Skip to content

← Blog

◆ Phương pháp nghiên cứu

Viết phần khuyến nghị trong bài báo nghiên cứu thế nào?

+4 câu hỏi+1 hình+15 phút đọc

Trả lời thẳng: Một khuyến nghị nói rằng dựa trên kết quả của bạn, ai đó nên đổi cách họ đang làm. Phát hiện nói bạn quan sát được gì, còn hàm ý nói kết quả đó có nghĩa gì với ngành. Khuyến nghị phải nêu được ba thứ, gồm chủ thể hành động, hành động cụ thể, và phát hiện nào cho phép bạn đề xuất hành động ấy.

Giảng viên hướng dẫn trả lại bản thảo thesis của một sinh viên và chỉ ghi đúng một nhận xét ở chương cuối: phần khuyến nghị thực chất là các phát hiện được viết lại bằng giọng mệnh lệnh. Sinh viên đó sửa ba lần mà nhận xét vẫn y nguyên. Nghiên cứu không có gì sai. Chỉ là khuyến nghị vốn là một loại phát biểu khác hẳn phát hiện, và chưa ai nói điều đó với bạn ấy.

Có thể hình dung ba bậc này thành một chuỗi. Phát hiện báo cáo điều dữ liệu cho thấy. Hàm ý diễn giải xem những phát hiện đó có nghĩa gì với người đang làm trong lĩnh vực. Khuyến nghị biến ý nghĩa ấy thành hành động dành cho một nhóm người cụ thể. National University (n.d.) phân biệt hai bậc sau bằng câu hỏi mà mỗi bậc phải trả lời: hàm ý hỏi "What do your findings suggest to those working in the field?", còn khuyến nghị hỏi "what specific actions should be taken to address the problem?", kiểm ngày 4 tháng Chín năm 2026.

Bài này đi qua bốn việc: chỗ đứng của phần khuyến nghị trong bài báo và trong chương thesis, sáu bước làm nên một khuyến nghị đứng vững, cách viết cho ba nhóm người đọc khác nhau, và bốn kiểu lỗi mà giảng viên hướng dẫn hay gạch nhất.

Tác giả: Ban Biên tập MAAS

Chuyên mục: research-methods

Cập nhật lần cuối: 2026-09-04

Câu hỏi1

◆ Câu hỏi 1 / 4 · Khuyến nghị nằm ở đâu

Phần khuyến nghị nằm ở đâu, trong bài báo và trong thesis?

Trả lời thẳng: Ở bài báo khoa học, khuyến nghị thường khép lại phần thảo luận hoặc nằm trong một tiểu mục ngắn cuối bài. Ở thesis, khuyến nghị chiếm một phần riêng trong chương kết luận, chương mà nhiều chương trình đánh số là Chương 5, đứng cạnh phần tóm tắt phát hiện, kết luận, và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Chương kết luận của thesis không phải một đoạn kết viết tự do, vì bên trong nó có một cấu trúc đã được nghiên cứu ghi nhận. Bunton (2005), đăng trên Journal of English for Academic Purposes, phân tích chương kết luận của 45 luận án tiến sĩ thuộc 8 ngành ở một trường và nhận ra một chuỗi bước lặp lại: phát hiện được nêu lại, rồi tới phần đánh giá, rồi mới tới khuyến nghị thực tiễn và khuyến nghị nghiên cứu. Bunton (2005) thấy hai bước khuyến nghị này xuất hiện ở phần lớn các luận án khoa học và công nghệ trong bộ mẫu, nên người chấm sẽ đọc để tìm chúng.

Nguyen và Pramoolsook (2016), trên Global Journal of Foreign Language Teaching, khảo sát chương kết luận của các thesis thạc sĩ TESOL do học viên Việt Nam viết, và ghi nhận bước khuyến nghị nằm trong số những bước hay bị rút ngắn hoặc bỏ hẳn nhất, kể cả khi nghiên cứu hoàn toàn đủ cơ sở để đưa ra khuyến nghị. Người chấm không đọc việc bỏ bước ấy như một dấu hiệu khiêm tốn, mà đọc như một lập luận chưa hoàn tất, và Swales và Feak (2012) cũng nói đúng điều đó về tính đầy đủ của các bước.

Bài báo khoa học nén cùng một logic vào ít chữ hơn. Annesley (2010), trên Clinical Chemistry, mô tả phần thảo luận như một lời tranh luận kết thúc, trong đó người viết đi từ điều tìm được sang điều rút ra được. Docherty và Smith (1999) lập luận trên BMJ rằng bước chuyển đó nên được cấu trúc rõ ràng để người đọc xác định được mình đang ở chặng nào. Ghasemi và cộng sự (2019) trình bày đúng chuỗi kết thúc ấy cho bài báo y sinh, tức kết bằng một phát biểu về thực hành hoặc hướng nghiên cứu chứ không nhắc lại kết quả.

