Skip to content

← Blog

◆ Kinh doanh và quản trị

SM9532 Strategic Frameworks and Cultural Contexts: nối ra sao?

+7 câu hỏi+1 hình+19 phút đọc

Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật lần cuối: 2026-07-29
Chuyên mục: business-management

Trả lời thẳng: Hai vế của SM9532 nối với nhau ở chỗ một phát hiện về văn hoá làm đổi một khuyến nghị chiến lược, và bài đánh giá thưởng đúng chỗ giao nhau đó. Vì vậy hãy tổ chức bài theo quyết định chứ không theo khung, ghép mỗi khung với quyết định nó phục vụ, và chỉ ra những điều kiện văn hoá do chính lựa chọn chiến lược tạo ra sẽ đổi cách triển khai ra sao.

SM9532 Strategic Frameworks and Cultural Contexts in International Management là môn năm hai ở Newcastle Business School, Đại học Northumbria, trường đạt chứng nhận AACSB từ năm 2014, một vị thế mà chưa tới 1% trường kinh doanh trên thế giới đạt được. Cái khó nằm ngay trong tên môn. Đây không phải một môn chiến lược có gắn thêm một chương văn hoá, cũng không phải một môn văn hoá có nhắc tới chiến lược, mà là chỗ giao nhau giữa việc ra quyết định chiến lược và bối cảnh văn hoá, và coi hai vế là hai chủ đề riêng là cái bẫy phổ biến nhất của môn.


Câu hỏi1

◆ Câu hỏi 1 / 7 · Về môn học

SM9532 học về gì?

Trả lời thẳng: SM9532 là môn Level 5, Năm Hai tại Newcastle Business School (NBS), Đại học Northumbria, trị giá 20 tín chỉ, bắt buộc ở một số hướng chương trình và tự chọn ở những hướng khác. Môn bao quát các hệ hình văn hoá, khung CAGE, kim cương quốc gia của Porter, và đạo đức trong kinh doanh quốc tế, và được chấm qua một bài đánh giá cá nhân duy nhất.

Đọc kỹ danh sách nội dung thì thấy nó xen kẽ có chủ ý: một công cụ chiến lược, rồi một chủ đề văn hoá, rồi lại một công cụ chiến lược. Thâm nhập thị trường nằm cạnh giao tiếp xuyên văn hoá, còn kim cương quốc gia nằm cạnh quản trị nhân sự di động. Sự xen kẽ ấy chính là luận điểm của môn: một lựa chọn chiến lược phớt lờ bối cảnh văn hoá của nó thì chưa phải một lựa chọn chiến lược hoàn chỉnh.

Một sinh viên Việt ở Northumbria từng dựng bản nháp đầu thành hai nửa, nửa đầu là các khung chiến lược và nửa sau là các vấn đề văn hoá. Cố vấn hỏi nửa đầu thay đổi điều gì nhờ nửa sau, và câu trả lời là không gì cả. Hai nửa đều chính xác nhưng không nối với nhau, đúng cái thất bại mà tên môn đã cảnh báo.


Câu hỏi2

◆ Câu hỏi 2 / 7 · Kim cương quốc gia

Kim cương quốc gia của Porter là gì, và vì sao nó có mặt ở đây?

Trả lời thẳng: Kim cương quốc gia giải thích vì sao những quốc gia cụ thể trở thành căn cứ cạnh tranh cho những ngành cụ thể, chứ không giải thích vì sao doanh nghiệp này thắng đối thủ. Porter (1990) dựng mô hình từ nghiên cứu 4 năm trên 10 quốc gia thương mại hàng đầu. Nó thuộc về môn này vì đây là khung coi một quốc gia như một biến chiến lược chứ không phải như phông nền.

Mô hình này có tên đầy đủ là Diamond Model of National Advantage. Qua 4 năm nghiên cứu 10 quốc gia đó, trong đó có Nhật Bản, Đức, Anh và Mỹ, Porter (1990) lập luận rằng lợi thế cạnh tranh quốc gia trong một ngành dựa trên bốn điều kiện tương tác: điều kiện yếu tố đầu vào như kỹ năng và hạ tầng, điều kiện cầu ở thị trường nội địa, các ngành liên quan và hỗ trợ, cùng chiến lược, cấu trúc và mức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp.

