Phần lớn sinh viên coi Preparation for Research Project là môn khởi động. Nó chỉ 15 tín chỉ, không tạo ra kết quả nghiên cứu nào, và không có chi tiết nào trong đó mang cảm giác chung cuộc.
Phần lớn sinh viên coi Preparation for Research Project là môn khởi động. Nó chỉ 15 tín chỉ, không tạo ra kết quả nghiên cứu nào, và không có chi tiết nào trong đó mang cảm giác chung cuộc. Cách hiểu ấy khiến nhiều bạn phải trả giá, bởi thứ bạn viết ra ở đây chính là thứ bạn sẽ bị ràng buộc về sau. Hertfordshire xếp môn này ngay trước môn Research Project, và sinh viên được khuyên không nên đi chệch đáng kể khỏi phần đã xây dựng trong đó. Một đề cương viết cho nghe hay sẽ trói bạn vào một nghiên cứu mà có thể bạn không chạy nổi. Dưới đây là cách mentor MAAS diễn giải điều đó cho các bạn Việt Nam đang làm trong ngành y tế và học môn này.
Tác giả: Ban biên tập MAAS · Hiệu đính bởi mentor cao cấp mảng Nghiên cứu sức khoẻ (Tiến sĩ, Điều dưỡng và Khoa học sức khoẻ)
Cập nhật: 10/08/2026
Chuyên mục: writing-tips
Môn 7HSK2049 nằm ở đâu trong chuỗi ba môn?
Trả lời ngắn: 7HSK2049 Preparation for Research Project là môn Level 7 thuộc School of Health and Social Work của University of Hertfordshire, giá trị 15 tín chỉ, học theo diện bán thời gian. Nó là bước giữa trong một chuỗi ba môn: Research Methods, rồi Preparation for Research Project, rồi tới chính môn Research Project. Hai môn đầu phải hoàn thành mới được vào môn dự án, và môn này được thiết kế để học ngay liền trước.
Bằng chứng: Trường công bố công khai môn này trong nhóm khoá ngắn hạn và bồi dưỡng chuyên môn liên tục, có nêu chuỗi điều kiện tiên quyết cùng cấu trúc tín chỉ bán thời gian. Nhóm người học của môn là các chuyên viên y tế đang hành nghề, gồm điều dưỡng, hộ sinh, nhân viên cấp cứu, vật lý trị liệu, kỹ thuật viên chẩn đoán hình ảnh và xạ trị, những người vừa đi làm lâm sàng vừa học lên thạc sĩ.
Ví dụ: Có bạn cho rằng mình cứ tinh chỉnh câu hỏi nghiên cứu sau cũng được, để dành sang giai đoạn làm dự án, nên dùng môn này để thử ba hướng khác nhau thay vì chốt lấy một. Tới lúc vào dự án thì người hướng dẫn giữ bạn đúng theo bản đề cương đã nộp. Phần khám phá ba hướng kia thật sự có ích cho tư duy, nhưng không hướng nào nằm trong tài liệu được tính.
Trật tự ấy kéo theo hai hệ quả đáng tính trước khi bạn viết chữ nào. Bản đề cương của bạn là một cam kết chứ không phải bản nháp. Và vì bạn học bán thời gian trong lúc vẫn đi làm lâm sàng, mọi câu hỏi về tính khả thi trong đó phải soi vào lịch làm việc thật của bạn, không phải một lịch giả định.
Thứ thật sự được chấm ở đây là gì?
Trả lời ngắn: Phán đoán của bạn về những gì làm được, chứ không phải tham vọng về những gì bạn muốn làm. Một đề cương được chấm theo bốn câu: câu hỏi có trả lời được không, phương pháp có chạm tới dữ liệu không, quyền tiếp cận cùng phê duyệt đạo đức có thực tế không, và toàn bộ có nằm vừa trong quỹ thời gian và số tín chỉ hiện có không.
Bằng chứng: Đây vốn là chức năng chuẩn của một đề cương nghiên cứu trong các ngành sức khoẻ, và cũng là lý do các hướng dẫn báo cáo trong lĩnh vực này nhấn mạnh việc nêu rõ thiết kế, đối tượng tham gia, nguồn dữ liệu và cách phân tích trước khi nghiên cứu bắt đầu chứ không phải sau đó (Chan và cộng sự, 2013). Lập luận đằng sau khá đơn giản: một đề cương viết trước có thể đem ra soi phần lý lẽ, còn một bản viết sau thì luôn có thể uốn cho khớp với chuyện đã xảy ra. Người chấm bài bạn đang đọc phần lý lẽ đó.
