Skip to content
Quay lại BlogHealth & Education

7HSK2049: vì sao môn này quyết định Research Project của bạn?

18 phút đọc3,438 từ

Người duyệt: MAAS-EXP-14, Thạc sĩ (MSc) Dược và Y tế Công cộng (Hungary)

Trả lời thẳng: 7HSK2049 quyết định Research Project (dissertation) của bạn vì sinh viên được khuyên không đi chệch đáng kể khỏi bản proposal viết ở môn này khi bước vào Research Project, nên phần lớn lựa chọn về câu hỏi, phương pháp và tính khả thi được định hình từ đây. Vì vậy proposal cần là kế hoạch làm được, từ đạo đức, tính khả thi tới kế hoạch phân tích, chứ không phải bản nghe hay mà không chạy nổi.

Bài viết này giúp bạn viết một proposal mà người chấm đọc ra là một kế hoạch làm được. Phần lớn sinh viên coi Preparation for Research Project là môn khởi động, vì nó không tạo ra kết quả nghiên cứu nào và chẳng có gì trong đó mang cảm giác chung cuộc. Cách nghĩ ấy khá đắt, vì University of Hertfordshire xếp môn này ngay trước Research Project, và sinh viên được khuyên không đi chệch khỏi những gì đã xây dựng ở đây. Chan và cộng sự (2013), khi công bố chuẩn báo cáo đề cương SPIRIT cho thử nghiệm lâm sàng, nhấn mạnh đúng kỷ luật này: cam kết thiết kế nghiên cứu trước khi nghiên cứu bắt đầu.

Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật: 10/08/2026
Chuyên mục: health-education

Môn 7HSK2049 nằm ở đâu trong chuỗi ba môn?

Trả lời thẳng: 7HSK2049 Preparation for Research Project là môn Level 7 thuộc School of Health and Social Work của University of Hertfordshire, nặng 15 tín chỉ. Môn này là bước giữa của chuỗi ba môn, đi sau Research Methods và đứng ngay trước Research Project. Bạn phải hoàn thành cả hai môn đầu mới được làm project, nên phần việc ở môn này nối thẳng sang bước cuối.

Trường công bố môn này công khai trong nhóm khoá ngắn hạn và chương trình phát triển nghề nghiệp liên tục (continuing professional development), kèm chuỗi điều kiện tiên quyết và cấu trúc tín chỉ bán thời gian. Người học là những người đang hành nghề y tế, gồm điều dưỡng, hộ sinh, nhân viên cấp cứu (paramedic), chuyên viên vật lý trị liệu, kỹ thuật viên chẩn đoán hình ảnh và kỹ thuật viên xạ trị, vừa đi làm lâm sàng vừa học lên thạc sĩ. Đây cũng là nhóm vừa hành nghề vừa nghiên cứu mà Polit và Beck (2021) hướng tới khi viết giáo trình về bằng chứng trong điều dưỡng.

Một sinh viên từng nghĩ rằng mình có thể tinh chỉnh câu hỏi sau, trong lúc làm project, nên dùng môn này để thử ba hướng khác nhau thay vì chốt một hướng. Khi project bắt đầu, người hướng dẫn giữ bạn ấy đúng theo bản proposal đã nộp. Việc khám phá ba hướng kia thật sự có ích cho tư duy, nhưng không phần nào nằm trong tài liệu được tính.

Trình tự này kéo theo hai hệ quả nên tính trước khi bạn viết chữ nào. Thứ nhất, proposal của bạn là một cam kết chứ không phải bản nháp, giống cam kết mà Polit và Beck (2021) mô tả một đề cương nghiên cứu phải đưa ra trước khi tuyển người tham gia đầu tiên. Thứ hai, vì bạn học bán thời gian trong lúc vẫn làm lâm sàng, mọi câu hỏi về tính khả thi trong proposal phải soi vào lịch làm việc thật của bạn chứ không phải một lịch giả định.


Thứ thật sự được chấm ở môn này là gì?

Trả lời thẳng: Môn này chấm phán đoán của bạn về điều làm được, không chấm tham vọng. Proposal được xét ở chỗ câu hỏi có trả lời được không, chẳng hạn khi đóng khung theo PICO (population, intervention, comparison, outcome), phương pháp có chạm tới dữ liệu không, quyền tiếp cận và phê duyệt đạo đức có thực tế không, và kế hoạch có vừa quỹ thời gian cùng số tín chỉ không.

