Skip to content
Quay lại BlogBusiness & Management

BUSM4561 Work in Global Society (RMIT): tiếp cận bài assignment thế nào?

17 phút đọc3,332 từ

BUSM4561 Work in Global Society là môn năm nhất của RMIT đặt ra một câu hỏi tưởng nhỏ mà rất lớn: bản thân lao động đang thay đổi ra sao, và vì sao? Sinh viên thường trả lời bằng ý kiến cá nhân, trong khi môn muốn một lập luận dựng từ lý thuyết và bằng chứng về một biến chuyển cụ thể của lao động, đúng điểm chuyển từ ý kiến sang phân tích. Bài viết này trả lời bảy câu hỏi sinh viên Việt Nam tại RMIT thường hỏi các mentor của MAAS trước khi bắt tay vào BUSM4561.

Tác giả: Đội ngũ Biên tập MAAS · Hiệu đính bởi mentor Quản trị cao cấp (lao động, việc làm và nghiên cứu tổ chức)
Cập nhật: 24/07/2026
Chuyên mục: business-management


Môn BUSM4561 Work in Global Society học về điều gì?

Trả lời trực tiếp: BUSM4561 Work in Global Society là môn cốt lõi năm nhất của RMIT, giảng dạy tại RMIT Việt Nam ở Saigon South Campus và Hanoi Campus (cùng môn chạy mã BUSM4558 ở Melbourne). Môn khảo sát bản chất đang thay đổi của lao động trong nền kinh tế toàn cầu hoá, vì sao lao động là trung tâm của xã hội và tổ chức, và cách người sử dụng lao động quản lý công việc theo cách mới.

Dẫn chứng: Tóm tắt môn của RMIT nói rõ môn "khảo sát một loạt góc nhìn và lý thuyết để giải thích biến chuyển của lao động", và cụm "một loạt góc nhìn" chính là chỉ dẫn của bài assignment nấp trong phần mô tả. Môn muốn bạn giữ các lý giải cạnh tranh và cân chúng với bằng chứng, không chọn một phe.

Ví dụ: Một bạn tới MAAS với niềm tin chắc rằng kinh tế gig đơn giản là xấu. Mentor đề nghị lập luận cho phía ngược lại trong năm phút, rồi lập luận cho quan điểm của chính mình, và bạn không chứng minh được cái nào cho vững. Bài luận chuyển từ nêu ý kiến sang phân tích ngay khi coi câu hỏi là một phân phối câu trả lời, không phải một phán quyết.


Bài assignment BUSM4561 thường gồm những gì?

Trả lời trực tiếp: Chương trình Cử nhân Kinh doanh của RMIT không có thi cuối kỳ, đánh giá qua tiểu luận, báo cáo, phân tích tình huống và thuyết trình. BUSM4561 thường được chấm qua một bài viết cá nhân, một tiểu luận hoặc báo cáo phân tích một biến chuyển cụ thể của lao động bằng lý thuyết của môn, thường kèm một bài phản tư ngắn hoặc bài nhóm. Bài phân tích viết là nơi điểm dồn vào.

Các bài viết cá nhân bậc năm nhất trong chương trình Cử nhân Kinh doanh của RMIT nhìn chung dài trong khoảng 1.500 đến 2.500 từ, và RMIT yêu cầu trích dẫn theo chuẩn APA 7th cho khối ngành kinh doanh. Luôn xác nhận lại đề bài, chủ đề, độ dài và trọng số trên Canvas của chính lớp bạn, vì cấu trúc đánh giá thay đổi theo học kỳ và cơ sở.

Dẫn chứng: Vì môn lấy lý thuyết làm trục và bằng cấp dựa vào phân tích viết cùng thuyết trình chứ không phải thi, đánh giá tưởng thưởng một lập luận có chiều dài, không phải nhớ lại dưới áp lực thời gian. Phần thuyết trình, nếu môn yêu cầu, thường kéo dài 10 đến 15 phút mỗi sinh viên hoặc mỗi nhóm nhỏ, đủ chỗ để vận dụng hai ba góc nhìn và đi tới kết luận có bằng chứng.

