nghiệm trực tuyến, đặt ở giữa mỗi kỳ, bao phủ nội dung bài giảng tính tới thời điểm đó. Hãy xác nhận lại đề bài, hạn nộp và giới hạn chủ đề trong sổ tay môn học của chính bạn, vì chúng được ban hành lại mỗi năm học.
Bằng chứng: Các con số trên lấy từ phần đánh giá Greenwich công bố công khai trong danh mục module. Để ý logic thiết kế: bài thuyết trình là đầu điểm nhỏ hơn và bị siết bởi giới hạn thời gian cứng, còn báo cáo gánh phần lớn điểm và cho bạn không gian để triển khai một lập luận. Đó là hai nhiệm vụ khác nhau, và lỗi thường gặp là chuẩn bị một lần rồi nộp hai lần.
Ví dụ: Một bạn dựng bài thuyết trình 20 phút rất tốt về một thương hiệu đồ uống, rồi bung chính nội dung slide đó thành 3.000 từ, tức khoảng 10 trang, cho báo cáo. Báo cáo bị chấm thấp hơn hẳn bài thuyết trình. Cố vấn chỉ ra vì sao: bài thuyết trình thưởng cho khả năng chọn lọc, tức cắt xuống vài điểm đủ sức chạm trong hai mươi phút, còn báo cáo thưởng cho khả năng triển khai, tức theo đuổi một mạch lý lẽ kèm bằng chứng. Slide bung ra không cho bạn thứ nào trong hai thứ đó.
MARK1107 chấm ra sao, bài được thưởng ở đâu?
Trả lời ngắn: Cả hai đầu điểm đều chấm theo cả sáu chuẩn đầu ra, nên độ phủ ở môn này quan trọng hơn ở một môn hẹp. Nhưng trong phạm vi độ phủ đó, điểm phân hoá ở khả năng vận dụng. Mô tả được marketing mix thì bạn đạt chuẩn đầu ra, còn chỉ ra vì sao mix của một doanh nghiệp cụ thể nhất quán, hoặc không nhất quán, với phân khúc mục tiêu đã chọn mới là thứ nâng bậc điểm. Cách nâng đáng tin cậy nhất ở Level 4 là gắn mọi khái niệm bạn nêu ra vào một quyết định có thật của một doanh nghiệp có thật.
Bằng chứng: Các chuẩn đầu ra ghép rõ kiến thức mô tả (marketing mix, các lực môi trường) với khung phân tích (chiến lược và nhóm hữu quan, nghiên cứu thị trường và phân tích thị trường mục tiêu, cạnh tranh). Kotler và Armstrong (2020) gọi đúng khoảng cách này là hiểu marketing so với làm marketing, và MARK1107 chấm điểm cho vế thứ hai. Một báo cáo xử lý tốt nhóm thứ nhất và mỏng ở nhóm thứ hai thì mới phủ hết đề cương chứ chưa chứng minh được lối lập luận mà nhóm thứ hai hàm ý.
Ví dụ: Một cố vấn MAAS đề nghị bạn sinh viên nối một đường thẳng từ phần phân khúc sang phần marketing mix trong bài mình. Bạn không nối được, vì hai phần được viết như hai chủ đề riêng biệt về cùng một công ty. Viết lại sao cho các quyết định trong mix bắt nguồn từ phân khúc bạn đã xác định, vẫn từng ấy độ dài, vẫn thương hiệu đó, đã tạo ra một báo cáo cuối cùng nghe như một lập luận duy nhất.
Nên dùng khung marketing nào ở MARK1107?
Trả lời ngắn: Dùng bộ cốt lõi cho tới nơi tới chốn, đừng với tới các mô hình nâng cao chưa được dạy. Với môn này, bốn khung thiết yếu nằm dưới đây, và thứ tự rất quan trọng: phân khúc và chọn mục tiêu phải đi trước các quyết định về mix, không phải sau. Khái niệm định vị mà chữ P thứ ba trong STP dựa vào bắt nguồn từ Ries và Trout (1981), trong cuốn Positioning: The Battle for Your Mind, những người lập luận rằng định vị xảy ra trong tâm trí khách hàng chứ không phải trên sản phẩm.
