Skip to content
Quay lại BlogResearch Methods

Xác định khoảng trống nghiên cứu cho bài báo của mình thế nào?

23 phút đọc4,404 từ

Khoảng trống nghiên cứu là một câu hỏi cụ thể mà ngành của bạn chưa trả lời được, và tìm ra một khoảng trống thật sự chính là nền móng của mọi nghiên cứu công bố được. Với nhà nghiên cứu Việt Nam đang chuẩn bị bài Scopus đầu tiên hoặc luận văn, một khoảng trống được định nghĩa rõ là thứ phân biệt một bản thảo mà biên tập viên xem xét nghiêm túc với một bản thảo đọc như bản tóm tắt những gì người khác đã làm.

Xác định khoảng trống nghiên cứu là một kỹ năng học được, không phải một tia cảm hứng ngồi chờ. Bài viết này trả lời bảy câu hỏi mà nghiên cứu sinh và học viên cao học Việt Nam hay hỏi mentor MAAS nhất khi đi tìm một đóng góp nguyên bản.

Tác giả: Ban Phương pháp Nghiên cứu và Công bố của MAAS · Hiệu đính bởi mentor chuyên môn của MAAS
Cập nhật lần cuối: 2026-06-14
Chuyên mục: research-methods

Một nhà nghiên cứu đang đọc tập tài liệu in
Ảnh minh hoạ


Khoảng trống nghiên cứu chính xác là gì?

Trả lời trực tiếp: Khoảng trống nghiên cứu là một câu hỏi, nhóm dân số, phương pháp hay bối cảnh cụ thể mà nghiên cứu hiện có chưa xử lý thoả đáng, đúng các yếu tố Robinson và cộng sự (2011) dùng để đặc tả. Đó không đơn giản là chủ đề chưa ai viết, mà là sự vắng mặt có ý nghĩa trong tri thức, và câu trả lời cho nó sẽ đổi cách người ta nghĩ hoặc làm.

Bằng chứng: Researcher Academy của Elsevier định nghĩa khoảng trống nghiên cứu là những vùng chưa được khám phá hoặc khám phá còn ít trong tri thức hiện có, những dữ liệu còn thiếu ở các nhóm dân số cụ thể, những phương pháp ít được dùng, những kết quả không nhất quán, hoặc những lĩnh vực mới nổi chưa được điều tra kỹ (Elsevier, n.d.). Một khoảng trống chỉ được tính khi chính tài liệu cho thấy sự vắng mặt đó, còn một chủ đề mà bạn đơn giản là chưa đọc tới thì đó là khoảng trống đọc, không phải khoảng trống nghiên cứu.

Ví dụ: Một khách hàng Publishing Advisory của MAAS ngành y tế công cộng đề xuất khoảng trống của mình là "nghiên cứu sức khoẻ tâm thần ở sinh viên". Mentor của bạn ấy ép đi tới độ chính xác cho tới khi nó thành "sự thiếu vắng công cụ sàng lọc lo âu bằng tiếng Việt đã được thẩm định cho sinh viên năm nhất", một khoảng trống bảo vệ được mà biên tập viên nhìn một cái là thấy.


Có những loại khoảng trống nghiên cứu chính nào?

Trả lời trực tiếp: Phần lớn khoảng trống rơi vào một số ít loại nhận ra được (Müller-Bloch và Kranz, 2015), gồm khoảng trống bằng chứng khi kết quả chọi nhau, khoảng trống tri thức khi câu trả lời chưa tồn tại, khoảng trống phương pháp khi nghiên cứu chung một phương pháp hạn chế, khoảng trống thực nghiệm, khoảng trống lý thuyết, và khoảng trống dân số hoặc bối cảnh. Gọi đúng tên loại làm lập luận sắc hơn.