Chấm dựa trên phán đoán là chức năng chuẩn của một đề cương nghiên cứu trong các ngành sức khoẻ. Chan và cộng sự (2013) giải thích vì sao hướng dẫn báo cáo SPIRIT đặt nặng việc nêu rõ thiết kế, đối tượng tham gia, nguồn dữ liệu và cách phân tích trước khi nghiên cứu bắt đầu chứ không phải sau đó. Lý do khá rõ: một đề cương viết trước có thể được đánh giá qua lý lẽ của nó, còn một bản viết sau thì luôn có thể uốn cho khớp với những gì đã xảy ra. Polit và Beck (2021) áp cùng chuẩn đó khi mô tả cách nghiên cứu điều dưỡng được đánh giá về độ chặt chẽ trước khi thu thập dữ liệu. Người chấm bài của bạn đang đọc để tìm lý lẽ.

Một proposal từng đặt mục tiêu so sánh trải nghiệm người bệnh ở ba khoa của một bệnh viện trong sáu tháng. Khi được hỏi chuyện gì xảy ra nếu một khoa từ chối cho tiếp cận, người viết không có câu trả lời, và nghiên cứu cũng không có phương án dự phòng. Thu hẹp còn một khoa với đường tiếp cận rõ ràng cho ra một nghiên cứu nhỏ hơn nhưng một proposal mạnh hơn hẳn, vì mọi thành phần trong đó giờ đều có thể diễn ra thật. Đó đúng là kỷ luật nêu trước mà SPIRIT được xây dựng để thực thi.


Phần nào sinh viên hay xem nhẹ nhất?

Trả lời thẳng: Ba phần hay bị xem nhẹ là đạo đức và thủ tục phê duyệt, tính khả thi, và kế hoạch phân tích. Cả ba đều là nơi proposal bị đánh giá, và thường được viết thành một đoạn bày tỏ ý định thay vì một kế hoạch cụ thể. Ritchie và cộng sự (2014) coi khoảng cách giữa mô tả và đặc tả là ranh giới giữa thiết kế tạm được và thiết kế đáng cấp kinh phí.

Bảng so sánh sáu phần của đề cương nghiên cứu, viết cho có đối chiếu với viết thành một kế hoạch cụ thể
Đề cương được chấm ở chỗ mỗi phần có thành kế hoạch thật hay chỉ là hình thức.

Phần Viết theo kiểu cho có Viết như một kế hoạch
Câu hỏi nghiên cứu Một mảng chủ đề rộng, thêm dấu hỏi vào cuối Một câu hỏi trả lời được, nêu rõ quần thể, yếu tố tác động hoặc trọng tâm, và kết cục
Tổng quan tài liệu Tóm tắt những gì đã được công bố Một lập luận định vị đúng khoảng trống mà nghiên cứu này giải quyết
Thiết kế và phương pháp Gọi tên phương pháp kèm định nghĩa trong giáo trình Biện minh phương pháp theo câu hỏi, có cân nhắc và loại bỏ phương án khác với lý do nêu rõ
Đạo đức và phê duyệt Một lời hứa sẽ xin phê duyệt Xác định tuyến phê duyệt, gọi tên rủi ro cụ thể với người tham gia, mô tả biện pháp bảo vệ
Tính khả thi Không có, hoặc một câu trấn an Cỡ mẫu hoặc logic chọn mẫu, đường tiếp cận, khung thời gian tuyển, và phương án khi tuyển không đủ
Kế hoạch phân tích Để tới khi có dữ liệu rồi tính Nêu trước cách phân tích, khớp với loại dữ liệu mà thiết kế sẽ tạo ra

Chỗ thiếu đắt giá nhất thường là kế hoạch phân tích, vì quyết định cách phân tích sau khi đã thấy dữ liệu mở đường cho báo cáo chọn lọc, và người phản biện biết rõ điều đó. Ở nghiên cứu định tính, lỗi tương đương là gọi tên một cách tiếp cận mà không nói sẽ áp dụng nó thế nào. Vì vậy Braun và Clarke (2006) trình bày phân tích chủ đề (thematic analysis) như một chuỗi quyết định chứ không phải một cái nhãn, còn Ritchie và cộng sự (2014) coi chính khung phân tích, không riêng bộ câu hỏi phỏng vấn, là thứ proposal cần nêu trước. Với nghiên cứu lâm sàng, tuyến phê duyệt cũng không phải thủ tục cho có. Nghiên cứu liên quan tới người bệnh, nhân viên hay dữ liệu của NHS nằm trong một hệ thống phê duyệt đã định sẵn, nên một proposal không nhắc tới hệ thống đó là đã bỏ qua đúng bước dễ làm project trễ hạn nhất.