Hãy để ý nó khác thế nào với công cụ mà đa số sinh viên với tay tới đầu tiên. Năm áp lực của Porter phân tích cấu trúc của một ngành, còn kim cương quốc gia phân tích năng lực của một quốc gia trong việc nuôi dưỡng một ngành cạnh tranh. Nhầm hai khung này với nhau là lỗi phổ biến nhất ở môn, và rất dễ nhận ra trong bản nháp vì phần phân tích đột ngột thôi nói về quốc gia.

Một sinh viên phân tích vì sao một doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam cạnh tranh tốt ở châu Âu đã viết ra một bài phân tích năm áp lực về ngành đồ gỗ. Cố vấn hỏi cụ thể điều gì ở Việt Nam làm điều đó khả thi. Khi chuyển sang kim cương, bạn ấy tìm ra câu trả lời ở nhóm ngành liên quan và hỗ trợ, tức một cụm chế biến gỗ và logistics đã hình thành, thứ mà phân tích năm áp lực không có chỗ chứa.


Câu hỏi3

◆ Câu hỏi 3 / 7 · Văn hoá và định kiến

Dùng văn hoá thế nào để không biến thành định kiến?

Trả lời thẳng: Hãy coi các khung văn hoá là thứ sinh ra giả thuyết về một bối cảnh, không bao giờ là kết luận về một con người. Các chiều của Hofstede (2001), dựng từ một khảo sát khoảng 117.000 nhân viên IBM và tới ấn bản 2001 phủ hơn 50 quốc gia, mô tả xu hướng trung tâm trong những mẫu quốc gia lớn, và chúng không dự đoán hành vi của một người quản lý cụ thể.

Trong bài viết, cách diễn đạt an toàn và cũng phân tích hơn là nói rằng một khuôn mẫu văn hoá làm cho một hiểu lầm cụ thể dễ xảy ra hơn, rồi cho thấy doanh nghiệp đã làm gì với điều đó.

Môn liệt kê các hệ hình văn hoá bên cạnh giao tiếp xuyên văn hoá và nghi thức kinh doanh quốc tế, vốn là những chủ đề thực hành, gắn tình huống. Cách ghép ấy báo hiệu văn hoá đang được dạy như thứ người quản lý phải điều hướng trong những cuộc gặp cụ thể, không phải một bảng phân loại để đọc thuộc. Mẫu khoảng 117.000 nhân viên IBM mà Hofstede (2001) dựa vào là dữ liệu tổng hợp theo quốc gia, nên nó cho biết xu hướng của cả một nhóm lớn chứ không cho biết một người cụ thể sẽ hành xử ra sao. Trompenaars và Hampden-Turner (2012), với mô hình dựa trên khảo sát hơn 46.000 nhà quản lý ở 40 quốc gia, cũng đóng khung khác biệt văn hoá qua bảy chiều như những tình huống lưỡng nan cần hoà giải, chứ không phải các đặc tính quốc gia cố định.

Một sinh viên viết rằng một cuộc đàm phán thất bại "vì văn hoá Việt Nam mang tính tập thể còn đối tác Đức mang tính cá nhân". Cố vấn hỏi thực sự điều gì đã xảy ra trong phòng họp. Phía Đức kỳ vọng có quyết định ngay tại cuộc gặp, còn phía Việt Nam cần tham vấn những người liên quan đang vắng mặt trước. Mô tả đúng sự lệch pha cụ thể ấy, rồi mới gọi tên khuôn mẫu văn hoá khiến nó dễ xảy ra, vừa chính xác hơn vừa là phân tích tốt hơn hẳn.


Câu hỏi4

◆ Câu hỏi 4 / 7 · Chọn khung

Nên dùng khung nào, và dùng cho việc gì?

Trả lời thẳng: Hãy ghép khung với quyết định. Môn đưa cho bạn một hộp công cụ, và điểm đến từ việc chọn đúng chứ không từ việc dùng hết. Ghemawat (2001) cho thấy công cụ mà giới quản lý thường dùng đầu tiên, phân tích danh mục quốc gia, đặt trọng tâm vào doanh số tiềm năng mà bỏ qua chi phí và rủi ro của khoảng cách.