Ví dụ: Một đề cương đặt mục tiêu so sánh trải nghiệm người bệnh ở ba khoa của bệnh viện trong sáu tháng. Khi được hỏi chuyện gì xảy ra nếu một khoa từ chối cho tiếp cận, người viết không có câu trả lời, và nghiên cứu cũng không có phương án dự phòng. Thu hẹp lại còn một khoa với đường tiếp cận rõ ràng cho ra một nghiên cứu nhỏ hơn và một đề cương mạnh hơn hẳn, bởi mọi thành phần trong đó giờ đều có thể diễn ra thật.
Phần nào hay bị xem nhẹ nhất?
Trả lời ngắn: Đạo đức và thủ tục phê duyệt, tính khả thi, và kế hoạch phân tích. Cả ba đều không hào nhoáng, cả ba đều là chỗ đề cương bị đánh giá, và cả ba thường được viết thành một đoạn bày tỏ ý định thay vì một kế hoạch thật.
| Phần | Viết theo kiểu cho có | Viết như một kế hoạch |
|---|---|---|
| Câu hỏi nghiên cứu | Một mảng chủ đề rộng, thêm dấu hỏi vào cuối | Một câu hỏi trả lời được, nêu rõ quần thể, yếu tố quan tâm và kết cục |
| Tổng quan tài liệu | Tóm tắt những gì đã được công bố | Một lập luận định vị chính xác khoảng trống mà nghiên cứu này lấp vào |
| Thiết kế và phương pháp | Gọi tên phương pháp kèm định nghĩa trong giáo trình | Biện giải phương pháp theo câu hỏi, có nêu và loại bỏ phương án khác kèm lý do |
| Đạo đức và phê duyệt | Một lời hứa sẽ xin phê duyệt | Xác định đúng tuyến phê duyệt, gọi tên rủi ro cụ thể với người tham gia, mô tả biện pháp bảo vệ |
| Tính khả thi | Không có, hoặc một câu trấn an | Cỡ mẫu hoặc logic chọn mẫu, đường tiếp cận, khung thời gian tuyển, và phương án khi tuyển không đủ |
| Kế hoạch phân tích | Để tới khi có dữ liệu rồi tính | Nêu trước cách phân tích, khớp với loại dữ liệu mà thiết kế sẽ tạo ra |
Bằng chứng: Chỗ thiếu đắt nhất thường là kế hoạch phân tích, bởi quyết định phân tích sau khi đã nhìn thấy dữ liệu mở đường cho việc báo cáo chọn lọc, và người phản biện biết rõ điều đó. Ở nghiên cứu định tính, lỗi tương đương là gọi tên một cách tiếp cận mà không nói sẽ áp dụng ra sao, và đó chính là lý do Braun cùng Clarke (2006) trình bày phân tích chủ đề như một chuỗi quyết định chứ không phải một cái nhãn. Với nghiên cứu lâm sàng thì tuyến phê duyệt cũng không phải thủ tục cho có: nghiên cứu đụng tới người bệnh, nhân viên hay dữ liệu của hệ thống y tế đều nằm trong một cơ chế phê duyệt xác định, nên một đề cương không nhắc tới nó là đã bỏ qua đúng bước dễ làm dự án trễ hạn nhất.
Ví dụ: Một bạn dự định phỏng vấn bán cấu trúc các điều dưỡng về quy trình bàn giao ca, và viết rằng dữ liệu sẽ "được phân tích theo chủ đề". Khi bị hỏi cụ thể quy trình đó gồm những bước gì, bạn nêu rõ bản gỡ băng sẽ được mã hoá ra sao, chủ đề được hình thành ở cấp độ nào, và ai là người kiểm tra chéo phần mã hoá. Thiết kế không đổi chút nào. Nhưng bản đề cương giờ cho thấy một người nghiên cứu biết mình sẽ làm gì vào đúng ngày bản gỡ băng đầu tiên về tay.
Viết phần khả thi thế nào để nó thành lập luận thật?
Trả lời ngắn: Hãy quy nghiên cứu về đúng loại tài nguyên bạn thật sự có, mà với một người vừa đi làm lâm sàng vừa học bán thời gian thì đó là thời gian, quyền tiếp cận và thiện chí của đồng nghiệp. Nêu con số, nêu con số ấy từ đâu ra, và nêu bạn sẽ làm gì nếu nó không đúng như dự tính.