Chỗ đứng của phần khuyến nghị còn tuỳ vào hệ thống chấm điểm mà bạn viết theo. Khung chấm dissertation thạc sĩ ở Anh thường chấm cả chương kết luận trong một dải điểm chung, gồm cả tổng hợp lẫn hàm ý, trong khi nhiều khung chấm ở Úc tách đóng góp và ứng dụng thành hai tiêu chí riêng. Vì vậy nếu bạn viết theo khung của Úc, tách khuyến nghị thực tiễn khỏi khuyến nghị nghiên cứu ngay trên trang giấy sẽ được đánh giá cao hơn. Bài khung chấm dissertation Anh và Úc nói kỹ khác biệt này, còn Paltridge và Starfield (2019) ghi nhận rằng người chấm ở cả hai hệ đều đọc chương kết luận để tìm bằng chứng cho thấy người viết hiểu giới hạn nghiên cứu của chính mình.

Câu hỏi2

◆ Câu hỏi 2 / 4 · Sáu bước

Sáu bước làm nên một khuyến nghị đứng vững là gì?

Trả lời thẳng: Bạn tóm tắt phát hiện, nối nó với câu hỏi nghiên cứu, nêu hàm ý kèm giới hạn, gọi tên chủ thể và hành động, chỉnh độ mạnh cho khớp bằng chứng, rồi tách khuyến nghị thực tiễn khỏi khuyến nghị nghiên cứu. Mỗi bước trả lời trước một câu hỏi mà người chấm sẽ viết ra lề nếu bạn bỏ qua.

Ba bước đầu chứng minh rằng khuyến nghị là thứ bạn xứng đáng đưa ra: bạn nêu lại phát hiện làm nền, cho thấy phát hiện đó trả lời một câu hỏi bạn đã đặt, và nói rõ điều kiện để nó còn đúng. Ioannidis (2007) khảo sát 400 bài báo đã đăng, lấy từ 4 tạp chí y khoa tổng quát và 4 tạp chí chuyên ngành, và thấy phần giới hạn thường không được thừa nhận đầy đủ. Điều này quan trọng ở đây vì khuyến nghị dựng trên một giới hạn không được nói ra là loại khuyến nghị dễ bị bác nhất.

Bước thứ tư là chỗ phần lớn bản thảo hỏng, bởi một khuyến nghị không có chủ thể thì không ai thực hiện được. Câu "cần quan tâm hơn tới đào tạo giáo viên" vì thế có sức nặng kém hơn hẳn câu "trưởng chương trình nên đưa một buổi 2 giờ về đọc hiểu phản hồi vào tuần định hướng đầu kỳ". National University (n.d.) mô tả phần này là chỗ để "provide examples of practical actions and suggestions for additional research", và cả hai vế đều cần một chủ ngữ.

Bước thứ năm và thứ sáu giữ cho khuyến nghị không vượt phạm vi. Độ mạnh của khuyến nghị phải bám sát bằng chứng, nên một nghiên cứu định tính ở một địa điểm, chạy 12 cuộc phỏng vấn trong 6 tuần, chỉ đủ để viết "kết quả cho thấy các chương trình có đầu vào tương tự có thể hưởng lợi từ", chứ chưa đủ để viết "các chương trình nên". Tách khuyến nghị thực tiễn khỏi khuyến nghị nghiên cứu cũng giúp người chấm, vì Bunton (2005) coi chúng là hai bước riêng và được đánh giá theo hai chuẩn khác nhau: một bên là tính khả thi, một bên là khoảng trống bạn đã nêu ở phần tổng quan tài liệu.

Câu hỏi3

◆ Câu hỏi 3 / 4 · Ba nhóm người đọc

Viết khuyến nghị cho ba nhóm người đọc khác nhau thế nào?

Trả lời thẳng: Bạn viết một khuyến nghị riêng cho từng nhóm có thể hành động, và diễn đạt bằng đúng vốn từ của nhóm đó. Người làm thực hành cần một hành động kèm điều kiện. Người làm chính sách cần một quyết định kèm cái giá phải đánh đổi. Người làm nghiên cứu cần một thiết kế kèm khoảng trống. Cùng một phát hiện có thể sinh ra ba khuyến nghị khác nhau.

Mỗi nhóm người đọc cần gì ở một khuyến nghị

Mỗi hàng nêu một nhóm người đọc và điều một khuyến nghị viết cho nhóm đó cần có.

Nhóm người đọc

Điều cần có

Người làm thực hành

Khuyến nghị cần một hành động kèm điều kiện.

Người làm chính sách

Khuyến nghị cần một quyết định kèm cái giá phải đánh đổi.