Bằng chứng: Müller-Bloch và Kranz (2015) rút ra sáu loại khoảng trống, gồm bằng chứng, tri thức, phương pháp, thực nghiệm, lý thuyết và xung đột tri thức thực hành, bằng cách phân tích 40 bài tổng quan tài liệu, qua đó đưa cho tác giả một bộ từ vựng để phát biểu khoảng trống chặt chẽ thay vì mơ hồ. Một bảng phân loại song song của Miles (2017) gọi tên bảy khoảng trống nghiên cứu thay vì sáu, khi tách cái mà Müller-Bloch và Kranz coi là một nhóm phương pháp duy nhất thành hai nhóm hẹp hơn. Con số chính xác không quan trọng bằng kỷ luật mà nó ép ra, đó là hãy thử khoảng trống của mình với trọn danh sách các loại thay vì bằng lòng với cái nhãn đầu tiên nghe có vẻ hợp. Trong bối cảnh tổng quan hệ thống, Robinson và cộng sự (2011) phân loại lý do một khoảng trống tồn tại, gồm thông tin không đủ, thông tin thiên lệch, sự thiếu nhất quán, hoặc "không phải loại thông tin cần tìm".

Ví dụ: Một nghiên cứu sinh ngành marketing người Việt tin rằng khoảng trống của mình là một chủ đề còn thiếu. Dùng bảng phân loại nói trên, mentor MAAS đóng khung lại nó thành khoảng trống phương pháp, vì mọi nghiên cứu đi trước đều dùng khảo sát, trong khi thiết kế định tính dựa trên phỏng vấn của bạn ấy có thể làm lộ ra những cơ chế mà khảo sát bỏ sót. Biên tập viên thấy cách đóng khung đó thuyết phục hơn nhiều so với câu "chưa ai nghiên cứu chuyện này".

Loại khoảng trống Nó báo hiệu điều gì Cách diễn đạt thường gặp trong bài
Bằng chứng Các nghiên cứu bất đồng khi đem so "Findings on X remain contradictory…"
Tri thức Câu trả lời chưa tồn tại "No study has examined whether…"
Phương pháp Mọi công trình đi trước chung một giới hạn phương pháp "Existing studies rely solely on…"
Thực nghiệm Một khẳng định chưa được kiểm ngoài thực địa "This proposition has not been verified…"
Lý thuyết Một lý thuyết chưa được áp vào vấn đề "Theory Y has not been used to explain…"
Dân số hoặc bối cảnh Một bối cảnh chưa ai nghiên cứu "Evidence from Vietnam is absent…"

Làm sao tìm được khoảng trống trong tài liệu?

Trả lời trực tiếp: Hãy làm có hệ thống, theo cách một đề cương tổng quan chính thức (Tranfield và cộng sự, 2003), nghĩa là chọn một chủ đề hẹp, tìm bằng bộ từ khoá nhất quán, đọc các tổng quan gần đây để thấy những gì đã ngã ngũ, rồi đọc kỹ nghiên cứu gốc để biết chúng chưa làm được gì. Khoảng trống hiện ra từ khuôn mẫu trải trên nhiều bài, không từ một bài lẻ.

Bằng chứng: Cả Elsevier (n.d.) lẫn Springer Nature (n.d.) đều mô tả cùng một trình tự có kỷ luật, đó là thu hẹp chủ đề, tìm rộng, rồi đọc các tổng quan hệ thống trước vì chúng lập bản đồ xu hướng và những lần đổi hệ hình trên cả một lĩnh vực, trước khi bạn dồn thời gian vào các bài nghiên cứu gốc. Một bài tổng quan tài liệu làm tử tế bản thân nó chính là phương pháp để làm lộ ra khoảng trống (Webster và Watson, 2002).

Bản thân các bài tổng quan cũng có nhiều dạng hơn phần lớn nhà nghiên cứu tưởng, và dạng bạn đang đọc quyết định phần hạn chế nó nêu ra đáng tin tới đâu. Grant và Booth (2009) lập danh mục 14 dạng tổng quan khác nhau cùng các phương pháp luận đi kèm, từ tổng quan tường thuật cho tới tổng quan hệ thống đầy đủ và meta-analysis, chính vì giới nghiên cứu cứ dùng một cụm "literature review" cho những công việc khác nhau về phương pháp. Phần hạn chế của một tổng quan nhanh chưa được lập luận chặt bằng phần hạn chế của một tổng quan hệ thống, nên hãy biết mình đang đọc dạng nào trước khi dựng một khoảng trống lên trên nó.