Bằng chứng: Tuyển không đủ người tham gia nằm trong nhóm lý do phổ biến nhất khiến các nghiên cứu sức khoẻ quy mô nhỏ không về đích, và phần lớn rủi ro đó dự đoán được ngay từ khâu đề cương nếu bạn biết quần thể đủ điều kiện cùng một tỷ lệ đồng ý tham gia thực tế. Đề cương nêu cả hai con số rồi suy ra khung thời gian tuyển là đề cương đã thể hiện phán đoán. Đề cương nêu một con số mục tiêu mà không suy ra từ đâu thì mới chỉ nêu một mong muốn.
Ví dụ: Một đề cương đặt mục tiêu tuyển bốn mươi người tham gia từ một phòng khám. Phòng khám tiếp khoảng sáu mươi bệnh nhân đủ điều kiện mỗi tháng, và người viết mặc định phần lớn sẽ đồng ý. Tính ngược lại từ một tỷ lệ đồng ý thận trọng thì bốn mươi người biến thành khung tuyển bốn tháng, dài hơn hạn nộp bài. Mục tiêu hạ xuống hai mươi tư người, thiết kế điều chỉnh theo, và nghiên cứu trở thành thứ có thể hoàn thành.
Khác gì so với viết đề cương luận văn ở ngành khác?
Trả lời ngắn: Có hai đặc điểm chỉ riêng ngành sức khoẻ mới có. Lớp thủ tục phê duyệt nằm ngoài nhà trường và chạy theo lịch riêng của nó, còn vai trò kép vừa là người hành nghề vừa là người nghiên cứu tạo ra những câu hỏi đạo đức mà một sinh viên ngoài ngành không bao giờ gặp.
Bằng chứng: Tuyển người tham gia ngay tại nơi bạn đang làm việc kéo theo khả năng người bệnh hoặc đồng nghiệp cảm thấy khó từ chối, và đó là mối lo đã được ghi nhận trong nghiên cứu do người trong cuộc thực hiện tại môi trường nghề nghiệp. Gọi tên rủi ro ấy rồi mô tả cách bạn tách hai vai, chẳng hạn nhờ người khác tiếp cận người tham gia tiềm năng, chính là kiểu lập luận tách một đề cương Level 7 khỏi một bài bậc cử nhân làm tròn vai.
Ví dụ: Một hộ sinh dự định phỏng vấn những sản phụ mình từng chăm sóc, với lý do hợp lý là họ tin tưởng chị. Người hướng dẫn hỏi lại: một người muốn từ chối thì họ từ chối bằng cách nào? Vì chị không mô tả được một cách nào để người ta nói không mà thấy thoải mái, đường tuyển người tham gia được đổi lại, và bản đề cương có thêm đoạn lập luận đạo đức mà trước đó nó còn thiếu.
Phần chữ nghĩa nên viết thế nào?
Trả lời ngắn: Chính xác, có rào đón ở chỗ bằng chứng còn chưa chắc, và cụ thể ở mọi chỗ còn lại. Đề cương là một trong số ít thể loại học thuật mà người chấm coi sự mơ hồ là lỗi thiết kế chứ không phải lỗi văn phong, bởi mỗi chi tiết chưa nói rõ là một quyết định bạn chưa hề đưa ra.
Bằng chứng: Nhóm kỹ năng chuyển đổi được trông đợi ở bậc thạc sĩ bao gồm sử dụng phản biện tài liệu liên quan và bảo vệ công việc của mình ở cả chi tiết lẫn bối cảnh, mà đề cương chính là văn bản để tập dượt phần bảo vệ ấy. Cơ quan Bảo đảm Chất lượng Giáo dục Đại học Anh mô tả trình độ thạc sĩ qua tính nguyên bản trong vận dụng tri thức cùng khả năng xử lý tình huống phức tạp với dữ liệu chưa đầy đủ (QAA, 2024). Thừa nhận điều mình chưa biết vì thế là một phần của chuẩn, không phải điểm yếu so với chuẩn.
Ví dụ: Một bản nháp viết rằng nghiên cứu "sẽ cải thiện kết cục điều trị cho người bệnh". Ý định thì tốt còn khẳng định thì không chống đỡ nổi, bởi một nghiên cứu định tính quy mô nhỏ không thể chứng minh được cải thiện kết cục. Viết lại thành: nghiên cứu sẽ mô tả cách nhân viên y tế hiểu về một quy trình bàn giao ca cụ thể, và hiểu biết đó có thể làm nền cho việc thiết kế can thiệp về sau. Câu văn vừa khiêm tốn hơn vừa đứng vững được.
