Skip to content
Quay lại BlogResearch Methods

Viết phần khuyến nghị trong bài báo nghiên cứu thế nào?

14 phút đọc2,768 từNEW

Chuyên mục: research-methods

Cập nhật lần cuối: 2026-09-04

Giảng viên hướng dẫn trả lại bản thảo luận văn kèm đúng một nhận xét ở chương cuối, rằng phần khuyến nghị của bạn chỉ là các phát hiện viết lại dưới dạng mệnh lệnh. Bạn sửa ba lần mà nhận xét vẫn y nguyên. Nghiên cứu không có gì sai cả. Vấn đề là khuyến nghị vốn là một loại phát biểu khác hẳn phát hiện, và chưa ai nói điều đó với bạn.

Trả lời thẳng: Một khuyến nghị nói rằng dựa trên kết quả của bạn, ai đó nên thay đổi cách họ đang làm. Phát hiện nói bạn quan sát được gì, còn hàm ý nói kết quả đó có nghĩa gì với ngành. Khuyến nghị phải nêu được ba thứ, gồm chủ thể hành động, hành động cụ thể, và phát hiện nào cho phép bạn đề xuất hành động ấy.

Chuỗi ba bậc gói trong một đoạn. Phát hiện báo cáo những gì dữ liệu cho thấy. Hàm ý diễn giải xem các phát hiện đó có nghĩa gì với người đang làm trong lĩnh vực. Khuyến nghị chuyển ý nghĩa ấy thành hành động cho một nhóm người cụ thể. National University (n.d.) tách hai bậc sau bằng câu hỏi mà mỗi bậc trả lời, trong đó hàm ý hỏi "What do your findings suggest to those working in the field?" còn khuyến nghị hỏi "what specific actions should be taken to address the problem?", kiểm ngày 4 tháng Chín năm 2026.

Bài này nói về chỗ đứng của phần khuyến nghị trong bài báo và trong chương luận văn, sáu bước làm nên một khuyến nghị đứng vững, cách viết cho ba nhóm người đọc khác nhau, và bốn kiểu lỗi mà giảng viên hướng dẫn hay gạch nhất.

Phần khuyến nghị nằm ở đâu, trong bài báo và trong luận văn?

Trả lời thẳng: Ở bài báo khoa học, khuyến nghị thường khép lại phần thảo luận hoặc nằm trong một tiểu mục ngắn cuối bài. Ở luận văn, khuyến nghị chiếm một phần riêng trong chương kết luận, chương mà nhiều chương trình đánh số là Chương 5, đứng cạnh phần tóm tắt phát hiện, kết luận, và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Chương kết luận của luận văn có một cấu trúc bên trong đã được nghiên cứu ghi nhận, chứ không phải là một đoạn kết viết tự do. Bunton (2005), đăng trên Journal of English for Academic Purposes, phân tích chương kết luận của 45 luận án tiến sĩ thuộc 8 ngành ở một trường và nhận ra một chuỗi bước lặp lại, trong đó phần phát hiện được nêu lại rồi tới phần đánh giá, rồi mới tới khuyến nghị thực tiễn và khuyến nghị nghiên cứu. Bunton (2005) thấy hai bước khuyến nghị này xuất hiện ở phần lớn các luận án khoa học và công nghệ trong bộ mẫu, nên người chấm sẽ đọc để tìm chúng.

Nguyen và Pramoolsook (2016), trên Global Journal of Foreign Language Teaching, khảo sát chương kết luận của các luận văn thạc sĩ TESOL do học viên Việt Nam viết và ghi nhận rằng bước khuyến nghị là một trong những bước hay bị rút ngắn hoặc bỏ hẳn nhất, kể cả khi nghiên cứu hoàn toàn đủ cơ sở để đưa ra khuyến nghị. Trong mắt người chấm, một bước bị bỏ đi không phải là dấu hiệu của sự khiêm tốn, mà là một lập luận chưa hoàn tất, và Swales và Feak (2012) cũng nói đúng điều đó về tính đầy đủ của các bước.

Bài báo khoa học nén cùng một logic vào ít chữ hơn. Annesley (2010), trên Clinical Chemistry, mô tả phần thảo luận như một lời tranh luận kết thúc, trong đó người viết đi từ điều tìm được sang điều rút ra được, còn Docherty và Smith (1999) lập luận trên BMJ rằng bước chuyển đó nên được cấu trúc rõ để người đọc định vị được từng chặng. Ghasemi và cộng sự (2019) trình bày đúng chuỗi kết thúc ấy cho bài báo y sinh, kết lại bằng một phát biểu về thực hành hoặc hướng nghiên cứu chứ không phải nhắc lại kết quả.

