Skip to content
Quay lại BlogBusiness & Management

BUSM2570 Business Decision Making: làm assignment ra sao?

19 phút đọc3,734 từ

Người duyệt: MAAS-EXP-10, Thạc sĩ (MSc) Tài chính và Kinh doanh & Quản trị (Mỹ)

Trả lời thẳng: Assignment BUSM2570 Business Decision Making thưởng lập luận dẫn tới quyết định, không thưởng một kết luận nêu sẵn rồi đi bảo vệ. Hãy định khung vấn đề, nêu tiêu chí trước phương án, đánh giá các phương án thật, chỉ ra thiên lệch lẫn yếu tố bất định ảnh hưởng tới quyết định, rồi đưa ra khuyến nghị kèm rủi ro. Sự tự tin không phải tiêu chí chấm.

Assignment BUSM2570 Business Decision Making thưởng điểm cho sinh viên trình bày được lập luận đã dẫn tới một quyết định, gồm các phương án, tiêu chí, bằng chứng và những thiên lệch đã được rà, chứ không thưởng cho người nêu kết luận trước rồi mới đi bảo vệ nó. Bài viết này giúp bạn hiểu môn học của RMIT chấm điều gì, chọn đúng công cụ ra quyết định, sắp bài theo lập luận và tránh những lỗi làm mất điểm nhiều nhất.

Phần lớn sinh viên gặp khó ở môn này không phải vì thiếu quan điểm. Họ chọn đáp án từ sớm rồi gom bằng chứng ủng hộ nó, trong khi đó lại đúng là kiểu tư duy mà môn học được thiết kế để giúp người học tránh. Các phần dưới đây đi theo bảy câu hỏi mà du học sinh Việt Nam ở RMIT hay mang tới cố vấn MAAS trước khi bắt đầu BUSM2570.

Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật lần cuối: 2026-07-20
Chuyên mục: business-management

BUSM2570 Business Decision Making học về gì?

Trả lời thẳng: BUSM2570 là môn business của RMIT về cách các quyết định được đưa ra trong tổ chức và cách đưa ra chúng tốt hơn. Môn học bao quát quy trình ra quyết định có cấu trúc, các mô hình lý trí và lý trí có giới hạn, thiên lệch nhận thức và ra quyết định trong điều kiện bất định. Môn chấm quá trình lập luận của bạn, không chấm việc kết luận có được lòng số đông.

Vì vậy, một quyết định được lập luận chặt mà vẫn còn chỗ tranh luận có thể được điểm cao hơn một kết luận phổ biến nhưng không cho thấy lập luận nào trên trang giấy.

Khung giảng dạy của môn dựa trên các nghiên cứu nền về ra quyết định. Simon (1955) giải thích vì sao quyết định thật thường dừng ở mức "đủ tốt" (satisficing) thay vì tối ưu, gọi là lý trí có giới hạn (bounded rationality). Tversky và Kahneman (1974) chỉ ra các lối tắt tư duy (heuristics) và những sai lệch có hệ thống đi kèm. Kahneman (2011) dùng mô hình hai hệ thống để bàn khi nào trực giác đáng tin và khi nào không, còn Janis (1982) nghiên cứu hiện tượng groupthink, tức cách quá trình nhóm dập tắt ý kiến trái chiều. Tversky và Kahneman nêu thẳng vấn đề cốt lõi: "this article shows that people rely on a limited number of heuristic principles which reduce the complex tasks of assessing probabilities and predicting values to simpler judgmental operations" (Tversky & Kahneman, 1974, p. 1124). Nói cách khác, con người dựa vào một số ít nguyên tắc suy đoán để biến những việc phức tạp như ước lượng xác suất thành các phán đoán đơn giản hơn.

Một nữ sinh viên ở RMIT Việt Nam từng tìm tới MAAS với một báo cáo đề xuất chọn một nhà cung cấp, kèm ba đoạn giải thích vì sao đó là lựa chọn tốt nhất. Cố vấn MAAS hỏi bạn ấy hai phương án còn lại là gì và chúng thua ở tiêu chí nào. Bạn ấy dựng lại báo cáo để cho thấy phép so sánh thay vì chỉ khẳng định bên thắng, và bài đi từ bản nháp mức Pass lên Distinction.


Assignment BUSM2570 thường ở dạng bài gì?

Trả lời thẳng: Các môn ra quyết định ở cấp độ này thường được đánh giá bằng một bài phân tích tình huống cá nhân về một quyết định thật hoặc cho sẵn, thường kèm một bài tập ra quyết định nhóm hoặc mô phỏng, một bài phản tư về quá trình ra quyết định của chính bạn, và đôi khi một bài ứng dụng ngắn dùng công cụ ra quyết định.