Ví dụ: Một bạn viết một bài luận sinh động đầy quan điểm cá nhân về làm việc từ xa nhưng không trích lý thuyết hay dữ liệu nào. Mentor của MAAS đề nghị bạn gắn mỗi luận điểm với một khái niệm của môn và một nguồn, và bài chuyển từ một bài blog thành một lập luận học thuật.


BUSM4561 được chấm thế nào, rubric thật sự tưởng thưởng điều gì?

Trả lời trực tiếp: BUSM4561 tưởng thưởng bốn thứ theo thứ tự: (1) khung lý thuyết thay vì ý kiến cá nhân, (2) bằng chứng dựa trên dữ liệu và học thuật thay vì khẳng định suông, (3) cân bằng và phản biện giữa các quan điểm cạnh tranh thay vì bênh một phía, và (4) cấu trúc và trích dẫn. Bước từ mức đạt lên mức cao gần như luôn là sự chuyển từ "đây là điều tôi nghĩ về lao động" sang "đây là điều lý thuyết và bằng chứng hé lộ về một thay đổi cụ thể".

Dẫn chứng: Tiêu chí chấm của RMIT dành các bậc cao cho phân tích và đánh giá chứ không phải mô tả hay ý kiến. Vì môn nói rõ khảo sát "một loạt góc nhìn", một bài chỉ trình một quan điểm là chưa đạt tiêu chí dù lập luận mạnh tới đâu, còn điểm thưởng cho việc giữ hai lý giải trong thế căng và phán xét dựa trên bằng chứng.

Trọng tâm rubric Ý kiến hoặc mô tả (bậc thấp) Phân tích và đánh giá (bậc cao)
Thay đổi trong lao động Nói lao động "thay đổi nhiều" Xác định một biến chuyển cụ thể và các động lực của nó
Lý thuyết Nhắc một khái niệm thoáng qua Vận dụng một góc nhìn có tên để giải thích thay đổi
Bằng chứng Khẳng định điều gì là đúng Chống lưng luận điểm bằng dữ liệu và học thuật
Cân bằng Bênh một phía Cân các góc nhìn cạnh tranh và phán xét giữa chúng
Kết luận Nhắc lại ý kiến mở đầu Đi tới một quan điểm bám theo phân tích

Ví dụ: Một mentor của MAAS chấm bản nháp của bạn sinh viên theo bảng này và thấy nó nằm hết ở cột trái. Giữ nguyên chủ đề làm việc từ xa nhưng đặt lại qua hai góc nhìn và thêm bằng chứng cho mỗi cái, bài chuyển hai bậc dù lập luận gốc không đổi.


Nên dùng lý thuyết và khái niệm nào trong BUSM4561?

Trả lời trực tiếp: Hãy neo bài vào một số ít góc nhìn được thừa nhận về lao động và vận dụng chúng, thay vì kể tên thật nhiều. Hữu ích nhất cho BUSM4561 là quan hệ lao động chuẩn (standard employment relationship) và sự bào mòn của nó, lao động bấp bênh và chất lượng việc làm (Kalleberg, 2011), kinh tế gig và nền tảng cùng quản trị bằng thuật toán (De Stefano, 2016), lý thuyết quá trình lao động (kiểm soát và tự chủ trong công việc), toàn cầu hóa và phân công lao động quốc tế, và việc làm tử tế (decent work) như một chuẩn mực trong khung của Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labour Organization, 2021). Chọn hai hoặc ba cái hợp với thay đổi bạn chọn và dùng chúng để giải thích nó, không chỉ để dán nhãn.

Dẫn chứng: Các góc nhìn này được người chấm công nhận vì chúng biến "lao động đang thay đổi" thành một lý giải có cấu trúc. Kinh tế gig là nơi rõ nhất để thể hiện sự cân bằng mà môn thưởng: Wood và cộng sự (2019), khảo sát lao động nền tảng ở Đông Nam Á và châu Phi hạ Sahara, thấy nó vừa mang lại tự chủ, linh hoạt và đa dạng công việc có thật, nhưng chính nghiên cứu này viết rằng cùng một hệ thống kiểm soát đó "these mechanisms of control can also result in low pay, social isolation, working unsocial and irregular hours, overwork, sleep deprivation and exhaustion" (Wood et al., 2019, p. 56). Đó không phải "việc gig tốt" hay "xấu", mà là một phát hiện hai mặt để dựng lập luận ăn điểm.