| Khung | Nó quyết định điều gì | Chỗ sinh viên hay sai |
|---|---|---|
| STP (phân khúc, chọn mục tiêu, định vị) | Bạn bán cho ai và muốn được nhìn nhận thế nào | Chọn phân khúc xong rồi thiết kế mix phớt lờ phân khúc đó |
| Marketing mix (4P, hoặc 7P với dịch vụ) | Quyết định về sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến | Mô tả lần lượt từng chữ P mà không nối chúng với nhau |
| PESTEL và phân tích đối thủ | Các lực bên ngoài và đối thủ định hình lựa chọn của bạn | Coi đây là phần nền, không phải ràng buộc |
| Nghiên cứu thị trường (sơ cấp và thứ cấp) | Cái bạn thực sự biết so với cái bạn đang giả định | Trình bày giả định như thể là phát hiện |
Bằng chứng: Smith (1956), trên Journal of Marketing, giới thiệu phân khúc thị trường như một chiến lược tách biệt khỏi khác biệt hoá sản phẩm, xác lập logic rằng bạn có thể phục vụ một tiểu thị trường được xác định thay vì toàn bộ thị trường. Borden (1964), giáo sư tại Harvard Business School, trên Journal of Advertising Research, đặt ra thuật ngữ "marketing mix" để nắm bắt các quyết định liên đới mà một nhà quản trị marketing kiểm soát, và giáo trình Basic Marketing: A Managerial Approach của McCarthy (1960), do Irwin ấn hành, sau đó nén các thành phần ấy thành bốn chữ P vẫn dùng tới hôm nay. Booms và Bitner (1981), trong một chương do American Marketing Association (AMA) xuất bản, mở rộng mix thành bảy chữ P cho dịch vụ, thêm con người, quy trình và bằng chứng vật chất, điều này quan trọng nếu tổ chức bạn chọn bán dịch vụ chứ không phải sản phẩm. Kotler và Armstrong (2020), trong giáo trình Principles of Marketing được dùng rộng rãi ở bậc nhập môn, gọi bốn chữ P là cách nhìn từ phía người bán, và khuyến nghị đối chiếu nó với bốn chữ C, nhu cầu khách hàng, chi phí, sự tiện lợi và giao tiếp, nhìn từ phía người mua. Smith tóm gọn cái được của hai chiến lược này bằng một hình ảnh duy nhất: "The differentiator seeks to secure a layer of the market cake, whereas one who employs market segmentation strives to secure one or more wedge-shaped pieces" (Smith, 1956, p. 4).
Từ STP của Ries và Trout tới 4P và 7P của McCarthy và của Booms và Bitner, cả bốn khung đều dùng được ở MARK1107, miễn là chọn đúng khung cho đúng câu hỏi.
Ví dụ: Một bạn phân tích chuỗi cà phê viết phần 4P rất chắc, gần 3 trang, nhưng không hề nhắc tới nhân viên hay không gian quán. Cố vấn hỏi lại: một chuỗi cà phê bán sản phẩm hay bán trải nghiệm. Chuyển sang 7P cho phép bạn bàn về cách phục vụ và môi trường vật lý, và hoá ra đó đúng là chỗ định vị của thương hiệu thực sự được dựng nên.
Nên bố cục báo cáo cá nhân MARK1107 thế nào?
Trả lời ngắn: Bố cục theo một chuỗi quyết định, không phải theo một vòng tham quan các chủ đề. Bố cục chạy tốt ở mức 3.000 từ, tương đương khoảng 10 tới 12 trang giãn dòng đôi: (1) mở bài nêu tên tổ chức và câu hỏi marketing bạn đang xem xét, khoảng 250 từ, dưới 1 trang, (2) môi trường bên ngoài và bối cảnh cạnh tranh, khoảng 500 từ, gần 2 trang, (3) phân khúc, chọn mục tiêu và định vị cho tổ chức này, khoảng 700 từ, hơn 2 trang, (4) marketing mix suy ra từ định vị đó, khoảng 900 từ, khoảng 3 trang, (5) đánh giá, tức mix có nhất quán với định vị không và yếu ở đâu, khoảng 450 từ, gần 2 trang, và (6) kết luận, khoảng 200 từ, dưới 1 trang. Phần năm là thứ phân tách một báo cáo đạt yêu cầu với một báo cáo mạnh, và cũng là phần sinh viên hay bỏ nhất.

Bằng chứng: Chuẩn đầu ra của môn yêu cầu bạn hiểu chiến lược và nhóm hữu quan, và nắm được cạnh tranh, chứ không chỉ mô tả marketing mix. Một báo cáo dừng lại sau khi mô tả xong bốn chữ P thì mới tới chuẩn đầu ra thứ tư và chưa bao giờ chứng minh chuẩn thứ ba, thứ năm và thứ sáu, dù nó có thể đã viết đủ số từ.