Ví dụ: Một giảng viên được MAAS kèm đã bỏ ra 2 tuần đọc lan man và thấy quá tải. Mentor của cô cấu trúc lại việc tìm kiếm thành một bộ từ khoá duy nhất, mười bài tổng quan gần đây, và một bảng theo dõi mỗi nghiên cứu một dòng. Chỉ trong vài ngày, cũng chính khối tài liệu ấy để lộ ba khoảng trống ứng viên, vì giờ cô đọc để tìm sự vắng mặt chứ không đọc để lấy nội dung.


Khoảng trống ẩn ở chỗ nào trong các bài đã công bố?

Trả lời trực tiếp: Khoảng trống nhanh tìm ra nhất là những chỗ chính tác giả trao cho bạn, nằm đúng ở mục mà chuẩn PRISMA nay buộc mọi tổng quan hệ thống phải có (Page và cộng sự, 2021). Hãy đọc mục hạn chế và mục hướng nghiên cứu tương lai của các bài gần đây, đoạn kết của tổng quan hệ thống, và phần bàn luận nơi tác giả thừa nhận điều họ chưa giải thích nổi.

Bằng chứng: Elsevier (n.d.) chỉ thẳng tác giả tới các mục hạn chế và hướng đi tương lai, nơi nhà nghiên cứu trỏ trực tiếp vào những vùng cần làm thêm. Cochrane Handbook hướng dẫn người làm tổng quan hệ thống viết mục "implications for research" có cấu trúc, phân biệt việc nghiên cứu tương lai nên được làm thế nào với việc cái gì nên được nghiên cứu (Higgins và cộng sự, 2023), và đó là một nguồn khoảng trống đã đặc tả sẵn. Tổng quan hệ thống nay theo một chuẩn báo cáo chung đúng vì lý do này, khi PRISMA 2020 thay cho tuyên bố gốc năm 2009 bằng một danh mục 27 mục trải trên bảy phần, và các mục thuộc phần bàn luận buộc tác giả phải báo cáo hạn chế của bài tổng quan cùng ý nghĩa của những hạn chế ấy với nghiên cứu tương lai (Page và cộng sự, 2021). Chính yêu cầu đó khiến một tổng quan hệ thống được báo cáo tử tế trở thành một trong những chỗ nhanh nhất để tìm ra khoảng trống mà người khác đã gọi tên hộ bạn.

Ví dụ: Một nhà nghiên cứu ngành giáo dục người Việt đọc đoạn hướng nghiên cứu tương lai của ba bài tổng quan gần đây và nhận ra cả ba đều kêu gọi dữ liệu theo chiều dọc trong bối cảnh Đông Nam Á. Chỉ một khuyến nghị lặp lại đó đã thành xương sống cho đề cương của cô, một khoảng trống mà ba nhóm chuyên gia đã ủng hộ bằng văn bản.


Làm sao phân biệt khoảng trống thật với khoảng trống vụn vặt?

Trả lời trực tiếp: Hãy thử mọi khoảng trống ứng viên bằng bốn câu hỏi. Nó có thật không, nghĩa là tài liệu có xác nhận sự vắng mặt đó. Nó nghiên cứu được không bằng dữ liệu và phương pháp trong tầm tay. Nó có quan trọng không, nghĩa là lấp nó vào thì cách nghĩ hoặc cách làm có đổi. Và nó khả thi với riêng bạn không. Trượt một câu thôi thì nó chưa thành dự án.