Ví dụ: Một bạn viết rằng "kinh tế gig cho người lao động sự tự do". Mentor chỉ bằng chứng rằng chính sự linh hoạt đó thường tạo ra làm việc quá sức, và bài viết lại giữ cả hai, tự chủ lẫn bấp bênh, đúng phát hiện của Wood và cộng sự (2019).


Chọn và đóng khung biến chuyển của lao động cho bài luận thế nào?

Trả lời trực tiếp: Chọn một thay đổi cụ thể, được ghi chép tốt, thay vì "tương lai việc làm" nói chung. Các lựa chọn mạnh gồm lao động nền tảng và gig, làm việc từ xa và hybrid, tự động hóa, thuê ngoài, hay phi chính thức hóa việc làm, một xu hướng mà International Labour Organization theo dõi sát ở nhiều nền kinh tế đang phát triển.

Ở Úc, cơ chế bảo vệ lao động nền tảng đang được Fair Work Ombudsman xây dựng dần qua từng vụ việc. Nếu chưa chắc nguồn nào đủ chuẩn học thuật, hướng dẫn của RMIT University Learning Lab là điểm tham chiếu nhanh, còn Google Scholar là nơi tìm bản đầy đủ của các bài báo được trích trong phần References. Rồi đóng khung nó thành một câu hỏi mà môn trả lời được: điều gì đang dẫn dắt thay đổi này, và nó có ý nghĩa gì với người lao động? Một chủ đề hẹp, có bằng chứng luôn thắng một chủ đề rộng.

Dẫn chứng: Môn nói về giải thích biến chuyển, điều không thể làm tốt trên toàn bộ lao động trong một bài luận. Sự cụ thể cũng là thứ tách các bậc, "lao động đang trở nên linh hoạt hơn" là một khái quát, còn "quản trị bằng thuật toán trên nền tảng cho tài xế giao đồ ăn sự linh hoạt hình thức trong khi lấy đi quyền kiểm soát thật với giờ giấc" là một luận điểm phân tích được, có cả một khối bằng chứng phía sau, và là điều sinh viên Việt Nam quan sát trực tiếp được ngay trong thành phố của mình. Để tìm dữ liệu cập nhật cho một chủ đề như vậy, World Bank theo dõi sát quy mô của informal economy ở các nền kinh tế đang phát triển, còn báo cáo tương lai việc làm của McKinsey Global Institute là một nguồn tham khảo tốt, miễn bạn đọc phê phán thay vì trích nguyên văn. Với dữ liệu trong nước, General Statistics Office of Vietnam công bố số liệu định kỳ về tỷ lệ lao động phi chính thức, một điểm khởi đầu tốt để tìm bằng chứng địa phương.

Ví dụ: Một bạn chọn "tương lai việc làm" và chìm trong những khái quát. Mentor thu hẹp bạn về lao động xe công nghệ ở Việt Nam, một thay đổi nhìn được, có bằng chứng và lý thuyết hóa được, và bài luận sắc lên ngay.


Nên xử lý AI tạo sinh và liêm chính học thuật trong BUSM4561 ra sao?

Trả lời trực tiếp: Kiểm tra thông báo trên Canvas về AI trước khi dùng bất kỳ công cụ nào, vì giảng viên đặt điều gì được phép theo từng bài, và ghi nhận mọi cách dùng theo yêu cầu của RMIT. Chỉ dùng công cụ cho phần hỗ trợ nếu được phép, kiểm chứng mọi thứ chúng tạo ra, và khai báo rõ ràng. Một bài luận lý thuyết và bằng chứng đúng là nơi một bản tóm tắt AI chưa kiểm chứng về một khái niệm hay một trích dẫn bịa sẽ làm bạn mất điểm.

Dẫn chứng: Không khai báo mới là kiểu hỏng đã được ghi nhận, và nguyên nhân thường là sợ chứ không phải ý định gian dối. Gonsalves (2025) bàn thẳng vào chuyện sinh viên không tuân thủ yêu cầu khai báo AI, cùng hệ luỵ của việc đó với liêm chính học thuật và cách đánh giá ở bậc đại học. Với một môn chấm khung lý thuyết và bằng chứng, bê một bản AI chưa kiểm chứng về một góc nhìn vào làm phân tích của mình là hỏng đúng ở tiêu chí bài được chấm.