Ví dụ: Báo cáo của một bạn mô tả chính xác giá, sản phẩm, phân phối và xúc tiến của một nhà bán lẻ thời trang trong 2.600 từ, gần 9 trang, rồi kết luận rằng hoạt động marketing "hiệu quả". Cố vấn hỏi bằng chứng nào chống đỡ cho phán đoán ấy. Không có, vì báo cáo chưa bao giờ dựng lên một chuẩn để đo thế nào là hiệu quả. Thêm một phần đánh giá ngắn đối chiếu với tuyên bố định vị đã cho cả báo cáo một kết luận mà nó xứng đáng có.
Những lỗi nào hay mất điểm nhất ở MARK1107?
Trả lời ngắn: Báo cáo marketing năm nhất thường hỏng ở đúng vài chỗ quen thuộc.
| Lỗi | Vì sao mất điểm | Cách sửa |
|---|---|---|
| Bốn chữ P thành bốn phần rời rạc | Cho thấy mô tả, không phải chiến lược | Suy ra từng chữ P từ định vị bạn đã chọn |
| Phân khúc định nghĩa là "người trẻ 18-35 tuổi" | Quá rộng, không dẫn đường cho quyết định nào | Phân khúc theo hành vi hoặc nhu cầu, không chỉ theo nhân khẩu |
| 600 từ mở đầu là lịch sử công ty | Bối cảnh không phải phân tích | Chốt phần nền ở khoảng 250 từ |
| Dùng 4P cho doanh nghiệp dịch vụ | Bỏ mất ba chữ P chứa giá trị thật | Dùng 7P khi thứ chào bán là dịch vụ |
| Không có phần đánh giá | Bỏ ngỏ các chuẩn đầu ra bậc cao | Đối chiếu mix với định vị một cách tường minh |
| Nguồn toàn website thương hiệu và blog | Nền bằng chứng yếu cho một luận điểm ăn điểm | Neo khái niệm vào đúng công trình gốc |
Bằng chứng: Ở Level 4, khoảng cách giữa các bậc điểm hiếm khi là kiến thức về các khung, vì các khung được dạy trực tiếp và dễ tái hiện. Khoảng cách nằm ở chỗ các khung có được dùng để đi tới một kết luận về một tổ chức cụ thể hay không, hay chỉ được tường thuật lần lượt.
Một phần nền dài 600 từ, tức hơn 2 trang, trong khi phần đó chỉ cần khoảng 250 từ, dưới 1 trang, là dấu hiệu rõ nhất của lỗi này.
Ví dụ: Một bạn định nghĩa phân khúc mục tiêu là "sinh viên ở London". Cố vấn hỏi nhóm sinh viên đó có điểm chung gì đủ để làm đổi một quyết định về giá. Bạn tinh chỉnh lại thành sinh viên năm đầu sống xa nhà, ưu tiên tiện lợi hơn giá rẻ, và lập tức phần giá cùng phần phân phối có được thứ để nhất quán cùng.
Bài thuyết trình và báo cáo ăn khớp với nhau thế nào ở MARK1107?
Trả lời ngắn: Hãy coi bài thuyết trình là buổi tổng duyệt cho tư duy của bạn, không phải bản nháp của báo cáo. Giới hạn 20 phút ép bạn phải quyết định luận điểm trung tâm thật sự là gì, và đó là khâu chuẩn bị rất có ích. Nhưng sau đó hãy viết báo cáo từ lập luận, không phải từ slide. Chỗ nào bài thuyết trình buộc phải cắt sắc thái cho vừa đồng hồ thì báo cáo chính là nơi sắc thái ấy thuộc về.
Bằng chứng: Bài thuyết trình chiếm 30%, báo cáo chiếm 70%, và báo cáo dài 3.000 từ, khoảng 10 tới 12 trang, mà không có ràng buộc thời gian tương đương như giới hạn 20 phút của bài thuyết trình. Trọng số đó phát tín hiệu rằng lập luận được triển khai có giá trị hơn phần trình bày bị nén, nghĩa là báo cáo cần chất liệu mà bài thuyết trình không đủ chỗ chứa.
Ví dụ: Bài thuyết trình của một nhóm lập luận rằng một thương hiệu nên tái định vị lên phân khúc cao hơn, và các bạn bảo vệ tốt trong hai mươi phút. Hai thành viên sau đó viết báo cáo cá nhân lặp lại đúng ba luận cứ ấy nhưng dài hơn. Cố vấn chỉ ra rằng phần không gian dôi ra của báo cáo chính là lời mời xử lý mặt trái: việc tái định vị sẽ khiến thương hiệu mất gì ở phân khúc hiện có, điều mà không báo cáo nào chạm tới.
Câu hỏi thường gặp
MARK1107 có khó không?