Trong phần lớn các đề, bạn được yêu cầu định khung vấn đề, tạo ra và đánh giá các phương án theo tiêu chí, nhận diện những thiên lệch và yếu tố bất định đang tác động, rồi khuyến nghị một hướng đi kèm rủi ro của nó. Cấu trúc đánh giá đổi theo học kỳ và theo cơ sở, nên bạn cần xác nhận đề bài, số từ và trọng số trong trang môn học trên Canvas của mình.

RMIT chấm theo tiêu chí (criterion-referenced), nghĩa là điểm được cho theo các tiêu chí rubric công bố sẵn chứ không xếp hạng bạn so với các bạn cùng lớp. Chính sách Assessment của RMIT nêu rõ nguyên tắc này. Vì thế đọc hiểu rubric quan trọng hơn nhiều so với việc khuyến nghị của bạn nghe tự tin tới đâu.

Một nam sinh viên ở RMIT từng dành một nửa bài báo cáo 1.500 từ để mô tả doanh nghiệp và thị trường trước khi chạm tới quyết định. Cố vấn MAAS gợi ý bạn ấy thu phần bối cảnh còn một đoạn và dồn số từ sang ma trận đánh giá phương án. Vẫn cùng tình huống và cùng số từ, bản viết lại dẫn dắt bằng lập luận đạt Distinction rõ ràng.


Assignment BUSM2570 được chấm thế nào, rubric thực sự thưởng cho điều gì?

Trả lời thẳng: Rubric các môn ra quyết định ở cấp độ này thưởng bốn thứ, đại khái theo thứ tự sau: một vấn đề được định khung rõ, các phương án thật được đánh giá theo tiêu chí nêu rõ, ý thức phản biện về thiên lệch và bất định, và một khuyến nghị có lý lẽ kèm rủi ro. Sự tự tin không phải là tiêu chí, còn lập luận hiện ra trên trang giấy thì có.

Tiêu chí thứ nhất đòi bạn cho thấy mình đã xác định đúng câu hỏi trước khi trả lời. Tiêu chí thứ hai đòi những phương án có thật, thay vì một phương án ưa thích cộng vài phương án khác nêu tên cho đủ lệ. Tiêu chí thứ ba đòi bạn nói được bằng chứng nào còn thiếu. Tiêu chí thứ tư đòi khuyến nghị có rủi ro và một thời điểm xem xét lại, cùng văn phong học thuật và trích dẫn Harvard.

Rubric các môn business của RMIT chia điểm thành các dải Pass, Credit, Distinction và High Distinction. Khoảng cách từ Credit lên Distinction gần như luôn được xác định bằng hai chữ "critical" và "justified", tức đánh giá có phản biện đối với các phương án và bằng chứng, cùng một lựa chọn có lý lẽ, chứ không phải bằng một khuyến nghị táo bạo hơn.

Một cố vấn MAAS từng đọc bản nháp của một nữ sinh viên Việt và hỏi bạn ấy về từng đoạn rằng đây là lập luận hay là biện minh sau khi đã chọn xong. Hai phần ba bản nháp hoá ra là biện minh sau khi đã chọn. Bạn ấy viết lại để trình bày tiêu chí trước rồi mới tới các phương án, và cùng tình huống ấy tăng đúng hai dải rubric.


Nên dùng công cụ nào cho BUSM2570?

Trả lời thẳng: Hãy neo báo cáo vào một bộ công cụ nhỏ gánh được lập luận. Bạn cần một quy trình ra quyết định có cấu trúc để sắp xếp công việc, một ma trận tiêu chí có trọng số để so sánh minh bạch, một danh sách kiểm tra thiên lệch, một cách xử lý bất định, và một lăng kính đạo đức khi cần. Mỗi công cụ phải làm thay đổi kết luận của bạn.

Danh sách kiểm tra thiên lệch nên gọi tên những lỗi dễ xảy ra nhất trong chính quyết định này, không liệt kê mọi thiên lệch bạn biết. Cách xử lý bất định có thể là kịch bản (scenarios) hoặc giá trị kỳ vọng (expected value) khi kết quả mang tính xác suất. Lăng kính các bên liên quan và đạo đức cần thiết khi quyết định phân bổ lợi ích và thiệt hại không đều.