Người làm nghiên cứu

Khuyến nghị cần một thiết kế kèm khoảng trống.

Ba nhóm người đọc được mô tả trong bài viết này.
Lưu hình nàyNhóm người đọc: thực hành, Điều cần có: hành động. Người làm nghiên cứu: thiết kế kèm khoảng trống. Người làm chính sách: quyết định kèm cái giá phải đánh đổi.

Một phát hiện về phản hồi bài tập ở một Business School có thể làm nền cho 3 khuyến nghị cùng lúc: một cho giảng viên về thời điểm phản hồi tới tay sinh viên, một cho trưởng chương trình về cách bố trí nguồn lực đào tạo, và một cho người nghiên cứu về việc kiểm chứng hiệu ứng ở quy mô lớn hơn. Swales và Feak (2012), do University of Michigan Press xuất bản, coi việc chỉnh theo người đọc là đặc điểm cốt lõi của viết học thuật bậc sau đại học chứ không phải chuyện văn phong, và Annesley (2010) nói điều tương tự cho phần thảo luận của bài báo.

Người làm thực hành cần thấy một hành động có khung thời gian và nguồn lực rõ ràng, người làm chính sách cần thấy cái giá phải đánh đổi, còn người nghiên cứu cần thấy một thiết kế lấp được khoảng trống. Paltridge và Starfield (2019) ghi nhận rằng người viết thesis bằng ngôn ngữ thứ hai thường giữ nguyên một giọng trang trọng suốt chương kết luận. Cách viết đó xoá mờ cả 3 khác biệt trên, khiến mọi khuyến nghị đọc lên như lời khuyên không gửi cho ai.

Khi có hơn 3 khuyến nghị, bạn nên đánh số, và mỗi khuyến nghị chỉ chứa 1 hành động. Danh sách đánh số cho phép người chấm đối chiếu từng mục với phát hiện làm nền cho mục ấy, còn một khuyến nghị ghép 2 hành động bằng chữ "và" thường chỉ đứng vững được một nửa. Nguyen và Pramoolsook (2016) thấy rằng những người viết TESOL Việt Nam nào có đánh số khuyến nghị thì viết ra chương kết luận bám sát hơn cấu trúc bước được kỳ vọng.

Câu hỏi4

◆ Câu hỏi 4 / 4 · Bốn kiểu lỗi

Bốn kiểu lỗi mà giảng viên hướng dẫn hay gạch nhất là gì?

Trả lời thẳng: Bốn kiểu lỗi chiếm phần lớn số lần bị yêu cầu viết lại, gồm chép lại phát hiện thành mệnh lệnh, khuyến nghị vượt quá điều dữ liệu cho phép, viết khuyến nghị không có chủ thể, và liệt kê hướng nghiên cứu tiếp theo không nối được với khoảng trống bạn đã nêu. Mỗi lỗi đều có một cách sửa cụ thể và mang tính cơ học.

Lỗi chép lại chính là tình huống mở đầu bài này. Khuyến nghị bắt đầu bằng "khuyến nghị rằng sinh viên gặp khó khăn với việc trích dẫn" thực ra là một phát hiện khoác thêm động từ khác. Khuyến nghị nào cũng cần một động từ hành động do ai đó thực hiện, và nếu bạn không gọi được tên người thực hiện thì thứ bạn vừa viết là hàm ý.

Lỗi vượt quá bằng chứng sống dai nhất vì nghe có vẻ hào phóng. Docherty và Smith (1999) lập luận cho phần thảo luận có cấu trúc để mọi phát biểu luôn buộc vào bằng chứng sinh ra nó, còn Ioannidis (2007) cho thấy trên 400 bài báo đã đăng, sợi dây buộc ấy hay bị bỏ lửng tới mức nào. Một nghiên cứu chạy 30 cuộc phỏng vấn ở 1 cơ sở trong 8 tuần không cho phép bạn đưa ra khuyến nghị tầm quốc gia, và người chấm bắt được 1 chỗ vượt quá như vậy sẽ đọc phần còn lại với con mắt nghi ngờ hơn.

Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo chỉ đáng tin khi nó lấp đúng khoảng trống bạn đã nêu ở phần tổng quan tài liệu, nên câu "cần nghiên cứu thêm" mà không kèm thiết kế chỉ là chữ độn. Ghasemi và cộng sự (2019) đòi hỏi tính cụ thể ở các bước kết thúc chính vì lý do này. Bạn có thể tự kiểm bằng cách hỏi xem một nhà nghiên cứu khác có dựng nổi một đề cương 2 trang từ câu của bạn trong dưới 30 phút, mà không phải hỏi lại bạn ý định là gì, hay không.

Câu hỏi thường gặp

Chương kết luận nên có bao nhiêu khuyến nghị?

