Skip to content
Quay lại BlogAccounting & Finance

ACC501 Business Accounting and Finance: môn này dạy bạn điều gì?

22 phút đọc4,268 từ

ACC501 Business Accounting and Finance dạy bạn đọc báo cáo tài chính và dùng con số kế toán để ra quyết định quản trị, chứ không đào tạo bạn thành kế toán viên. Dữ kiện hữu ích nhất về môn này nằm khuất trong quy định đăng ký của Charles Sturt University, nơi ACC501 được ghi là xung khắc với MBA504. Chi tiết đó cho thấy bản chất của môn: đây là phần lõi kế toán của một chương trình quản trị sau đại học, viết cho những người sẽ đọc báo cáo tài chính và phê duyệt ngân sách chứ không phải người lập sổ sách. Sinh viên học môn này như học nghiệp vụ ghi sổ thì làm rất chăm nhưng chăm sai chỗ, luyện bút toán thật thạo rồi mất điểm ở những câu hỏi về ý nghĩa của một dãy số đối với một quyết định.

Bài viết này sẽ giúp bạn đọc đúng những gì chuẩn đầu ra của ACC501 yêu cầu, hiểu vì sao đo lường là ý khó nhất của môn, dựng bảng tính theo cách người chấm đánh giá được, và phân bổ công sức theo cấu trúc trọng số của các bài đánh giá.

Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật lần cuối: 18/08/2026
Chuyên mục: accounting-finance

Một người chỉ vào biểu đồ tài chính in trong lúc phân tích
Ảnh minh hoạ

ACC501 là môn gì, và bài này viết cho trường nào?

Trả lời trực tiếp: ACC501 Business Accounting and Finance là môn sau đại học 8 điểm tín chỉ thuộc School of Business của Charles Sturt University, giới thiệu kế toán tài chính, kế toán quản trị và tài chính cho người đang làm việc trong môi trường doanh nghiệp. Môn học đề cập các nguyên tắc kế toán được thừa nhận chung (GAAP) nằm dưới quy trình kế toán, không có môn tiên quyết, và xung khắc với MBA504.

Bằng chứng: Trang handbook của Charles Sturt ghi ACC501 ở mức 8 điểm tín chỉ, thuộc School of Business. Phần mô tả công bố nêu rõ môn được thiết kế như một môn nhập môn về kế toán tài chính, kế toán quản trị và tài chính cho người làm việc trong môi trường doanh nghiệp, đề cập các nguyên tắc kế toán được thừa nhận chung, tức Generally Accepted Accounting Principles (GAAP), nằm dưới quy trình kế toán, cùng với công dụng và giới hạn của báo cáo tài chính đã công bố. Trang này không ghi môn tiên quyết và liệt kê MBA504 là môn xung khắc.

Một cảnh báo về tài liệu ôn tập: ACC501 là một mã bị dùng lại rất nhiều. Các môn kế toán nhập môn mang mã này còn xuất hiện ở một số cơ sở đào tạo Bắc Mỹ, mỗi nơi một nội dung, một cách tính tín chỉ và một cách đánh giá riêng. Không tài liệu nào bạn tìm được theo mã trần chắc chắn thuộc về chương trình của bạn. Hãy tra tên môn kèm tên trường, và coi mọi tài liệu ôn tập không nhắc tới Charles Sturt là thuộc về môn của người khác cho tới khi bạn kiểm chứng xong.

Hai dữ kiện trên trang handbook định hình cách bạn nên chuẩn bị. Không có môn tiên quyết nghĩa là trong lớp có cả người chưa từng nhìn thấy một bảng cân đối kế toán lẫn người đang quản lý ngân sách phòng ban hằng ngày, và tất cả được chấm theo cùng một bộ tiêu chí. Xung khắc với MBA504 nghĩa là ACC501 giữ vị trí môn kế toán trong một bằng quản trị, nên chuẩn mực môn đặt ra cho bạn là tính hữu dụng với người quản lý chứ không phải sự đầy đủ về nghiệp vụ.


Chuẩn đầu ra của ACC501 thật sự yêu cầu gì?