Bằng chứng: Robinson và cộng sự (2011) đặc tả khoảng trống bằng các yếu tố kiểu PICOS, gồm dân số, can thiệp, so sánh, kết cục và bối cảnh, đúng là để một khoảng trống được nêu đủ cụ thể mà hành động được thay vì để nó trừu tượng. Một khoảng trống bạn không đóng khung nổi bằng những yếu tố cụ thể ấy thường là quá mơ hồ để bảo vệ trước người phản biện. Sandberg và Alvesson (2011) thêm vào một phép thử hữu ích về mức tham vọng. Rà lại 52 bài báo đã công bố trong ngành nghiên cứu tổ chức, họ thấy phần lớn nhà nghiên cứu dựng câu hỏi nghiên cứu của mình bằng cách bắt khoảng trống, tức trỏ vào cái mà tài liệu hiện có chưa phủ tới, thay vì bằng nước đi khó hơn là vấn đề hoá, tức chất vấn chính một giả định mà tài liệu hiện có đang dựa vào. Một câu hỏi bắt khoảng trống bảo vệ được đã vượt qua ngưỡng của một bài báo công bố được. Gọi tên được giả định mà cả một dòng nghiên cứu mặc nhiên chấp nhận, khi bạn bảo vệ nổi nó, thì vượt qua một ngưỡng cao hơn.

Ví dụ: Một nghiên cứu sinh ngành tài chính có một câu hỏi thật sự chưa ai nghiên cứu, nhưng nó đòi dữ liệu giao dịch độc quyền mà bạn ấy không bao giờ có được. Mentor MAAS đánh dấu nó là có thật và quan trọng nhưng không khả thi, rồi giúp bạn ấy chuyển sang một khoảng trống liền kề trả lời được bằng dữ liệu thị trường công khai. Chính tính khả thi, chứ không phải riêng tính mới, quyết định dự án.


Làm sao biến khoảng trống thành câu hỏi và phát biểu nghiên cứu?

Trả lời trực tiếp: Hãy chuyển khoảng trống thành một phát biểu chính xác rồi thành một câu hỏi nghiên cứu, đúng bước đi hai nhịp mà định dạng EPICOT trong Cochrane Handbook hình thức hoá (Higgins và cộng sự, 2023). Phát biểu nêu cái đang thiếu và vì sao nó quan trọng, còn câu hỏi làm cho nó trả lời được. Hãy đi từ "người ta còn biết ít về X" sang một câu hỏi kiểm định được.

Bằng chứng: Springer Nature (n.d.) viết rằng "research gaps are unexplored or underexplored areas in existing knowledge that can guide you in shaping original, relevant, and impactful research" (Springer Nature, n.d.), nghĩa là khoảng trống nghiên cứu là những vùng chưa hoặc còn ít được khám phá trong tri thức hiện có, và chúng dẫn đường cho bạn định hình một nghiên cứu nguyên bản, sát vấn đề và có tác động. Nói cách khác, khoảng trống phải nối thẳng với câu hỏi mà nó sinh ra. Định dạng EPICOT được khuyến nghị trong Cochrane Handbook (Higgins và cộng sự, 2023) cho thấy một khuyến nghị nghiên cứu viết chuẩn đã chứa sẵn mầm của một câu hỏi kiểm định được.

Ví dụ: Một khách hàng của MAAS viết "cần nghiên cứu thêm về ngân hàng số". Mentor dẫn bạn ấy đi qua bước chuyển đổi, gồm phát biểu khoảng trống là chưa nghiên cứu nào kiểm niềm tin với vai trò biến trung gian cho người dùng Việt lớn tuổi, rồi câu hỏi nghiên cứu là liệu niềm tin cảm nhận có trung gian hoá việc chấp nhận ngân hàng số ở người dùng trên 50 tuổi tại Việt Nam hay không. Câu hỏi đó gần như đã viết hộ chương phương pháp của bạn ấy.


Khoảng trống nghiên cứu làm mạnh một bài nộp Scopus ra sao?