Bảng đối chiếu năm công cụ ra quyết định cho BUSM2570, cho biết mỗi công cụ cho bạn điều gì và dùng nó để quyết định ra sao
Năm công cụ ra quyết định được đối chiếu: cho bạn điều gì và dùng để quyết định ra sao

Công cụ Cho bạn điều gì Dùng để quyết định
Quy trình ra quyết định có cấu trúc Một trình tự bảo vệ được, gồm định khung, tạo phương án, đánh giá, chọn và xem lại Bước tiếp theo là gì và cách trình bày lập luận
Ma trận tiêu chí có trọng số Một phép so sánh minh bạch các phương án theo tiêu chí đã nêu Phương án nào thắng, và kết quả nhạy tới đâu khi đổi trọng số
Danh sách kiểm tra thiên lệch (anchoring, confirmation, sunk cost) Những lỗi dễ xảy ra nhất trong chính quyết định này Giả định nào cần kiểm tra trước khi cam kết
Kịch bản và giá trị kỳ vọng Kết quả thay đổi thế nào khi có bất định Lựa chọn còn đứng vững không nếu thực tế diễn ra khác
Lăng kính các bên liên quan và đạo đức Ai hưởng lợi và ai gánh chi phí Một quyết định bảo vệ được có đồng thời chính đáng hay không

Các công cụ này dựa trên những nền tảng mà người chấm quen thuộc. Simon (1955) đặt nền cho lý trí có giới hạn, Tversky và Kahneman (1974) cho heuristics và thiên lệch, Kahneman (2011) cho mô hình hai hệ thống, Janis (1982) cho groupthink, còn Bazerman và Moore (2013) cho khung ra quyết định quản trị ứng dụng mà phần lớn các môn loại này đi theo. Khử thiên lệch (debiasing) lại rất khó, vì chỉ nhận ra một thiên lệch hiếm khi đủ để loại bỏ nó. Do đó một báo cáo mức Distinction đề xuất thay đổi quy trình, chẳng hạn cử người đóng vai phản biện (devil's advocate) hoặc làm pre-mortem, tức hình dung trước rằng quyết định đã thất bại rồi tìm lý do, thay vì chỉ viết rằng mình "nhận thức được confirmation bias".

Một nữ sinh viên Việt ở RMIT từng liệt kê tám thiên lệch trong một bảng kèm định nghĩa lấy từ giáo trình. Cố vấn MAAS gợi ý bạn ấy chỉ giữ những thiên lệch thật sự đang tác động trong tình huống. Bạn ấy giữ lại hai cái, là neo vào giá của nhà cung cấp hiện tại (anchoring) và tư duy chi phí chìm (sunk cost) về một khoản đầu tư trước đó, rồi chỉ ra từng thiên lệch xuất hiện ở đâu trong bằng chứng của tình huống. Ít thiên lệch hơn nhưng vận dụng thật, và điểm cao hơn.


Nên cấu trúc báo cáo BUSM2570 thế nào?

Trả lời thẳng: Hãy dùng một cấu trúc dẫn dắt bằng lập luận, gồm quyết định cần đưa ra, cách định khung vấn đề, bộ tiêu chí có trọng số, các phương án được đánh giá theo tiêu chí, các thiên lệch và yếu tố bất định, rồi khuyến nghị kèm rủi ro. Trình bày tiêu chí trước phương án là tín hiệu rõ nhất cho thấy bạn đánh giá thật, không biện minh sau.

Sáu phần đó nên đi theo trình tự sau:

  1. Quyết định cần đưa ra và vì sao nó quan trọng, với phần bối cảnh dưới 10% tổng số từ.
  2. Cách định khung vấn đề, gồm bạn định nghĩa câu hỏi ra sao và chủ động loại những gì ra ngoài.
  3. Bộ tiêu chí, được nêu và gán trọng số trước khi so sánh các phương án.
  4. Các phương án, được đánh giá theo đúng các tiêu chí đó bằng bằng chứng.
  5. Các thiên lệch và yếu tố bất định, được gọi tên cụ thể và kèm một phản ứng về quy trình.
  6. Khuyến nghị, kèm rủi ro, một thước đo theo dõi và một thời điểm xem xét lại.

Rubric chấm theo tiêu chí đặt trọng số cho "định khung vấn đề", "đánh giá phương án" và "ý thức phản biện" cao hơn hẳn phần "mô tả tình huống". Chia số từ theo đúng trọng số của rubric là cách đáng tin nhất để nâng điểm mà không cần tìm thêm tài liệu.

Một nam sinh viên Việt ở RMIT từng nộp bản báo cáo nêu khuyến nghị ngay đoạn đầu rồi dành phần còn lại để bảo vệ nó. Cố vấn MAAS gợi ý bạn ấy dời khuyến nghị xuống cuối và đặt ma trận tiêu chí vào giữa bài. Nội dung giữ nguyên, chỉ sắp xếp lại, nhưng báo cáo đi từ mức Credit sát ngưỡng lên Distinction, vì lập luận cuối cùng đã hiện ra trên trang giấy.