Năm khung chiến lược quốc tế trong SM9532 và quyết định mà mỗi khung phục vụ

Mỗi hàng đặt một khung cạnh quyết định mà khung đó phục vụ.

Khung

Quyết định khung đó phục vụ

Kim cương quốc gia của Porter

Nên đặt hoặc lấy nguồn hoạt động này ở đâu?

Khoảng cách CAGE

Nước nhà và thị trường đích cách nhau bao xa, ở chiều nào?

Các phương thức thâm nhập

Xuất khẩu, cấp phép, liên doanh, hay công ty con sở hữu toàn bộ?

Các hệ hình văn hoá

Cặp đối tác này dễ nảy sinh hiểu lầm nào?

Quản trị nhân sự di động quốc tế

Ai nên điều hành hoạt động ở nước ngoài, và hỗ trợ họ ra sao?

Bảng trong bài viết này.
Lưu hình nàySM9532 khung và quyết định: kim cương quốc gia của Porter, khoảng cách CAGE, phương thức thâm nhập, hệ hình văn hoá, quản trị nhân sự di động quốc tế
Khung Quyết định nó phục vụ Đừng dùng nó để
Kim cương quốc gia của Porter Nên đặt hoặc lấy nguồn hoạt động này ở đâu? Phân tích mức cạnh tranh trong một ngành
Khoảng cách CAGE Nước nhà và thị trường đích cách nhau bao xa, ở chiều nào? Phán đoán một cá nhân có thích nghi được không
Các phương thức thâm nhập Xuất khẩu, cấp phép, liên doanh, hay công ty con sở hữu toàn bộ? Giải thích các vấn đề quản trị sau khi đã vào
Các hệ hình văn hoá Cặp đối tác này dễ nảy sinh hiểu lầm nào? Dự đoán hành vi của một người cụ thể
Quản trị nhân sự di động quốc tế Ai nên điều hành hoạt động ở nước ngoài, và hỗ trợ họ ra sao? Thay thế cho phân tích phương thức thâm nhập

Ghemawat (2001) chỉ thẳng vào công cụ mà giới quản lý hay dùng đầu tiên, phân tích danh mục quốc gia kiểu cũ, theo đúng lời ông, "places all the emphasis on potential sales. It ignores the costs and risks of doing business in a new market" (Ghemawat, 2001, p. 137). Ông tách khoảng cách ấy thành bốn phần văn hoá, hành chính, địa lý, kinh tế, đúng chỗ hổng mà CAGE được dựng ra để lấp. Dùng đúng cách, CAGE cho bạn biết loại khoảng cách nào là ràng buộc, điều đó lại định hình cả phương thức thâm nhập lẫn quyết định nhân sự, và chính chuỗi đó là chỗ giao nhau mà môn học nói tới. Căng thẳng nền phía sau nó có một cái tên cũ hơn: Bartlett và Ghoshal (1989) mô tả các công ty đa quốc gia bị kéo giữa hai lực, đáp ứng nhu cầu địa phương và hội nhập toàn cầu. Một lựa chọn phương thức thâm nhập bỏ qua nhu cầu địa phương chính là cách kinh điển để một phân tích kim cương-và-CAGE nhìn đúng trên giấy mà vẫn đọc sai văn hoá nơi nó đáp xuống.

Một sinh viên khuyến nghị lập liên doanh để thâm nhập thị trường, rồi ở một mục riêng lại khuyến nghị cử người quản lý từ nước nhà sang điều hành. Cố vấn chỉ ra mâu thuẫn: người ta chọn liên doanh thường chính vì đối tác cung cấp hiểu biết bản địa, nên bố trí toàn người từ nước nhà là vứt bỏ đúng lý do đã chọn liên doanh. Nối hai quyết định lại đã biến hai mục viết đúng thành một lập luận mạch lạc.


Câu hỏi5

◆ Câu hỏi 5 / 7 · Bố cục bài

Nên bố cục bài thế nào?