Trả lời trực tiếp: Một khoảng trống phát biểu rõ ràng là thứ biên tập viên và người phản biện quét tìm đầu tiên, đúng tín hiệu mà Webster và Watson (2002) xác định là công việc thật của bài tổng quan tài liệu. Nó biện minh vì sao nghiên cứu của bạn đáng chiếm chỗ trên tạp chí, đóng khung đóng góp trong một câu, và cho thấy bạn hiểu cuộc đối thoại mà bài mình đang tham gia.

Bằng chứng: Biên tập viên áp bộ lọc về phạm vi và về đóng góp trước cả vòng bình duyệt, nên một bài không nói nổi khoảng trống của mình sẽ chật vật ngay ở khâu sàng lọc của toà soạn, bất kể chất lượng dữ liệu. Webster và Watson (2002) lập luận rằng công việc của một bài tổng quan tài liệu là phơi ra khoảng trống làm động cơ cho nghiên cứu, cũng chính logic mà biên tập viên áp dụng khi phán đoán tính nguyên bản. Và bài mô tả là loại bị từ chối ngay tại bàn biên tập nhiều nhất.

Ví dụ: Bài nộp đầu tiên của một nhà nghiên cứu Việt Nam bị trả về với lời phê "đóng góp không rõ". Làm việc cùng mentor MAAS theo mô hình Outline → Draft → Final, bạn ấy viết lại phần mở đầu quanh một phát biểu khoảng trống duy nhất có bằng chứng chống lưng và câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Bản nộp lại vượt qua vòng sàng lọc của toà soạn, vẫn cùng nghiên cứu đó, chỉ khác là khoảng trống đã hiện rõ.


Ghép các khung lại với nhau

Trả lời trực tiếp: Mỗi khung xử lý một phần của việc tìm khoảng trống. Hãy gọi tên loại theo sáu hoặc bảy nhóm, đặc tả nó bằng các yếu tố PICOS, kiểm xem bạn đang đọc dạng tổng quan nào trước khi tin vào phần hạn chế nó nêu, tìm tài liệu qua một đề cương tường minh, và cuối cùng thử mức tham vọng của chính mình.

Đồ hoạ quy trình gồm năm bước tuần tự để xác định khoảng trống nghiên cứu, gồm gọi tên loại, đặc tả bằng các yếu tố PICOS, kiểm dạng tổng quan, tìm tài liệu theo đề cương, rồi thử mức tham vọng
Không khung nào trong năm khung thay được các khung còn lại, mỗi khung phủ một phần khác nhau của việc tìm khoảng trống

Mỗi khung nói trên trả lời một phần khác nhau của cùng một bài toán, và không khung nào thay được các khung còn lại. Hãy gọi tên loại khoảng trống trước, theo sáu nhóm (Müller-Bloch và Kranz, 2015) hoặc theo bản bảy loại nếu sáu nhóm còn quá thô với ngành của bạn (Miles, 2017). Khi đã có một cái nhãn, hãy đặc tả nó bằng các yếu tố PICOS cụ thể để người phản biện thấy chính xác cái gì đang thiếu (Robinson và cộng sự, 2011). Trước khi tin vào phần hạn chế mà một bài tổng quan nêu ra, hãy biết mình đang đọc dạng tổng quan nào (Grant và Booth, 2009), vì một tổng quan nhanh và một tổng quan hệ thống đầy đủ giành lấy niềm tin đó theo những cách khác nhau. Hãy tìm và thẩm định tài liệu qua một đề cương tường minh, kiểm toán lại được, thay vì làm theo kiểu cơ hội, đây là hướng mà giới nghiên cứu quản trị nói riêng đã hội tụ về (Tranfield và cộng sự, 2003). Cuối cùng, hãy thử mức tham vọng của chính mình, vì một câu hỏi bắt khoảng trống bảo vệ được vẫn là một bài báo chính danh, còn gọi tên một giả định mà cả một dòng nghiên cứu mặc nhiên chấp nhận là nước đi khó hơn và được trích dẫn nhiều hơn (Sandberg và Alvesson, 2011).