Trả lời trực tiếp: Chuẩn đầu ra của ACC501 yêu cầu bạn phê phán và diễn giải con số chứ không phải tái hiện quy trình, vì 4 trong 6 chuẩn đầu ra công bố dùng động từ thuộc nhóm phán đoán. Người chấm vì thế chờ bạn nói được một kỹ thuật cho biết gì, không cho biết gì, và hỏng ở đâu, thay vì chỉ trình bày đúng các bước tính.

Bảng đối chiếu cách người mới đọc năm nhiệm vụ trong ACC501, tính chỉ số, lập báo cáo, áp dụng kỹ thuật, báo cáo kết quả, học quy tắc, với điều động từ chuẩn đầu ra thật sự đòi hỏi.
Năm nhiệm vụ trong ACC501, đọc theo kiểu người mới so với điều động từ chuẩn đầu ra thật sự đòi hỏi.

Danh sách chuẩn đầu ra đáng được đọc chậm, vì chính các động từ trong đó mang chuẩn chấm điểm. Sinh viên hoàn thành ACC501 cần làm được 6 việc sau.

  1. Bàn luận và vận dụng những ý niệm kế toán cơ bản nằm dưới và giới hạn tính hữu dụng của thông tin kế toán.
  2. Giải thích và phân tích bản chất cùng cách đo lường tài sản, vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí và thu nhập.
  3. Vận dụng phần mềm máy tính vào các quyết định kinh doanh định lượng.
  4. Triển khai và phê phán các kỹ thuật phân tích và diễn giải dùng trong kế toán và tài chính.
  5. Bàn luận và phê phán những khái niệm nằm sau việc ra quyết định gắn với phân bổ hiệu quả nguồn lực doanh nghiệp.
  6. Giải thích và triển khai các quy trình phân tích tài chính và kế toán quản trị.

Hãy để ý chuẩn đầu ra thứ nhất nói gì. Nó không nói về tính hữu dụng của thông tin kế toán, mà nói về những ý niệm nằm dưới và giới hạn tính hữu dụng ấy. Một môn học đặt chữ giới hạn ngay vào chuẩn đầu ra đầu tiên là đang báo trước rằng những câu hỏi khó của nó xoay quanh điều mà các con số không nắm được.

Người mới đọc đề bài ra sao Động từ chuẩn đầu ra đòi hỏi điều gì
Tính ra chỉ số Nói rõ chỉ số đó cho biết và không cho biết điều gì trong tình huống này
Lập báo cáo Giải thích người đọc báo cáo đó vẫn còn chưa biết những gì
Áp dụng kỹ thuật Triển khai nó, rồi phê phán chỗ nó không còn dùng được
Báo cáo kết quả Đề xuất một hành động và mang theo phần bất định vào đề xuất đó
Học thuộc quy tắc Giải thích quy tắc ấy đang giải quyết vấn đề đo lường nào

Bằng chứng: Chi và cộng sự (1981), công bố trên Cognitive Science, chứng minh rằng người mới phân loại bài toán theo đặc điểm bề mặt, còn chuyên gia phân loại theo nguyên lý nằm bên dưới. Đối tượng nghiên cứu của họ là sinh viên vật lý, và mẫu hình họ mô tả là một trong những phát hiện bền vững hơn cả trong nghiên cứu về chuyên môn. Nó mô tả đúng kiểu hỏng trong kế toán nhập môn. Một sinh viên đã xếp bài toán thành nhóm câu hỏi hàng tồn kho và nhóm câu hỏi dòng tiền là đã tổ chức kiến thức theo tên chương sách, nên sẽ không nhận ra cùng một vấn đề gốc khi nó xuất hiện trong lớp vỏ lạ, mà một đề đánh giá tổng hợp được thiết kế chính để làm việc đó.


Vì sao đo lường là ý khó nhất của môn học?

Trả lời trực tiếp: Vì con số kế toán trông giống kết quả quan sát nhưng thật ra là ước tính do quy tắc tạo ra, và mọi thứ ACC501 yêu cầu bạn phê phán đều bắt nguồn từ khoảng cách đó. Ball (2006) chỉ ra một mặt của khoảng cách này khi bàn về sai số ước tính của giá trị hợp lý, nên hãy hỏi kết luận của bạn dựa vào ước tính nào.