Những lỗi nào hay làm mất điểm nhất ở BUSM2570?

Trả lời thẳng: Qua các lần MAAS đồng hành các môn quản trị, ba lỗi lặp lại nhiều nhất là chọn kết luận trước rồi dựng phân tích để ủng hộ nó, liệt kê định nghĩa thiên lệch thay vì chỉ ra chúng trong tình huống thật, và bỏ qua yếu tố bất định. Sửa được ba lỗi này giúp phần lớn bản nháp tăng ít nhất một dải rubric.

Lỗi thứ nhất rất dễ bị người chấm phát hiện, vì các phương án bị loại chưa bao giờ được cân nhắc nghiêm túc. Lỗi thứ hai biến phần thiên lệch thành một trang giáo trình không có bằng chứng từ tình huống. Lỗi thứ ba để lại một khuyến nghị chỉ có một điểm duy nhất, không kịch bản, không kiểm tra độ nhạy, và không nói điều gì sẽ làm câu trả lời thay đổi.

Qua quá trình MAAS đồng hành các môn quản trị, nhận xét của người chấm trước khi sinh viên sửa bài tụ lại rất nhiều quanh hai câu "alternatives not seriously evaluated" (các phương án thay thế chưa được đánh giá nghiêm túc) và "assumptions not tested" (các giả định chưa được kiểm tra). Đây là hai câu hay tách một bài Credit khỏi một bài Distinction nhất trong rubric ra quyết định.

Báo cáo của một nam sinh viên Việt từng đánh giá ba phương án, nhưng hai trong số đó rõ ràng không khả thi, tức một phép so sánh dựng sẵn để thắng. Cố vấn MAAS đề nghị bạn ấy dựng lập luận mạnh nhất có thể cho phương án về nhì, rồi giải thích vì sao nó vẫn thua. Phép so sánh mạnh hơn làm khuyến nghị của bạn ấy đáng tin hơn, và bài đạt điểm tối đa ở tiêu chí đánh giá phương án.


Assignment BUSM2570 dài bao nhiêu và dùng kiểu trích dẫn nào?

Trả lời thẳng: Bạn cần xác nhận số từ và kiểu trích dẫn trong đề, nhưng báo cáo kinh doanh cá nhân ở cấp độ này thường dài khoảng 1.200 đến 2.000 từ, và ma trận, phụ lục cùng danh mục tài liệu thường không tính vào số từ. Bài dùng kiểu Harvard, mặc định của khối kinh doanh RMIT. Hãy viết trong biên độ 10% so với số từ quy định.

Khi trích các nhà nghiên cứu về ra quyết định, hãy trích từ nguồn gốc hoặc ấn bản hiện hành thay vì một trang web tóm tắt, và ghi nguồn cho mọi dữ kiện, con số hay nhận định về thị trường mà tình huống của bạn dựa vào.

Khối kinh doanh của RMIT dùng kiểu RMIT Harvard, được hướng dẫn chi tiết trong công cụ Easy Cite của trường. Người chấm thường trừ điểm khi Kahneman hay Simon được trích qua nguồn thứ cấp, khi dữ kiện về tình huống không có nguồn, hoặc khi định dạng Harvard không nhất quán, kể cả khi lập luận tốt.

Một nam sinh viên Việt ở RMIT từng mất vài điểm vì trích khái niệm "System 1 và System 2" qua một bài blog, và trích dẫn trong bài lại không khớp với danh mục tài liệu. Một lượt rà soát trước khi nộp cùng MAAS tìm ra các chỗ hổng trong chưa đầy một giờ. Ở bài BUSM2570 kế tiếp, nhờ ghi nguồn sạch, bạn ấy lấy lại điểm ở một tiêu chí không đòi hỏi phân tích thêm.


Câu hỏi thường gặp

BUSM2570 có phải môn khó không?
Môn này khó hơn vẻ ngoài của nó. Nội dung nghe rất trực giác vì ai cũng ra quyết định hằng ngày, nhưng môn học chấm việc bạn có cho thấy được một quy trình hay chỉ khẳng định một kết luận, trong khi thói quen tự nhiên của phần lớn chúng ta là quyết định trước rồi mới giải thích sau.