Trả lời thẳng: Hãy tổ chức theo quyết định, không theo khung lý thuyết. Bảng việc mà Northumbria công bố cho bài đánh giá cá nhân của môn, chiếm 100% điểm và giới hạn 3.000 từ trong những năm gần đây, yêu cầu bạn dựng hồ sơ văn hoá cho một quốc gia được chỉ định, rồi chạy một phân tích CAGE cơ bản để đối chiếu nó với một quốc gia thứ hai, thường là Vương quốc Anh.

Một cấu trúc ép được chỗ giao nhau trong đúng giới hạn từ đó gồm sáu phần: (1) doanh nghiệp và quyết định quốc tế cụ thể nó đang đối mặt, (2) phần phân tích chiến lược, tức chọn nước nào, phương thức thâm nhập nào, dùng kim cương và CAGE, (3) những điều kiện văn hoá mà chính lựa chọn ấy tạo ra, gồm giao tiếp, nghi thức, nhân sự, (4) những điều kiện đó nên làm đổi cách triển khai chiến lược ra sao, (5) chiều đạo đức và kinh doanh có trách nhiệm trong bối cảnh bản địa, và (6) kết luận nêu doanh nghiệp nên làm gì và nên theo dõi điều gì. Mục bốn mới là mục ăn điểm của môn, và với 3.000 từ chia cho sáu phần, mỗi phần chỉ còn khoảng 500 từ, nên phần mô tả từng quốc gia phải viết rất cô đọng.

Nội dung môn nêu đích danh "Đạo đức và Kinh doanh có Trách nhiệm trong bối cảnh tăng trưởng, những bối cảnh bản địa hoá của thị trường quốc tế", tức đạo đức là thành phần được gọi tên chứ không phải tuỳ chọn, trong một bài đánh giá duy nhất chiếm 100% điểm. Xử lý nó trong một câu kết là để một chủ đề đã liệt kê gần như bị bỏ trống.

Đoạn về đạo đức của một sinh viên viết rằng doanh nghiệp nên "hành xử có trách nhiệm ở mọi thị trường". Cố vấn hỏi "có trách nhiệm" nghĩa là gì ở đúng thị trường bạn ấy chọn, nơi tiêu chuẩn lao động của nhà cung ứng bản địa khác với nước nhà. Gọi tên đúng tình huống lưỡng nan, và sự đánh đổi doanh nghiệp phải chịu, đã biến một câu sáo rỗng thành phần phân tích bản địa hoá mà môn yêu cầu.


Câu hỏi6

◆ Câu hỏi 6 / 7 · Lỗi hay gặp

Những lỗi nào hay gặp nhất ở SM9532?

Trả lời thẳng: Vài thói quen chiếm phần lớn số điểm bị mất. Bảng dưới đây gom sáu thói quen đó, từ tách chiến lược và văn hoá thành hai nửa rời, dùng kim cương quốc gia như năm áp lực, biến Hofstede thành cỗ máy sinh định kiến, cho tới coi văn hoá chỉ như vật cản, kèm lý do mỗi thói quen làm mất điểm và cách sửa.

Lỗi Vì sao mất điểm Cách sửa
Chiến lược và văn hoá thành hai nửa rời Môn nói về chỗ giao nhau Cho thấy văn hoá làm đổi điều gì trong lựa chọn chiến lược
Dùng kim cương quốc gia như năm áp lực Hai khung trả lời hai câu hỏi khác nhau Tự hỏi bạn đang phân tích một quốc gia hay một ngành
Hofstede thành cỗ máy sinh định kiến Nó mô tả xu hướng, không mô tả cá nhân Nói một hiểu lầm dễ xảy ra hơn, rồi kể điều đã xảy ra
Chọn phương thức thâm nhập mà không tính nhân sự Hai quyết định ràng buộc lẫn nhau Quyết ai điều hành như một phần của việc chọn phương thức
Đạo đức chỉ là một câu kết Đây là nội dung được gọi tên Phân tích một tình huống lưỡng nan bản địa cụ thể
Coi văn hoá chỉ như vật cản Nó cũng tạo lợi thế và lối vào Nêu chỗ hiểu biết văn hoá là một nguồn lực