Một con số hàng tồn kho, một khoản khấu hao, một khoản dự phòng nợ khó đòi hay một khoản dự phòng phải trả đều không được đo theo cách người ta đo chiều dài. Mỗi con số là kết quả của một lựa chọn chính sách áp lên một tương lai còn bất định, và Watts và Zimmerman (1978), trên The Accounting Review, đã dựng đúng quan sát này thành cả một chương trình nghiên cứu hỏi vì sao một quy tắc kế toán cụ thể lại được chọn ngay từ đầu. Khi đã thấm điều đó, các chuẩn đầu ra về phê phán thôi mơ hồ. Người chấm không hỏi ý kiến chung chung của bạn, mà hỏi kết luận của bạn dựa vào ước tính nào, và kết luận ấy sẽ dịch chuyển bao nhiêu nếu dùng một ước tính khác cũng bảo vệ được.

Bằng chứng: Ball (2006), trên Accounting and Business Research, trình bày các đánh đổi của International Financial Reporting Standards (IFRS) thẳng thắn hiếm thấy. Ông lập luận rằng dịch chuyển sang giá trị hợp lý làm tăng tính thích hợp nhưng đồng thời đưa sai số ước tính và quyền tự quyết của ban điều hành vào sổ sách, và cảnh báo rằng "there inevitably will be substantial differences among countries in implementation of IFRS, which now risk being concealed by a veneer of uniformity" (Ball, 2006), tức việc áp dụng IFRS chắc chắn sẽ khác nhau đáng kể giữa các nước, và khác biệt đó có nguy cơ bị che đi bởi một lớp vỏ đồng nhất. Phân tích của Ball hữu ích ở đây chính vì nó không coi lựa chọn đó là đã ngã ngũ. Phần phê phán của bạn nên viết theo đúng giọng ấy, nêu rõ một đánh đổi kèm cái giá được gọi tên thay vì phán rằng phương pháp này đúng còn phương pháp kia sai.

Bằng chứng: Jensen và Meckling (1976), trên Journal of Financial Economics, đưa ra khung lý thuyết về quan hệ uỷ quyền (agency) nằm bên dưới báo cáo tài chính. Chủ đề của họ là cái giá phát sinh khi người điều hành doanh nghiệp không phải là người sở hữu nó, cùng hoạt động giám sát mà khoảng cách ấy tạo ra. Báo cáo tài chính là một ứng dụng phái sinh từ lập luận đó chứ không phải bản thân lập luận, nhưng đó là lý do báo cáo tài chính được định hình bởi chuyện ai phải giải trình với ai. Cũng vì thế mà cụm "công dụng và giới hạn" nằm trong phần mô tả môn ACC501. Một báo cáo lập ra để hoàn thành nghĩa vụ giải trình không cùng một thứ với một báo cáo lập ra để phục vụ đúng quyết định của bạn, và khác biệt đó nằm trong phạm vi ra đề.

Ví dụ: Khi được yêu cầu đánh giá khả năng sinh lời của một doanh nghiệp có cải thiện hay không, một bài yếu tính biên lợi nhuận của hai năm, ghi nhận mức tăng rồi kết luận hiệu quả đã cải thiện. Một bài mạnh hơn ra đúng những con số ấy, rồi nhận xét rằng phần cải thiện dồn vào giai đoạn doanh nghiệp đổi chính sách khấu hao, lượng hoá xem thay đổi đó giải thích được bao nhiêu phần của mức tăng, và nêu rõ còn lại bao nhiêu sau khi điều chỉnh. Hai bài làm cùng một phép tính, nhưng chỉ một bài nhận ra rằng một thay đổi chính sách đã tạo ra một phần kết quả mà các con số đang được ghi công.


Vì sao sinh viên hay xem nhẹ chuẩn đầu ra về bảng tính?

Trả lời trực tiếp: Vì họ đọc nó thành yêu cầu về trình bày, trong khi một chuẩn đầu ra mà School of Business công bố cho ACC501 đòi vận dụng phần mềm máy tính vào quyết định kinh doanh định lượng. Chuẩn này được chấm như lập luận được bày ra trên bảng tính, chứ không chấm độ thành thạo phần mềm, nên cách bạn tổ chức mô hình quan trọng hơn số hàm bạn biết.