Chỗ đứng của phần khuyến nghị còn phụ thuộc vào hệ thống chấm điểm mà bạn đang viết theo. Khung chấm luận văn thạc sĩ ở Anh thường chấm cả chương kết luận trong một dải điểm chung, bao gồm cả tổng hợp lẫn hàm ý, trong khi nhiều khung chấm ở Úc tách đóng góp và ứng dụng thành hai tiêu chí riêng, nên bạn sẽ được đánh giá cao hơn nếu tách khuyến nghị thực tiễn khỏi khuyến nghị nghiên cứu ngay trên trang giấy. Bài khung chấm luận văn Anh và Úc nói kỹ khác biệt này, còn Paltridge và Starfield (2019) ghi nhận rằng người chấm ở cả hai hệ đều đọc chương kết luận để tìm bằng chứng cho thấy người viết hiểu giới hạn nghiên cứu của chính mình.

Sáu bước làm nên một khuyến nghị đứng vững là gì?

Trả lời thẳng: Bạn tóm tắt phát hiện, nối nó với câu hỏi nghiên cứu, nêu hàm ý kèm giới hạn, gọi tên chủ thể và hành động, chỉnh độ mạnh cho khớp bằng chứng, rồi tách khuyến nghị thực tiễn khỏi khuyến nghị nghiên cứu. Mỗi bước trả lời trước một câu hỏi mà người chấm sẽ viết ra lề nếu bạn bỏ qua.

Ba bước đầu chứng minh rằng khuyến nghị là thứ bạn xứng đáng đưa ra, bằng cách nêu lại phát hiện làm nền, cho thấy phát hiện đó trả lời một câu hỏi bạn đã đặt, và nói rõ điều kiện để nó còn đúng. Ioannidis (2007) khảo sát 400 bài báo đã đăng lấy từ 4 tạp chí y khoa tổng quát và 4 tạp chí chuyên ngành, và thấy phần giới hạn thường không được thừa nhận đầy đủ. Điều đó quan trọng ở đây vì một khuyến nghị dựng trên một giới hạn không được nói ra là khuyến nghị dễ bị bác nhất.

Bước thứ tư là chỗ phần lớn bản thảo hỏng, bởi một khuyến nghị không có chủ thể thì không ai thực hiện được. Nên câu "cần quan tâm hơn tới đào tạo giáo viên" có sức nặng kém hơn hẳn so với câu "trưởng chương trình nên đưa một buổi 2 giờ về đọc hiểu phản hồi vào tuần định hướng đầu kỳ". National University (n.d.) mô tả phần này là chỗ để "provide examples of practical actions and suggestions for additional research", và cả hai vế đều cần một chủ ngữ.

Bước thứ năm và thứ sáu kiểm soát phạm vi. Độ mạnh của khuyến nghị phải bám sát bằng chứng, nên một nghiên cứu định tính ở một địa điểm chạy 12 cuộc phỏng vấn trong 6 tuần chỉ đủ để viết "kết quả cho thấy các chương trình có đầu vào tương tự có thể hưởng lợi từ", chứ không đủ để viết "các chương trình nên". Việc tách khuyến nghị thực tiễn khỏi khuyến nghị nghiên cứu cũng giúp người chấm, vì Bunton (2005) coi chúng là hai bước riêng được đánh giá theo hai chuẩn khác nhau, một bên là tính khả thi và một bên là khoảng trống bạn đã nêu ở phần tổng quan tài liệu.

Viết khuyến nghị cho ba nhóm người đọc khác nhau thế nào?

Trả lời thẳng: Bạn viết một khuyến nghị riêng cho từng nhóm có thể hành động, và diễn đạt bằng đúng vốn từ của nhóm đó. Người làm thực hành cần một hành động kèm điều kiện. Người làm chính sách cần một quyết định kèm cái giá phải đánh đổi. Người làm nghiên cứu cần một thiết kế kèm khoảng trống. Cùng một phát hiện có thể sinh ra ba khuyến nghị khác nhau.