Khuyến nghị của mình có bắt buộc phải là đáp án "đúng" không?
Không. Các bài đánh giá này chấm chất lượng lập luận, không chấm việc bạn có trùng với một đáp án được ưa thích hay không. Một khuyến nghị được định khung tốt, đánh giá minh bạch và nêu rõ giới hạn vẫn đạt điểm cao, kể cả khi người chấm có thể đã chọn khác.

Nên đánh giá bao nhiêu phương án?
Thường ba phương án thật là đủ, kể cả phương án giữ nguyên hiện trạng khi phù hợp. Điều quan trọng là mỗi phương án đều khả thi và được đánh giá nghiêm túc, nên hai phương án thật vẫn tốt hơn năm phương án mà ba cái chỉ để lấp chỗ.

Có thể dùng một quyết định từ trải nghiệm của chính mình không?
Thường là có, nhất là ở phần phản tư, và nó giúp phần phân tích thiên lệch cụ thể hơn. Hãy giữ giọng phân tích thay vì kể chuyện, nối điều đã xảy ra với quy trình ra quyết định và nói rõ bạn sẽ thay đổi điều gì, đồng thời ẩn danh bất kỳ ai có thể bị nhận ra.

BUSM2570 dùng kiểu trích dẫn nào?
RMIT Harvard là kiểu mặc định của các môn business. Hãy trích các nhà nghiên cứu kinh điển về ra quyết định từ nguồn gốc hoặc ấn bản hiện hành thay vì một trang web tóm tắt, và dùng công cụ Easy Cite của RMIT để định dạng các mục trích dẫn nhất quán.

MAAS có hỗ trợ BUSM2570 không?
Có. Hỗ trợ làm assignment và essay của MAAS đồng hành cùng bạn qua mô hình Outline, Draft, Final, gồm kiểm tra lại cách định khung vấn đề, góp ý để bạn dựng một ma trận tiêu chí bảo vệ được, phản hồi phần phân tích thiên lệch dựa trên bằng chứng thật và rà soát trích dẫn trước khi nộp, cùng chuyên gia đúng ngành. MAAS hướng dẫn để bạn tự làm bài của mình, và MAAS không viết thay bạn.


Sẵn sàng tiếp cận BUSM2570 với một chiến lược rõ ràng?

Nếu bạn đã có tình huống mà lập luận chưa hiện ra trên trang giấy, đó là lúc một chuyên gia đúng ngành giúp được nhiều nhất. Hỗ trợ làm assignment và essay của MAAS là một đối tác hỗ trợ học thuật, đồng hành cùng bạn qua Outline, Draft, Final để phần tư duy vẫn là của bạn và cấu trúc bài được chấm đúng giá trị.

Khi bạn gửi đề BUSM2570, MAAS sẽ ghép bạn với một chuyên gia quản trị trong vòng 48 giờ nếu mạng lưới đã có người phù hợp. Trong hơn 100 chuyên gia của MAAS, 23% có bằng PhD. Nếu mạng lưới chưa có người đúng ngành, MAAS mở một đợt tuyển riêng cho trường hợp của bạn, và việc này thường mất khoảng hai tuần.

Đặt buổi tư vấn miễn phí 15 phút về BUSM2570 cùng chuyên gia MAAS →


Bài liên quan


References

  • Bazerman, M. H., & Moore, D. A. (2013). Judgment in managerial decision making (8th ed.). Wiley.
  • Janis, I. L. (1982). Groupthink: Psychological studies of policy decisions and fiascoes (2nd ed.). Houghton Mifflin.
  • Kahneman, D. (2011). Thinking, fast and slow. Farrar, Straus and Giroux.
  • Simon, H. A. (1955). A behavioral model of rational choice. The Quarterly Journal of Economics, 69(1), 99–118. https://doi.org/10.2307/1884852
  • Tversky, A., & Kahneman, D. (1974). Judgment under uncertainty: Heuristics and biases. Science, 185(4157), 1124–1131. https://doi.org/10.1126/science.185.4157.1124

Tools & resources


Bài viết thuộc series MAAS Journal dành cho du học sinh Việt Nam. Hỗ trợ làm assignment và essay của MAAS là một đối tác hỗ trợ học thuật, đồng hành cùng sinh viên qua mô hình Outline, Draft, Final với phản hồi phát triển từ chuyên gia đúng ngành. MAAS không viết thay và không nộp bài thay sinh viên.

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Cần áp dụng vào bài của bạn?

Từ bài viết này
đến bài của bạn.

Trong một buổi tư vấn miễn phí 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS nghe đề bài hoặc đề tài của bạn cùng yêu cầu của người hướng dẫn, rồi gợi ý cách áp dụng nội dung bài này vào đúng trường hợp đó.