Quality Assurance Agency for Higher Education (2024), trong Framework for Higher Education Qualifications (FHEQ) mà cơ quan này ban hành, đặt Level 5 giữa Level 4 ở đầu vào và Level 6 ở bậc hoàn tất, tương ứng năm giữa của một chương trình cử nhân ba năm điển hình. Ở Level 5, bài đánh giá đang kiểm tra xem bạn có giữ được hai lăng kính phân tích cùng lúc hay chỉ chuyển qua chuyển lại giữa chúng. Một bản nháp có thể cắt đôi mà mỗi nửa vẫn đứng độc lập là chưa thể hiện được năng lực đó, dù từng nửa chính xác tới đâu.

Một sinh viên viết một phần CAGE rất chắc và một phần về giao tiếp xuyên văn hoá cũng rất chắc. Cố vấn gợi ý bạn ấy thử tách bản nháp làm đôi, và qua đó bạn ấy thấy hai nửa không hề nhắc tới nhau lấy một lần. Thêm ba câu mang một phát hiện từ CAGE sang phần giao tiếp là một chỉnh sửa nhỏ, nhưng nó làm đổi hẳn thứ mà bài thể hiện được.


Câu hỏi7

◆ Câu hỏi 7 / 7 · Nhân sự di động

Viết về quản trị nhân sự di động quốc tế thế nào?

Trả lời thẳng: Hãy coi đó là một quyết định nhân sự mang tính chiến lược có hệ quả văn hoá, không phải một chú thích về nhân sự. Các câu hỏi đáng trả lời gồm ai nên điều hành hoạt động này và vì sao, họ cần hỗ trợ gì trước và trong nhiệm kỳ thường kéo dài, hiệu quả của họ được đánh giá ra sao ở môi trường xa lạ, và chuyện gì xảy ra khi họ quay về.

Mỗi câu đều có chi phí, và mỗi câu đều nối ngược lại phương thức thâm nhập đã chọn. Mối nối ấy khớp với logic mô hình Uppsala mà Johanson và Vahlne (1977) mô tả, khi doanh nghiệp cam kết nguồn lực cho một thị trường nước ngoài theo từng nấc tăng dần, đi cùng với việc hiểu biết thực tế của họ về thị trường đó cũng tăng dần.

Môn đặt quản trị nhân sự di động quốc tế cạnh nghi thức kinh doanh quốc tế và giao tiếp xuyên văn hoá. Cách nhóm ấy đóng khung tính di động như một phần của việc chiến lược thực sự được thực thi trên mặt đất, và đó là lý do một khuyến nghị về phương thức thâm nhập mà không kèm hàm ý nhân sự nghe như còn dở dang.

Một sinh viên Việt viết về hoạt động của một doanh nghiệp châu Âu ở Đông Nam Á đã khuyến nghị cử một giám đốc giàu kinh nghiệm từ nước nhà sang. Cố vấn hỏi người đó cần chuẩn bị những gì và doanh nghiệp sẽ mất gì nếu nhiệm kỳ đứt sớm. Tính chi phí cho nhiệm kỳ một cách thực tế, gồm cả khâu chuẩn bị và rủi ro phải về sớm, đã làm khuyến nghị của bạn ấy đáng tin hơn hẳn một khuyến nghị nói suông.


Câu hỏi thường gặp

SM9532 là môn chiến lược hay môn văn hoá?

Không phải riêng cái nào. Nó nói về chỗ giao nhau, và bài đánh giá thưởng cho những bài cho thấy vế này làm đổi vế kia. Nếu bản nháp của bạn nghe như hai bài luận riêng, đó là tín hiệu cần sửa.

Bạn dùng chính nền văn hoá của mình làm tư liệu được không?

Được, và đó có thể là lợi thế thật, miễn là bạn phân tích nó chứ không khẳng định suông. Hãy mô tả một tình huống kinh doanh cụ thể và điều gì làm nó khó, rồi mới đưa khung vào, chẳng hạn các chiều của Hofstede (2001), để giải thích vì sao cái khó ấy có thể đoán trước.