Khái niệm ở mức nhập môn. Cái khó là độ phủ, vì cả hai đầu điểm đều chấm theo cả sáu chuẩn đầu ra, và trọng số, vì một năm cử nhân Anh thường gồm 120 tín chỉ, nên 30 tín chỉ của MARK1107 chiếm 25% điểm trung bình cả năm, mạnh hơn phần lớn môn khác. Lỗi thường gặp là đánh giá thấp môn, chứ không phải thấy môn khó.
Em chọn tổ chức nào cho báo cáo cũng được à?
Thường là được trong phạm vi đề bài, và chọn khéo quan trọng hơn sinh viên tưởng. Hãy chọn tổ chức có các quyết định marketing nhìn thấy được và có tài liệu, ví dụ một doanh nghiệp niêm yết công bố báo cáo thường niên, hoặc một chuỗi bán lẻ vừa đổi định vị trong 1 tới 2 năm gần đây. Một thương hiệu mà bạn chỉ mô tả được từ chính website của nó sẽ đẩy bạn vào lối viết mô tả.
Em nên dùng 4P hay 7P?
Dùng 7P, ba chữ P bổ sung mà Booms và Bitner (1981) đưa thêm, nếu thứ tổ chức chào bán về cơ bản là dịch vụ, vì con người, quy trình và bằng chứng vật chất mới là nơi giá trị của một dịch vụ được trao đi. Dùng 4P gốc của McCarthy (1960) cho doanh nghiệp bán sản phẩm thuần tuý. Hãy nói rõ bạn chọn cái nào và vì sao.
Em cần bao nhiêu nguồn?
Theo con số nêu trong đề bài, nhưng câu hỏi về chất lượng quan trọng hơn. Một nguồn gốc dùng đúng, kiểu Smith (1956) hay McCarthy (1960) thay vì một bài blog diễn giải lại hai công trình đó, có giá trị hơn 5 bài blog tóm tắt cùng một ý.
MAAS có hỗ trợ được môn MARK1107 không?
Cố vấn MAAS đồng hành cùng bạn ở khâu chọn tổ chức, định nghĩa một phân khúc thực sự dẫn đường được cho quyết định, và kiểm tra xem mix của bạn có suy ra từ định vị hay không. Bạn vẫn là tác giả báo cáo của mình, còn việc của cố vấn là tìm ra mối nối yếu trước khi người chấm tìm ra.
Nếu các phần trong bài vẫn rời nhau
Phủ nhiều khung không nâng được điểm ở môn này. Bài mạnh là bài mà phân khúc dẫn tới định vị, định vị dẫn tới mix, và phần đánh giá nói thật chuỗi ấy vững chỗ nào gãy chỗ nào. Nếu bạn đã nghiên cứu xong mà các phần vẫn rời rạc, cố vấn MAAS có thể cùng bạn nối lại chuỗi trước khi bạn viết.
Trao đổi với cố vấn MAAS về môn học của bạn
Bài liên quan
- BUSI1695 International Business Environment: hướng dẫn cách làm bài
- BUSI1314 Business Ethics: hướng dẫn cách làm bài
- Cách viết báo cáo đại học
References
- Booms, B. H., & Bitner, M. J. (1981). Marketing strategies and organization structures for service firms. In J. H. Donnelly & W. R. George (Eds.), Marketing of services (pp. 47–51). American Marketing Association.
- Borden, N. H. (1964). The concept of the marketing mix. Journal of Advertising Research, 4(2), 2–7.
- Ries, A., & Trout, J. (1981). Positioning: The battle for your mind. McGraw-Hill.
- Levitt, T. (1960). Marketing myopia. Harvard Business Review, 38(4), 45–56.
- Kotler, P., & Armstrong, G. (2020). Principles of marketing (18th ed.). Pearson.
- McCarthy, E. J. (1960). Basic marketing: A managerial approach. Irwin.
- Smith, W. R. (1956). Product differentiation and market segmentation as alternative marketing strategies. Journal of Marketing, 21(1), 3–8.
Tools & resources
- University of Greenwich. (n.d.). Module information [Module catalogue entry]. Retrieved July 29, 2026, from https://www.gre.ac.uk/modules/modules?crse=1107&subj=MARK&term=205000
- University of Greenwich. (n.d.). Academic skills. Retrieved July 29, 2026, from https://www.gre.ac.uk/students/support/academic-skills
Bài viết thuộc chuỗi MAAS Journal dành cho du học sinh Việt Nam. MAAS Academic Mentoring là đối tác cố vấn, đồng hành cùng sinh viên theo mô hình theo từng giai đoạn với phản hồi phát triển từ các cố vấn trình độ PhD. MAAS không viết hộ hay nộp bài thay sinh viên.