Một phát hiện về phản hồi bài tập ở một Business School có thể làm nền cho 3 khuyến nghị cùng lúc, gồm một khuyến nghị cho giảng viên về thời điểm phản hồi tới tay sinh viên, một cho trưởng chương trình về cách bố trí nguồn lực đào tạo, và một cho người nghiên cứu về việc kiểm chứng hiệu ứng ở quy mô lớn hơn. Swales và Feak (2012), do University of Michigan Press xuất bản, coi việc chỉnh theo người đọc là đặc điểm cốt lõi của viết học thuật bậc sau đại học chứ không phải chuyện văn phong, và Annesley (2010) nói điều tương tự cho phần thảo luận của bài báo.

Người làm thực hành cần thấy hành động có giới hạn thời gian và nguồn lực, người làm chính sách cần thấy cái giá phải đánh đổi, còn người nghiên cứu cần thấy một thiết kế lấp được khoảng trống. Paltridge và Starfield (2019) ghi nhận rằng người viết luận văn bằng ngôn ngữ thứ hai thường giữ nguyên một giọng trang trọng suốt cả chương kết luận, và cách viết đó xoá mờ cả 3 khác biệt trên, khiến mọi khuyến nghị đọc lên như lời khuyên không gửi cho ai.

Bạn nên đánh số khuyến nghị khi có nhiều hơn 3, và mỗi khuyến nghị chỉ chứa 1 hành động. Một danh sách đánh số cho phép người chấm đối chiếu từng mục với phát hiện làm nền cho mục ấy, còn một khuyến nghị ghép 2 hành động bằng chữ "và" thường chỉ đứng vững được một nửa. Nguyen và Pramoolsook (2016) thấy rằng những người viết TESOL Việt Nam nào có đánh số khuyến nghị thì viết ra chương kết luận bám sát cấu trúc bước được kỳ vọng hơn.

Bốn kiểu lỗi mà giảng viên hướng dẫn hay gạch nhất là gì?

Trả lời thẳng: Bốn kiểu lỗi chiếm phần lớn số lần bị yêu cầu viết lại, gồm chép lại phát hiện thành mệnh lệnh, khuyến nghị vượt quá điều dữ liệu cho phép, viết khuyến nghị không có chủ thể, và liệt kê hướng nghiên cứu tiếp theo không nối được với khoảng trống bạn đã nêu. Mỗi lỗi đều có một cách sửa cụ thể và mang tính cơ học.

Sơ đồ bốn kiểu lỗi phổ biến trong phần khuyến nghị của luận văn mà giảng viên hướng dẫn hay gạch
MAAS tổng hợp bốn lỗi khiến chương khuyến nghị bị yêu cầu viết lại theo bài viết gốc

Chép lại chính là tình huống mở đầu bài này. Một khuyến nghị bắt đầu bằng "khuyến nghị rằng sinh viên gặp khó khăn với việc trích dẫn" là một phát hiện đội lốt động từ khác. Mọi khuyến nghị đều cần một động từ hành động do ai đó thực hiện, và nếu bạn không gọi được tên người thực hiện thì thứ bạn vừa viết là hàm ý.

Vượt quá bằng chứng là lỗi sống dai nhất vì nó nghe hào phóng. Docherty và Smith (1999) lập luận cho phần thảo luận có cấu trúc để mọi phát biểu luôn buộc vào bằng chứng sinh ra nó, còn Ioannidis (2007) cho thấy trên 400 bài báo đã đăng, sợi dây buộc ấy hay bị bỏ lửng tới mức nào. Một nghiên cứu chạy 30 cuộc phỏng vấn ở 1 cơ sở trong 8 tuần không cho phép bạn đưa ra một khuyến nghị tầm quốc gia, và người chấm bắt được 1 chỗ vượt quá như vậy sẽ đọc phần còn lại với con mắt nghi ngờ hơn.

Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo chỉ đáng tin khi nó lấp đúng khoảng trống bạn đã nêu ở phần tổng quan tài liệu, nên câu "cần nghiên cứu thêm" mà không kèm thiết kế chỉ là chữ độn. Ghasemi và cộng sự (2019) đòi hỏi tính cụ thể ở các bước kết thúc chính vì lý do này, và một phép thử hữu ích là hỏi xem một người nghiên cứu khác có dựng nổi một đề cương 2 trang từ câu của bạn trong dưới 30 phút hay không.