Sinh viên mất điểm ở chuẩn đầu ra này theo hai cách rất dễ đoán. Cách thứ nhất là gõ cứng số, tức đánh thẳng một kết quả đã tính vào ô thay vì đặt công thức, khiến dấu vết tính toán biến mất và người chấm không thấy được bạn hiểu quan hệ giữa các đại lượng hay chỉ chép lại một kết quả. Cách thứ hai là dựng mô hình mà không tách riêng phần giả định, nên không ai, kể cả bạn, kiểm được điều gì xảy ra nếu tỷ lệ tăng trưởng bị sai.

Thói quen nghề nghiệp đáng xây từ bây giờ khá đơn giản. Hãy đặt mọi giả định vào một khối riêng có nhãn rõ ràng, để mọi chỗ khác tham chiếu tới các ô đó, và không bao giờ để một con số thô nằm bên trong công thức. Cấu trúc này biến phân tích độ nhạy thành việc sửa đúng một ô, mà phân tích độ nhạy lại là nơi có điểm diễn giải. Một mô hình chỉ cho ra một đáp số trả lời một câu hỏi nhỏ hơn hẳn so với một mô hình cho thấy đáp số ấy phụ thuộc vào giả định nào.

Bằng chứng: Sweller (1988), cũng trên Cognitive Science, cho thấy trí nhớ làm việc là giới hạn quyết định khi người ta học giải quyết vấn đề, và những nhiệm vụ tổ chức kém sẽ ngốn năng lực xử lý vào việc theo dõi số liệu thay vì vào việc hiểu. Bài học rút ra không phải lời động viên. Một bảng tính lộn xộn tiêu sự chú ý của bạn vào việc đi tìm lại chính con số của mình, và đó là phần năng lực bạn không còn để dành cho phần phân tích đang thật sự được chấm.


Cấu trúc đánh giá của ACC501 nói gì với bạn?

Trả lời trực tiếp: Trong quá khứ, môn học tăng dần trọng số qua 4 bài trong học kỳ, nên các bài đầu mang tính chẩn đoán còn các bài cuối mới quyết định điểm. Hình dạng này chỉ là một chỉ dấu, vì bản handbook hiện hành không công bố dữ liệu đánh giá, nhưng nó vẫn gợi ý bạn nên dùng bài đầu để tìm loại lỗi của mình.

Bản handbook lưu trữ năm 2023 công bố mẫu đánh giá của đợt mở lớp trực tuyến, học kỳ 2 năm 2021, gồm 4 bài lần lượt chiếm 10% cho phần nhập môn kế toán tài chính, 20% cho ghi nhận và trình bày báo cáo tài chính, 30% cho quản trị hàng tồn kho, quản trị tiền mặt, phân tích chi phí, khối lượng, lợi nhuận và sản lượng đặt hàng kinh tế (economic order quantity), và 40% cho lập ngân sách, thông tin thích hợp và hoạch định vốn đầu tư. Đó là một hình thức học, trong một học kỳ, cách đây 4 năm, còn bản handbook hiện hành thì không công bố dữ liệu đánh giá nào. Hãy coi hình dạng đó là chỉ dấu chứ không phải lịch trình, và kiểm lại theo đề cương môn học của chính bạn.

Dù vậy, hình dạng ấy vẫn cho biết một điều bền hơn. Một môn dồn trọng số về cuối thưởng cho những sinh viên biết dùng các bài nhẹ điểm ban đầu như một dụng cụ đo. Nếu bạn mất điểm ở bài đầu, câu hỏi hữu ích không phải là mất bao nhiêu điểm mà là mất vì loại lỗi nào. Một lỗi tính toán thì sửa rất rẻ, còn hiểu sai đề bài đang hỏi gì sẽ lặp lại ở mọi bài sau và trả giá đắt hơn nhiều ở mức 40% so với ở mức 10%.

Hình dạng đó cũng cảnh báo một nhận định sai thường gặp. Sinh viên thấy mấy tuần đầu dễ thở thường giảm công sức đúng vào lúc nội dung chuyển từ ghi chép sang ra quyết định, mà đó lại là nơi điểm tập trung và là nơi các chuẩn đầu ra về diễn giải được đánh giá.