Hofstede có lỗi thời không?

Mô hình của Hofstede (2001) vẫn được dạy rộng rãi và cũng bị phê phán rộng rãi. McSweeney (2002) là lời phê phán được biết nhiều nhất, lập luận rằng một điểm số quốc gia duy nhất khó có thể đại diện hợp lý cho giá trị của mọi người sống trong quốc gia đó. Nêu hạn chế đó và dùng mô hình một cách thận trọng thì mạnh hơn cả việc lờ đi lời phê phán lẫn việc gạt bỏ hẳn mô hình.

Nên dùng bao nhiêu khung?

2 tới 3 khung, chọn vì quyết định đòi hỏi chúng, không phải để phủ kín trang giấy. Kim cương quốc gia của Porter (1990) và CAGE của Ghemawat (2001) phủ được phần lớn phân tích cấp quốc gia, thêm một khung văn hoá hợp với đúng cuộc gặp cụ thể bạn đang phân tích.

MAAS có hỗ trợ được môn SM9532 không?

Cố vấn MAAS đồng hành cùng bạn ở khâu chọn doanh nghiệp và quyết định làm lộ ra được chỗ giao nhau, ghép khung với đúng câu hỏi, và kiểm xem phần phân tích văn hoá của bạn có đang làm đổi khuyến nghị chiến lược hay chỉ nằm cạnh nó. Bạn vẫn là tác giả bài của mình, còn cố vấn đi tìm những chỗ hai nửa bài của bạn chưa gặp được nhau.


Tìm cho ra các mối nối

Phủ nhiều khung không phải thứ đưa bài lên nhóm điểm cao. Bài chạm được là bài mà một phát hiện về văn hoá nhìn thấy được đã làm đổi một khuyến nghị chiến lược, và phần đạo đức gọi tên được một tình huống lưỡng nan có thật ở một thị trường có thật. Nếu bản nháp của bạn hiện đang là chiến lược trước, văn hoá sau, cố vấn MAAS có thể giúp bạn tìm ra các mối nối.

Trao đổi với cố vấn MAAS về môn học của bạn


Bài liên quan

References

  • Bartlett, C. A., & Ghoshal, S. (1989). Managing across borders: The transnational solution. Harvard Business School Press.
  • Ghemawat, P. (2001). Distance still matters: The hard reality of global expansion. Harvard Business Review, 79(8), 137–147.
  • Hofstede, G. (2001). Culture's consequences: Comparing values, behaviors, institutions and organizations across nations (2nd ed.). SAGE.
  • Johanson, J., & Vahlne, J.-E. (1977). The internationalization process of the firm: A model of knowledge development and increasing foreign market commitments. Journal of International Business Studies, 8(1), 23–32. https://doi.org/10.1057/palgrave.jibs.8490676
  • McSweeney, B. (2002). Hofstede's model of national cultural differences and their consequences: A triumph of faith, a failure of analysis. Human Relations, 55(1), 89–118. https://doi.org/10.1177/0018726702551004
  • Porter, M. E. (1990). The competitive advantage of nations. Free Press.
  • Quality Assurance Agency for Higher Education. (2024). The frameworks for higher education qualifications of UK degree-awarding bodies. https://www.qaa.ac.uk/docs/qaa/quality-code/the-frameworks-for-higher-education-qualifications-of-uk-degree-awarding-bodies-2024.pdf
  • Trompenaars, F., & Hampden-Turner, C. (2012). Riding the waves of culture: Understanding diversity in global business (3rd ed.). Nicholas Brealey.

Tools & resources


Bài viết thuộc chuỗi MAAS Journal dành cho du học sinh Việt Nam. Hỗ trợ làm assignment và essay của MAAS là một đối tác hỗ trợ học thuật, đồng hành cùng sinh viên theo mô hình Outline, Draft, Final với phản hồi phát triển từ chuyên gia đúng chuyên ngành. MAAS không viết thay hay nộp bài thay sinh viên.

Buổi tư vấn miễn phí 20 phút là một cuộc trao đổi về việc bạn đang ở đâu với SM9532.

Đặt lịch tư vấn miễn phí ▸
Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Mục lục