Một sinh viên từng dự định phỏng vấn bán cấu trúc các điều dưỡng về quy trình bàn giao ca, và viết rằng dữ liệu sẽ "được phân tích theo chủ đề". Khi được hỏi cụ thể điều đó nghĩa là làm những bước nào, bạn ấy nêu rõ bản gỡ băng sẽ được mã hoá ra sao, chủ đề được hình thành ở cấp độ nào, và ai kiểm tra chéo phần mã hoá. Thiết kế không đổi, nhưng proposal giờ cho thấy một người nghiên cứu biết mình sẽ làm gì vào đúng ngày bản gỡ băng đầu tiên về tay. Đó chính là mức cụ thể về quy trình mà Braun và Clarke (2006) dựng chuỗi sáu giai đoạn của mình để làm lộ ra.


Viết phần khả thi thế nào để nó thành lập luận thật?

Trả lời thẳng: Hãy tính nghiên cứu bằng loại tài nguyên bạn thật sự có, mà với người làm lâm sàng học bán thời gian là thời gian, quyền tiếp cận và thiện chí. Nêu con số, nêu nguồn của nó, và nêu phương án nếu nó không đúng dự tính. Với thiết kế định tính, cỡ mẫu nên dựa vào lượng thông tin mẫu mang lại thay vì một quy tắc cố định (Malterud et al., 2016).

Tuyển không đủ người tham gia là một trong những lý do phổ biến nhất khiến các nghiên cứu sức khoẻ quy mô nhỏ không đi tới đích, và phần lớn rủi ro đó dự đoán được ngay từ khâu proposal nếu bạn biết quần thể đủ điều kiện và một tỷ lệ đồng ý tham gia sát thực tế. Proposal nào nêu cả hai con số rồi suy ra khung thời gian tuyển là đã thể hiện phán đoán, còn proposal chỉ nêu một con số mục tiêu mà không nói suy ra từ đâu thì mới dừng ở mong muốn.

Với nghiên cứu định tính, Malterud, Siersma và Guassora đưa ra khái niệm information power, tức "sức mạnh thông tin" của mẫu, và viết rằng "information power indicates that the more information the sample holds, relevant for the actual study, the lower amount of participants is needed" (Malterud et al., 2016). Nói cách khác, mẫu càng chứa nhiều thông tin liên quan tới đúng câu hỏi nghiên cứu thì càng cần ít người tham gia, nên cỡ mẫu phải được lập luận từ chính nghiên cứu đó chứ không lấy từ một con số quen tay.

Một proposal từng đặt mục tiêu tuyển bốn mươi người từ một phòng khám. Phòng khám tiếp khoảng sáu mươi bệnh nhân đủ điều kiện mỗi tháng, và người viết mặc định phần lớn sẽ đồng ý. Khi tính ngược từ một tỷ lệ đồng ý thận trọng, bốn mươi người thành một đợt tuyển kéo dài bốn tháng, không khớp với hạn nộp bài. Mục tiêu hạ xuống còn hai mươi bốn người, thiết kế được điều chỉnh theo, và nghiên cứu trở thành thứ có thể hoàn thành.


Viết proposal ở môn này khác gì so với dissertation proposal ở ngành khác?

Trả lời thẳng: Có hai đặc điểm riêng của ngành sức khoẻ. Lớp thủ tục phê duyệt nằm ngoài nhà trường, thường đi qua Health Research Authority và hệ thống Integrated Research Application System chứ không chỉ qua trường. Còn vai trò kép vừa là người hành nghề vừa là người nghiên cứu tạo ra những câu hỏi đạo đức mà sinh viên không làm lâm sàng hầu như không gặp.