Bằng chứng: Kaplan và Norton (1992), trên Harvard Business Review, nên được đọc trước khối nội dung cuối chứ không phải sau. Họ lập luận rằng các thước đo tài chính báo cáo hệ quả của những quyết định đã ra rồi, nên cần được đặt cạnh những thước đo phản ánh điều dẫn dắt hiệu quả tương lai, và đó đúng là kiểu lập luận mà phần lập ngân sách và hoạch định vốn đầu tư đòi hỏi. Một bài hoạch định vốn tính ra giá trị hiện tại ròng (NPV) rồi dừng lại thì mới cho ra một con số. Một bài gọi tên được giả định mà con số ấy nhạy nhất, và nêu doanh nghiệp cần theo dõi điều gì để sớm biết giả định đó có sai hay không, mới cho ra một khuyến nghị. Ngay cả suất chiết khấu dùng để tính NPV cũng mang một giả định mà Modigliani và Miller (1958), trên American Economic Review, đã buộc cả ngành phải nói rõ ra, là cách doanh nghiệp huy động vốn làm thay đổi ai gánh rủi ro trong một dòng tiền, và đó là một phần lý do hai nhà phân tích có lý vẫn định giá cùng một dự án khác nhau.


Chuẩn bị thế nào khi trình độ trong lớp chênh nhau nhiều?

Trả lời trực tiếp: ACC501 không có môn tiên quyết nên một lớp có cả người mới làm quen với kinh doanh lẫn người đã đi làm nhiều năm, và hai nhóm này đánh giá sai môn học theo hai cách khác nhau. Cách chữa chung là với mỗi kỹ thuật, viết một câu về quyết định nó phục vụ và một câu về tình huống nó dẫn sai, để cuối kỳ có bản tóm tắt theo nguyên lý.

Không có môn tiên quyết và có nhiều người đang đi làm, nên trong lớp có hai nhóm mang hai vấn đề trái ngược. Sinh viên không có nền kinh doanh đánh giá thấp khối lượng từ vựng phải nạp và cố lập luận khi còn chưa đọc trôi chảy báo cáo tài chính. Sinh viên đã có nhiều năm làm việc thực tế lại hay mặc định ACC501 chỉ hệ thống hoá những gì họ vẫn làm, rồi mất điểm vì trả lời theo thói quen ở nơi làm việc thay vì theo khung lý thuyết đang được dạy.

Cả hai nhóm đều chữa được bằng cùng một thói quen. Mỗi lần ACC501 giới thiệu một kỹ thuật, hãy viết ra một câu nói kỹ thuật đó giúp ra quyết định nào, và một câu nói tình huống nó sẽ dẫn bạn đi sai. 10 cặp câu như vậy tới cuối học kỳ cho bạn một bản tóm tắt mang theo được, sắp xếp theo nguyên lý gốc thay vì theo tên chương, và đó đúng là cách tổ chức kiến thức mà Chi và cộng sự (1981) thấy ở chuyên gia chứ không thấy ở người mới.

Có một lưu ý thực tế trước khi bạn xếp môn này vào kế hoạch học kỳ. Bản handbook 2025 không liệt kê đợt mở lớp nào, còn bản lưu trữ 2023 ghi rằng năm đó cũng không xác định được đợt nào, nên môn có mở hay không là điều phải kiểm qua Subject Availability Listing chứ đừng mặc định. Môn xung khắc được liệt kê là MBA504, và có tín chỉ ở MBA504 thì bị chặn đăng ký ACC501.


Cố vấn của MAAS giúp được gì ở môn này?

Trả lời trực tiếp: Cố vấn của MAAS xem hai chỗ. Một là bảng tính của bạn có đặt giả định trong một khối có nhãn, thử được, hay chôn chúng trong công thức, điều nhìn khoảng ba mươi giây là thấy. Hai là phần bất định trong phần tính có còn sống sót tới câu kết luận không. Bạn tự chạy số và rút kết luận, cố vấn chỉ xác nhận bằng chứng của bạn đỡ được điều bạn khẳng định.

Gần như không ai cần người giúp phần tính toán. Chỗ sinh viên mất điểm nằm ở bước ngay sau đó, khi một con số đúng phải trở thành một nhận định bảo vệ được về một doanh nghiệp, và bước ấy rất khó tự soát một mình.

Cố vấn của MAAS làm việc trên hai bề mặt. Bề mặt thứ nhất là bảng tính của bạn, được mở ra đọc chứ không nghe kể lại, để xem các giả định nằm trong một khối có nhãn để thử được hay bị chôn trong công thức ở chỗ không ai tìm ra. Bề mặt thứ hai là câu văn mà các con số của bạn được cho là đang chống đỡ. Câu ấy đang dựa vào ước tính nào? Nó dịch chuyển tới đâu nếu một người có lý chọn cách xử lý khác? Và phần bất định có đi được vào tới khuyến nghị không, hay đã lặng lẽ biến mất đâu đó giữa phần tính và phần kết?