Câu hỏi thường gặp

Chương kết luận nên có bao nhiêu khuyến nghị?
Số lượng đi theo phát hiện của bạn. Khoảng 3 tới 6 là con số phổ biến ở luận văn thạc sĩ, nơi chương kết luận thường dài 1.500 tới 2.000 từ. Một danh sách 12 mục thường có nghĩa là các phát hiện bị chẻ nhỏ ra chứ không phải bạn tìm được nhiều hơn.

Tôi có được khuyến nghị điều mà dữ liệu chưa kiểm không?
Không, ít nhất là không ở phần khuyến nghị thực tiễn. Bạn đưa nó xuống phần hướng nghiên cứu tiếp theo và ghi rõ là chưa kiểm chứng. Người chấm đọc thấy một phát biểu chưa kiểm nằm trong danh sách thực tiễn sẽ nghi ngờ luôn cả những phát biểu đã kiểm.

Khuyến nghị có nên xuất hiện trong tóm tắt không?
Thường là 1 khuyến nghị, và là cái mạnh nhất. Phần tóm tắt thường bị giới hạn trong khoảng 250 tới 300 từ, và 1 câu hành động cũng đủ để báo hiệu rằng công trình đã đi tới một kết luận. Cẩm nang APA 7th có quy ước riêng cho phần tóm tắt, nên bạn kiểm lại sổ tay chương trình để biết các thành phần bắt buộc.

Khuyến nghị có phải là hàm ý không?
Không, và gộp 2 thứ này là lỗi cấu trúc phổ biến nhất của chương kết luận. Hàm ý mô tả ý nghĩa với ngành, còn khuyến nghị mô tả hành động cho những người được gọi tên. Một chương kết luận thường cần cả hai, viết thành hai bước riêng (Bunton, 2005).


Tài nguyên liên quan

Sẵn sàng bắt đầu? Đặt lịch tư vấn miễn phí 20 phút. Bạn mang theo chương phát hiện và các câu hỏi nghiên cứu, MAAS sẽ ghép bạn với chuyên gia đúng ngành trong vòng 48 giờ.


References

  • Annesley, T. M. (2010). The discussion section: Your closing argument. Clinical Chemistry, 56(11), 1671–1674. https://doi.org/10.1373/clinchem.2010.155358
  • Bunton, D. (2005). The structure of PhD conclusion chapters. Journal of English for Academic Purposes, 4(3), 207–224. https://doi.org/10.1016/j.jeap.2005.03.004
  • Docherty, M., & Smith, R. (1999). The case for structuring the discussion of scientific papers: Much the same as that for structuring abstracts. BMJ, 318(7193), 1224–1225. https://doi.org/10.1136/bmj.318.7193.1224
  • Ghasemi, A., Bahadoran, Z., Mirmiran, P., Hosseinpanah, F., Shiva, N., & Zadeh-Vakili, A. (2019). The principles of biomedical scientific writing: Discussion. International Journal of Endocrinology and Metabolism, 17(3), Article e95415. https://doi.org/10.5812/ijem.95415
  • Ioannidis, J. P. A. (2007). Limitations are not properly acknowledged in the scientific literature. Journal of Clinical Epidemiology, 60(4), 324–329. https://doi.org/10.1016/j.jclinepi.2006.09.011
  • National University. (n.d.). Findings, evaluation, implications, and recommendations for research. Retrieved September 4, 2026, from https://resources.nu.edu/c.php?g=1013606&p=8464839
  • Nguyen, T. T. L., & Pramoolsook, I. (2016). A move-based analysis of TESOL master's thesis conclusion chapters by Vietnamese postgraduates. Global Journal of Foreign Language Teaching, 6(1), 2–12.
  • Paltridge, B., & Starfield, S. (2019). Thesis and dissertation writing in a second language: A handbook for students and their supervisors (2nd ed.). Routledge.
  • Swales, J. M., & Feak, C. B. (2012). Academic writing for graduate students: Essential tasks and skills (3rd ed.). University of Michigan Press.

Bài viết này thuộc loạt bài MAAS Journal dành cho du học sinh Việt Nam. MAAS Publishing Advisory đồng hành cùng người nghiên cứu trong việc chuẩn bị và gửi bài tới tạp chí quốc tế, còn MAAS Academic Mentoring đồng hành theo từng phase cho dự án luận văn trong khi bạn tự nghiên cứu và tự viết từng chương. Chúng tôi hướng dẫn theo từng phase và góp ý trên bản thảo để người nghiên cứu tự viết bài của mình.

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.