Tuyển người tham gia ngay tại nơi bạn đang làm việc kéo theo khả năng người bệnh hoặc đồng nghiệp thấy khó từ chối, và đây là mối lo đã được ghi nhận trong nghiên cứu do người trong cuộc (insider research) thực hiện tại môi trường nghề nghiệp. Gọi tên rủi ro ấy rồi mô tả cách bạn tách hai vai, chẳng hạn nhờ một người khác tiếp cận người tham gia tiềm năng, chính là kiểu lập luận phân biệt một proposal Level 7 với một bài bậc cử nhân chỉ làm đủ yêu cầu. Ritchie và cộng sự (2014) cũng trông đợi người nghiên cứu định tính nêu rõ vị trí của mình (positionality) như vậy, thay vì để người đọc tự suy ra. Việc cam kết phương pháp ngay từ đề cương, thay vì để ngỏ tới lúc vào project, cũng là điều môn dissertation của một chương trình y tế công cộng khác đòi hỏi, đó là AC7024 MPH Dissertation Project ở Northumbria, nơi bạn phải chốt giữa tổng quan hệ thống và nghiên cứu thực nghiệm trước khi bắt tay vào viết.

Một hộ sinh từng dự định phỏng vấn những sản phụ chị đã chăm sóc, với lý do hợp lý là họ tin tưởng chị. Người hướng dẫn hỏi lại: nếu một người tham gia muốn từ chối thì họ sẽ từ chối bằng cách nào? Chị không mô tả được cách nào để người ta nói không mà vẫn thấy thoải mái, nên đường tuyển người tham gia được đổi, và proposal có thêm một đoạn lập luận đạo đức mà trước đó còn thiếu. Polit và Beck (2021) trông đợi một đề cương nghiên cứu điều dưỡng thể hiện rõ đúng kiểu soi xét vai trò người nghiên cứu này.


Phần câu chữ của proposal nên viết thế nào?

Trả lời thẳng: Hãy viết chính xác, có rào đón ở chỗ bằng chứng chưa chắc và cụ thể ở mọi chỗ còn lại, đúng mức mà FHEQ trông đợi ở bậc thạc sĩ. Proposal là một trong số ít thể loại học thuật mà sự mơ hồ bị đọc thành lỗi thiết kế chứ không phải lỗi văn phong, vì mỗi chi tiết chưa nói rõ là một quyết định bạn chưa đưa ra.

Nhóm kỹ năng chuyển đổi được trông đợi ở bậc thạc sĩ gồm sử dụng có phản biện các tài liệu liên quan và bảo vệ công việc của mình ở cả chi tiết lẫn bối cảnh, và proposal là văn bản để bạn tập dượt phần bảo vệ ấy. Quality Assurance Agency for Higher Education (2024), cơ quan bảo đảm chất lượng giáo dục đại học của Anh, mô tả trình độ thạc sĩ trong Framework for Higher Education Qualifications (FHEQ) qua tính nguyên bản khi vận dụng tri thức và khả năng xử lý sự phức tạp cùng dữ liệu chưa đầy đủ. Vì vậy, thừa nhận điều mình chưa biết là một phần của chuẩn chứ không phải điểm yếu so với chuẩn.

Một bản nháp từng viết rằng nghiên cứu "sẽ cải thiện kết cục điều trị cho người bệnh". Ý định thì tốt nhưng khẳng định không đứng vững, vì một nghiên cứu định tính quy mô nhỏ không thể chứng minh cải thiện kết cục. Khi được viết lại thành nghiên cứu sẽ mô tả cách nhân viên y tế hiểu một quy trình bàn giao ca cụ thể, và hiểu biết đó có thể làm nền cho thiết kế can thiệp về sau, câu văn vừa khiêm tốn hơn vừa bảo vệ được. Nó cũng gần hơn với sự trung thực về dữ liệu chưa đầy đủ mà QAA coi là một phần của trình độ thạc sĩ.


Mentor MAAS thật sự làm gì ở môn này?

MAAS làm việc với vai trò cố vấn học thuật. Vì môn này định sẵn hình hài của project phía sau, cuộc trao đổi giá trị nhất là cuộc trao đổi sớm, xoay quanh việc câu hỏi nghiên cứu có trả lời được trong phạm vi quyền tiếp cận, lịch làm việc và số tín chỉ của bạn hay không. Sau đó mentor đọc proposal đối chiếu với yêu cầu của môn, đặt những câu hỏi mà người hướng dẫn và người thẩm định đạo đức sẽ đặt, và chỉ ra chỗ nào bạn đang viết một ý định thay cho một kế hoạch. Bạn tự viết và tự nộp bài của mình, và hồ sơ xin phê duyệt đạo đức vẫn là trách nhiệm của bạn. Trích dẫn được kiểm ngay trong lượt đọc đó, không bán thành dịch vụ riêng.