Bạn chạy số và bạn rút kết luận. Cố vấn chỉ bảo đảm kết luận ấy nói đúng điều mà bằng chứng của bạn gánh được.


Câu hỏi thường gặp

Môn này chính xác là của trường nào?
Charles Sturt University, nơi ACC501 Business Accounting and Finance là môn sau đại học 8 điểm tín chỉ thuộc School of Business. Một số cơ sở đào tạo ở Bắc Mỹ dùng cùng mã này cho những môn kế toán nhập môn không liên quan, nên hãy xác minh tên trường trước khi tin bất kỳ tài liệu ôn tập nào bạn tìm được.

Tôi có cần nền kế toán để đăng ký không?
Trang handbook không ghi môn tiên quyết. Môn học được viết cho người đang làm việc trong môi trường doanh nghiệp chứ không phải cho người học nghề kế toán, nên điểm xuất phát được giả định là góc nhìn quản lý chứ không phải nghiệp vụ.

Tôi có thể học môn này cùng MBA504 không?
Không. MBA504 được liệt kê là môn xung khắc, nghĩa là có tín chỉ ở môn này thì bị chặn ở môn kia. Hãy xác nhận trên trang handbook của đúng năm học của bạn, vì các danh sách này được rà lại giữa các năm.

Môn này có phải chỉ là ghi sổ kế toán không?
Không, và hiểu như vậy là lỗi chuẩn bị phổ biến nhất. 4 trong 6 chuẩn đầu ra công bố dùng động từ phán đoán như phê phán, phân tích và bàn luận, còn phần mô tả môn ACC501 nêu giới hạn của báo cáo tài chính song song với công dụng của chúng.

Các bài đánh giá về sau nặng bao nhiêu?
Ở mẫu công bố duy nhất tra được, tức đợt trực tuyến học kỳ 2 năm 2021, 4 bài tăng dần từ 10% lên 40%, trong đó bài nặng nhất bao phủ lập ngân sách và hoạch định vốn đầu tư. Bản handbook hiện hành không công bố dữ liệu đánh giá, nên hãy xem đề cương môn học của chính bạn thay vì lên kế hoạch theo một hình dạng đã 4 năm tuổi.

Tôi có cần giỏi Excel không?
Bạn cần có cấu trúc hơn là cần trình độ cao. Một chuẩn đầu ra yêu cầu vận dụng phần mềm máy tính vào các quyết định kinh doanh định lượng, và điểm đến từ việc tách riêng phần giả định, dùng công thức thay vì gõ cứng kết quả, và cho thấy được đáp số dịch chuyển ra sao khi một giả định thay đổi.


Đọc thêm

Hỏi cố vấn MAAS về môn học của bạn


References

Ball, R. (2006). International Financial Reporting Standards (IFRS): Pros and cons for investors. Accounting and Business Research, 36(sup1), 5–27. https://doi.org/10.1080/00014788.2006.9730040

Chi, M. T. H., Feltovich, P. J., & Glaser, R. (1981). Categorization and representation of physics problems by experts and novices. Cognitive Science, 5(2), 121–152. https://doi.org/10.1207/s15516709cog0502_2

Jensen, M. C., & Meckling, W. H. (1976). Theory of the firm: Managerial behavior, agency costs and ownership structure. Journal of Financial Economics, 3(4), 305–360. https://doi.org/10.1016/0304-405X(76)90026-X

Kaplan, R. S., & Norton, D. P. (1992). The balanced scorecard: Measures that drive performance. Harvard Business Review, 70(1), 71–79.

Modigliani, F., & Miller, M. H. (1958). The cost of capital, corporation finance and the theory of investment. American Economic Review, 48(3), 261–297.

Sweller, J. (1988). Cognitive load during problem solving: Effects on learning. Cognitive Science, 12(2), 257–285. https://doi.org/10.1207/s15516709cog1202_4

Watts, R. L., & Zimmerman, J. L. (1978). Towards a positive theory of the determination of accounting standards. The Accounting Review, 53(1), 112–134.

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.