Số lượng đi theo phát hiện của bạn. Khoảng 3 tới 6 là con số phổ biến ở thesis thạc sĩ, nơi chương kết luận thường dài 1.500 tới 2.000 từ. Một danh sách 12 mục thường có nghĩa là các phát hiện đã bị chẻ nhỏ ra, chứ không phải bạn tìm được nhiều hơn.

Tôi có được khuyến nghị điều mà dữ liệu chưa kiểm không?

Không, ít nhất là không ở phần khuyến nghị thực tiễn. Bạn đưa nó xuống phần hướng nghiên cứu tiếp theo và ghi rõ là chưa kiểm chứng. Người chấm thấy một phát biểu chưa kiểm nằm trong danh sách thực tiễn sẽ nghi ngờ luôn cả những phát biểu đã kiểm.

Khuyến nghị có nên xuất hiện trong tóm tắt không?

Thường là 1 khuyến nghị, và là khuyến nghị mạnh nhất. Phần tóm tắt thường bị giới hạn trong khoảng 250 tới 300 từ, và 1 câu hành động cũng đủ để báo hiệu rằng công trình đã đi tới một kết luận. Cẩm nang APA 7th có quy ước riêng cho phần tóm tắt, nên bạn hãy kiểm lại sổ tay chương trình để biết các thành phần bắt buộc.

Khuyến nghị có phải là hàm ý không?

Không, và gộp 2 thứ này là lỗi cấu trúc phổ biến nhất của chương kết luận. Hàm ý mô tả ý nghĩa với ngành, còn khuyến nghị mô tả hành động cho những người được gọi tên. Một chương kết luận thường cần cả hai, viết thành hai bước riêng (Bunton, 2005).


Tài nguyên liên quan

Sẵn sàng bắt đầu? Đặt lịch tư vấn miễn phí 20 phút. Bạn mang theo chương phát hiện và các câu hỏi nghiên cứu, rồi MAAS ghép bạn với chuyên gia đúng ngành trong vòng 48 giờ khi mạng lưới đã có người phù hợp. Nếu chưa có, MAAS mở một đợt tuyển riêng cho hồ sơ của bạn và việc này thường mất khoảng hai tuần.


References

  • Annesley, T. M. (2010). The discussion section: Your closing argument. Clinical Chemistry, 56(11), 1671–1674. https://doi.org/10.1373/clinchem.2010.155358
  • Bunton, D. (2005). The structure of PhD conclusion chapters. Journal of English for Academic Purposes, 4(3), 207–224. https://doi.org/10.1016/j.jeap.2005.03.004
  • Docherty, M., & Smith, R. (1999). The case for structuring the discussion of scientific papers: Much the same as that for structuring abstracts. BMJ, 318(7193), 1224–1225. https://doi.org/10.1136/bmj.318.7193.1224
  • Ghasemi, A., Bahadoran, Z., Mirmiran, P., Hosseinpanah, F., Shiva, N., & Zadeh-Vakili, A. (2019). The principles of biomedical scientific writing: Discussion. International Journal of Endocrinology and Metabolism, 17(3), Article e95415. https://doi.org/10.5812/ijem.95415
  • Ioannidis, J. P. A. (2007). Limitations are not properly acknowledged in the scientific literature. Journal of Clinical Epidemiology, 60(4), 324–329. https://doi.org/10.1016/j.jclinepi.2006.09.011
  • National University. (n.d.). Findings, evaluation, implications, and recommendations for research. Retrieved September 4, 2026, from https://resources.nu.edu/c.php?g=1013606&p=8464839
  • Nguyen, T. T. L., & Pramoolsook, I. (2016). A move-based analysis of TESOL master's thesis conclusion chapters by Vietnamese postgraduates. Global Journal of Foreign Language Teaching, 6(1), 2–12.
  • Paltridge, B., & Starfield, S. (2019). Thesis and dissertation writing in a second language: A handbook for students and their supervisors (2nd ed.). Routledge.
  • Swales, J. M., & Feak, C. B. (2012). Academic writing for graduate students: Essential tasks and skills (3rd ed.). University of Michigan Press.

Bài viết này thuộc loạt bài MAAS Journal dành cho du học sinh Việt Nam. MAAS Publishing Advisory đồng hành cùng người nghiên cứu trong việc chuẩn bị và gửi bài tới tạp chí quốc tế, còn MAAS Academic Mentoring đồng hành theo từng phase cho dự án thesis trong khi bạn tự nghiên cứu và tự viết từng chương. MAAS hướng dẫn theo từng phase và góp ý trên bản thảo để người nghiên cứu tự viết bài của mình.

Buổi tư vấn miễn phí 20 phút là một cuộc trao đổi về hoàn cảnh của bạn.

Đặt lịch tư vấn miễn phí 20 phút ▸
Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Mục lục