Câu hỏi thường gặp

Môn 7HSK2049 bao nhiêu tín chỉ?
15 tín chỉ ở Level 7, học theo diện bán thời gian trong School of Health and Social Work.

Có bắt buộc học môn này trước Research Project không?
Có. Trình tự trường công bố yêu cầu hoàn thành đạt Research Methods và Preparation for Research Project rồi mới vào môn Research Project, và môn này được thiết kế để học ngay liền trước.

Học xong môn này còn đổi được đề tài không?
Sinh viên được khuyên không đi chệch đáng kể khỏi phần đã xây dựng ở môn này, nên hãy coi proposal là một cam kết. Nếu bạn thật sự còn nghi ngờ về câu hỏi nghiên cứu, hãy nêu ra ngay trong môn này thay vì để sang sau, khi đổi hướng tốn kém hơn nhiều. Chan và cộng sự (2013) áp cùng logic cam kết này cho đề cương lâm sàng nói chung.

Môn này dành cho ai?
Môn dành cho những người đang hành nghề y tế và học lên thạc sĩ, gồm điều dưỡng, hộ sinh, nhân viên cấp cứu, chuyên viên vật lý trị liệu, kỹ thuật viên chẩn đoán hình ảnh và kỹ thuật viên xạ trị.

Có cần phê duyệt đạo đức trước khi nộp proposal không?
Yêu cầu khác nhau theo từng chương trình và từng nghiên cứu, nên handbook của môn và người hướng dẫn mới là căn cứ, dù nhiều nghiên cứu liên quan tới NHS đi qua Health Research Authority chứ không chỉ qua trường. Điều luôn được trông đợi trong chính proposal là bạn xác định đúng tuyến phê duyệt và cho thấy mình hiểu tuyến đó sẽ đòi hỏi gì ở thiết kế.

Nghiên cứu nhỏ có bị coi là nghiên cứu yếu không?
Không. Ở bậc này, một nghiên cứu nhỏ được nêu đầy đủ chi tiết và thật sự hoàn thành được sẽ có điểm cao hơn một nghiên cứu tham vọng nhưng không trụ nổi qua khâu tuyển người tham gia. Điều này khớp với lập luận của Malterud và cộng sự (2016) rằng cỡ mẫu nên được biện minh bằng lượng thông tin nó thực sự mang lại.


Bài liên quan

Trao đổi với mentor MAAS về môn học của bạn


References

Braun, V., & Clarke, V. (2006). Using thematic analysis in psychology. Qualitative Research in Psychology, 3(2), 77–101. https://doi.org/10.1191/1478088706qp063oa

Chan, A.-W., Tetzlaff, J. M., Altman, D. G., Laupacis, A., Gøtzsche, P. C., Krleža-Jerić, K., Hróbjartsson, A., Mann, H., Dickersin, K., Berlin, J. A., Doré, C. J., Parulekar, W. R., Summerskill, W. S. M., Groves, T., Schulz, K. F., Sox, H. C., Rockhold, F. W., Rennie, D., & Moher, D. (2013). SPIRIT 2013 statement: Defining standard protocol items for clinical trials. Annals of Internal Medicine, 158(3), 200–207. https://doi.org/10.7326/0003-4819-158-3-201302050-00583

Malterud, K., Siersma, V. D., & Guassora, A. D. (2016). Sample size in qualitative interview studies: Guided by information power. Qualitative Health Research, 26(13), 1753–1760. https://doi.org/10.1177/1049732315617444

Polit, D. F., & Beck, C. T. (2021). Nursing research: Generating and assessing evidence for nursing practice (11th ed.). Wolters Kluwer.

Quality Assurance Agency for Higher Education. (2024). The frameworks for higher education qualifications of UK degree-awarding bodies. QAA. https://www.qaa.ac.uk/docs/qaa/quality-code/the-frameworks-for-higher-education-qualifications-of-uk-degree-awarding-bodies-2024.pdf

Ritchie, J., Lewis, J., McNaughton Nicholls, C., & Ormston, R. (Eds.). (2014). Qualitative research practice: A guide for social science students and researchers (2nd ed.). SAGE.

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Cần áp dụng vào bài của bạn?

Từ bài viết này
đến bài của bạn.

Trong một buổi tư vấn miễn phí 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS nghe đề bài hoặc đề tài của bạn cùng yêu cầu của người hướng dẫn, rồi gợi ý cách áp dụng nội dung bài này vào đúng trường hợp đó.