Ví dụ: Một bạn hỏi mentor của MAAS rằng dùng công cụ giải thích lại lý thuyết quá trình lao động có bị tính là lỗi không. Mentor hướng dẫn xem thông báo trên Canvas, ghi nhận nếu được phép, rồi kiểm chứng lời giải thích với bài đọc thật, và bạn bắt được hai điểm công cụ đã giản lược quá tay.


Sinh viên Việt Nam hay mắc lỗi gì nhất ở BUSM4561?

Trả lời trực tiếp: Các lỗi lặp lại là viết ý kiến thay vì phân tích, chọn chủ đề quá rộng, bênh một phía, kể tên lý thuyết mà không vận dụng, dựa vào khẳng định thay vì dữ liệu, và nhầm trải nghiệm cá nhân với bằng chứng. Mỗi lỗi làm mất điểm dù bài viết hay.

Dẫn chứng: Vì môn nói rõ là về cân "một loạt góc nhìn", một bài một phía không thể lên các bậc cao. Sinh viên thường mang quan điểm mạnh về lao động, thậm chí chính họ là người làm gig, và kỷ luật chuyển trải nghiệm đó thành phân tích có bằng chứng, cân bằng như khung của Kalleberg (2011) đòi hỏi, chính là kỹ năng được đánh giá.

Ví dụ: Một bạn chạy xe cho một nền tảng công nghệ viết một bài luận đầy cảm xúc về việc ấy vất vả ra sao. Mentor giúp biến trải nghiệm thành bằng chứng, nối giờ giấc và thu nhập với khái niệm bấp bênh và kiểm soát bằng thuật toán.


Mentor MAAS đồng hành cùng bạn ở BUSM4561 mà không vượt lằn ranh ra sao?

Trả lời trực tiếp: Mentor của MAAS làm việc cùng bạn, không làm thay bạn: giúp giải mã đề bài, thu hẹp về một biến chuyển của lao động bạn có bằng chứng, chọn hai ba góc nhìn giải thích được nó, và kiểm tra bài luận có cân các quan điểm cạnh tranh thay vì bênh một phía không. Bạn giữ quyền tác giả với từng chữ, còn mentor nâng trần những gì bạn tự bảo vệ được.

Dẫn chứng: Vì BUSM4561 chấm trên phân tích lý thuyết và phản biện cân bằng chứ không phải ý kiến, phần lợi bền là thói quen giải thích một thay đổi thật qua các lý thuyết cạnh tranh và bằng chứng, cốt lõi của công việc phân tích trong mọi vị trí kinh doanh hay chính sách. Sự đồng hành xây được lập luận ấy mới là thứ dịch chuyển điểm số và, quan trọng hơn, sống sót vào sự nghiệp của bạn.

Ví dụ: Một bạn sinh viên RMIT người Việt tới với quan điểm mạnh về lao động nhưng chưa lập luận được một cách học thuật. Qua vài buổi, mentor của MAAS chỉ hỏi "lý thuyết nào giải thích điều đó, và bằng chứng nào chống lưng" cho tới khi phản xạ ấy thành tự động, và bạn tự viết từng chữ trong khi điểm số tăng lên.


Câu hỏi thường gặp

BUSM4561 có khó với sinh viên quốc tế không?
Bài đọc thì vừa sức, cái khó là kỷ luật lập luận. Môn phạt ý kiến và thưởng phân tích cân bằng, nên sinh viên có quan điểm mạnh về lao động cần học lập luận chống lại chính mình trước khi bài luận thấy học thuật.

Chủ đề nào hợp cho bài luận BUSM4561?
Một thay đổi cụ thể, được ghi chép tốt trong lao động: lao động nền tảng và gig (De Stefano, 2016), làm việc từ xa, tự động hóa, thuê ngoài, hay phi chính thức hóa việc làm theo khung của International Labour Organization (2021). Hẹp và có bằng chứng thắng rộng và dẫn dắt bằng ý kiến.