Mentor MAAS thật sự làm gì ở môn này?
MAAS làm việc với vai trò cố vấn học thuật. Vì môn này định sẵn hình hài của dự án phía sau, cuộc trao đổi giá trị nhất là cuộc trao đổi sớm, xoay quanh đúng một câu: câu hỏi này có trả lời được trong phạm vi quyền tiếp cận, lịch làm việc và số tín chỉ của bạn hay không. Sau đó mentor đọc đề cương đối chiếu yêu cầu của môn, đặt những câu hỏi mà người hướng dẫn lẫn hội đồng đạo đức sẽ đặt, và chỉ ra chỗ nào bạn mới viết một ý định thay cho một kế hoạch. Bạn tự viết và tự nộp bài của mình, và hồ sơ đạo đức vẫn là trách nhiệm của chính bạn. Chuyện trích dẫn được kiểm ngay trong lượt đọc ấy chứ không tách thành dịch vụ riêng.
Câu hỏi thường gặp
Môn 7HSK2049 bao nhiêu tín chỉ?
Mười lăm tín chỉ ở Level 7, học theo diện bán thời gian trong School of Health and Social Work.
Có bắt buộc học trước môn Research Project không?
Có. Trình tự công bố yêu cầu hoàn thành Research Methods cùng Preparation for Research Project rồi mới vào được môn Research Project, và môn này được thiết kế để học ngay liền trước.
Học xong môn này còn đổi được đề tài không?
Sinh viên được khuyên không nên đi chệch đáng kể khỏi phần đã xây dựng ở đây, nên hãy coi bản đề cương là một cam kết. Nếu bạn thật sự còn nghi ngờ về câu hỏi nghiên cứu của mình thì nêu ngay trong môn này, đừng để sang môn sau, khi đổi hướng tốn kém hơn nhiều.
Môn này dành cho ai?
Cho các chuyên viên y tế đang hành nghề và học lên thạc sĩ, gồm điều dưỡng, hộ sinh, nhân viên cấp cứu, vật lý trị liệu, kỹ thuật viên chẩn đoán hình ảnh và xạ trị.
Có cần phê duyệt đạo đức trước khi nộp đề cương không?
Yêu cầu khác nhau theo từng chương trình và từng nghiên cứu, nên handbook của môn cùng người hướng dẫn mới là căn cứ. Thứ luôn được trông đợi ngay trong bản đề cương là bạn xác định đúng tuyến phê duyệt và cho thấy mình hiểu tuyến đó sẽ đòi hỏi gì ở thiết kế của mình.
Nghiên cứu nhỏ có bị coi là nghiên cứu yếu không?
Không. Ở cấp độ này, một nghiên cứu nhỏ mà mô tả đầy đủ tới từng chi tiết và thật sự hoàn thành được sẽ điểm cao hơn một nghiên cứu tham vọng nhưng không sống nổi qua khâu tuyển người tham gia.
Bài liên quan
- Cách viết đề cương luận văn
- Cách viết câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu
- Đồng hành nghiên cứu cùng chuyên gia MAAS
Trao đổi với mentor MAAS về môn học của bạn
References
Braun, V., & Clarke, V. (2006). Using thematic analysis in psychology. Qualitative Research in Psychology, 3(2), 77–101. https://doi.org/10.1191/1478088706qp063oa
Chan, A.-W., Tetzlaff, J. M., Altman, D. G., Laupacis, A., Gøtzsche, P. C., Krleža-Jerić, K., Hróbjartsson, A., Mann, H., Dickersin, K., Berlin, J. A., Doré, C. J., Parulekar, W. R., Summerskill, W. S. M., Groves, T., Schulz, K. F., Sox, H. C., Rockhold, F. W., Rennie, D., & Moher, D. (2013). SPIRIT 2013 statement: Defining standard protocol items for clinical trials. Annals of Internal Medicine, 158(3), 200–207. https://doi.org/10.7326/0003-4819-158-3-201302050-00583
Polit, D. F., & Beck, C. T. (2021). Nursing research: Generating and assessing evidence for nursing practice (11th ed.). Wolters Kluwer.
Quality Assurance Agency for Higher Education. (2024). The frameworks for higher education qualifications of UK degree-awarding bodies. QAA.
Ritchie, J., Lewis, J., McNaughton Nicholls, C., & Ormston, R. (Eds.). (2014). Qualitative research practice: A guide for social science students and researchers (2nd ed.). SAGE.