Tôi có phải lập luận cả hai phía không?
Về cơ bản là có. Môn khảo sát "một loạt góc nhìn", nên các bậc cao thưởng cho việc cân các lý giải cạnh tranh và phán xét dựa trên bằng chứng thay vì bênh một quan điểm, đúng như cách Wood và cộng sự (2019) cân cả mặt tự chủ lẫn mặt bấp bênh của lao động nền tảng, hay cách Kalleberg (2011) cân cả việc làm tốt lẫn việc làm xấu trong cùng một khung.

MAAS có viết bài BUSM4561 hộ tôi không?
Không. MAAS cung cấp sự đồng hành và rà soát: giúp giải mã đề bài, chọn chủ đề, vận dụng lý thuyết và kiểm tra sự cân bằng, nhưng bạn vẫn là tác giả của từng chữ nộp.

Tôi có được dùng trải nghiệm làm việc của mình làm bằng chứng không?
Được, nếu đóng khung nó thành phân tích chứ không phải giai thoại, nối điều trải qua với một khái niệm của môn, để nó vận hành như bằng chứng thay vì một câu chuyện cá nhân.

Tôi có được dùng công cụ AI trong BUSM4561 không?
Chỉ khi thông báo trên Canvas cho phép, và chỉ khi ghi nhận theo hướng dẫn của RMIT. Kiểm chứng mọi lời giải thích hay trích dẫn công cụ đưa ra, đúng vấn đề Gonsalves (2025) nêu ra về khai báo AI, vì một bài luận chấm trên lý thuyết và bằng chứng, theo tiêu chí của Kalleberg (2011) hay Wood và cộng sự (2019), là nơi đầu ra AI chưa kiểm chứng thường bị hỏng.


MAAS đồng hành với sinh viên BUSM4561 ra sao

Nếu bạn đang tiếp cận bài BUSM4561 Work in Global Society và muốn một lối đi rõ ràng hơn, MAAS có buổi tư vấn miễn phí 20 phút để cùng bạn xem đề bài và phác thảo hướng làm. Việc đồng hành của MAAS bám theo một chuẩn kết quả ba mức, hỗ trợ ở mức Pass, Merit hay Distinction tùy mục tiêu của bạn, kèm cửa sổ hỗ trợ 90 ngày sau buổi làm việc. Mang theo đề bài, MAAS sẽ ghép bạn với một mentor đúng chuyên môn trong vòng 48 giờ khi mạng lưới đã có người phù hợp. Nếu chưa có, MAAS mở một đợt tuyển riêng cho hồ sơ của bạn và việc này thường mất khoảng 2 tuần. Khoảng 23% chuyên gia của MAAS có bằng Tiến sĩ, và các mentor quản trị là những người hành nghề giàu kinh nghiệm, làm việc cùng bạn để nâng những gì bạn có thể tự bảo vệ, không bao giờ viết bài thay bạn.

Đọc thêm: xem hướng dẫn của MAAS về ECON1269 Business in the Globalised EconomyBUSM2575 Business in Society, và dịch vụ học thuật để hiểu cách đồng hành vận hành từ đầu tới cuối.


References

De Stefano, V. (2016). The rise of the "just-in-time workforce": On-demand work, crowdwork, and labor protection in the "gig-economy". Comparative Labor Law & Policy Journal, 37(3), 471–504.

Gonsalves, C. (2025). Addressing student non-compliance in AI use declarations: Implications for academic integrity and assessment in higher education. Assessment & Evaluation in Higher Education, 50(4), 592–606. https://doi.org/10.1080/02602938.2024.2415654

International Labour Organization. (2021). World employment and social outlook 2021: The role of digital labour platforms in transforming the world of work. ILO.

Kalleberg, A. L. (2011). Good jobs, bad jobs: The rise of polarized and precarious employment systems in the United States, 1970s to 2000s. Russell Sage Foundation.

Wood, A. J., Graham, M., Lehdonvirta, V., & Hjorth, I. (2019). Good gig, bad gig: Autonomy and algorithmic control in the global gig economy. Work, Employment and Society, 33(1), 56–75. https://doi.org/10.1177/0950017018785616

Tools & resources

RMIT University. (2026). Work in Global Society (051472), course guide. RMIT Handbook. https://www.rmit.edu.au/study-with-us/levels-of-study/course-guides/051/051472

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.