Câu hỏi thường gặp

Xác định một khoảng trống nghiên cứu vững mất bao lâu?
Với một nhà nghiên cứu tập trung, đọc các bài tổng quan gần đây và nghiên cứu gốc có hệ thống, một khoảng trống bảo vệ được thường hiện ra trong vòng 2 tới 4 tuần. Vội vàng ở khâu này là nguyên nhân thường gặp nhất dẫn tới một nghiên cứu thiếu tiêu điểm, nên thời gian đầu tư sớm sẽ tiết kiệm hàng tháng về sau.

Khoảng trống nghiên cứu có phải là câu hỏi nghiên cứu không?
Không, và định dạng EPICOT của Cochrane Handbook giữ hai thứ này tách bạch có chủ đích (Higgins và cộng sự, 2023). Khoảng trống là sự vắng mặt trong tri thức, còn câu hỏi nghiên cứu là câu hỏi trả lời được mà bạn thiết kế ra để lấp nó. Bạn xác định khoảng trống trước, rồi mới chuyển nó thành một câu hỏi chính xác, kiểm định được, đủ sức dẫn dắt phương pháp.

Tôi có thể dùng công cụ AI để tìm khoảng trống nghiên cứu không?
AI có thể giúp bạn tóm tắt và gom cụm tài liệu, nhưng bạn phải kiểm chứng từng nguồn và từng khẳng định nó tạo ra, đồng thời tuân thủ quy định công bố thông tin của trường và của tạp chí đích. Hãy coi AI như một trợ lý tìm kiếm mà đầu ra cần được bạn kiểm lại, không bao giờ coi nó là nguồn chân lý về việc tài liệu có hay không có gì.

Nếu ai đó đã nghiên cứu khoảng trống của tôi rồi thì sao?
Đó là tin tốt được phát hiện sớm. Hãy tinh chỉnh khoảng trống bằng danh sách loại nói trên (Müller-Bloch và Kranz, 2015), vì thường vẫn còn lại một nhóm dân số khác, một phương pháp khác, một bối cảnh khác, hoặc một sự thiếu nhất quán chưa được giải quyết. Một khoảng trống sống sót qua một lần tìm kỹ mạnh hơn nhiều so với một khoảng trống bạn chưa bao giờ đem thử với tài liệu.

Tôi có cần làm tổng quan hệ thống mới tìm được khoảng trống không?
Không, nhưng đọc các tổng quan hệ thống sẵn có là con đường nhanh nhất, vì tác giả của chúng đã lập bản đồ lĩnh vực và viết sẵn những khuyến nghị nghiên cứu tương lai tường minh mà bạn dựng tiếp lên được, với điều kiện bạn xác nhận trước rằng bài đó thật sự là tổng quan hệ thống chứ không phải một dạng hẹp hơn khoác tên ấy (Grant và Booth, 2009).

MAAS có giúp tôi xác định khoảng trống nghiên cứu không?
Có. MAAS Publishing Advisory kèm nhà nghiên cứu Việt Nam đi qua phân tích khoảng trống, lập bản đồ tài liệu, phân loại loại khoảng trống, và chuyển nó thành câu hỏi nghiên cứu, theo mô hình từng giai đoạn với mentor trình độ PhD. Đặt lịch tư vấn qua trang liên hệ của chúng tôi.


Sẵn sàng tìm một khoảng trống đáng công bố?

MAAS Publishing Advisory ghép bạn với một mentor trình độ PhD, 23% chuyên gia của chúng tôi có học vị tiến sĩ, cho một buổi tư vấn 20 phút miễn phí, ghép trong vòng 48 giờ khi mạng lưới đã phủ ngành của bạn hoặc khoảng 2 tuần nếu chưa, kèm mục tiêu điểm ba bậc Pass, Merit hoặc Distinction và 45 ngày hỗ trợ tiếp nối sau khi nộp bài.

Xác định đúng khoảng trống nghiên cứu là bước có đòn bẩy cao nhất trong cả quá trình nghiên cứu, và nó dễ hơn nhiều khi có một mentor từng công bố và từng phản biện cho các tạp chí Scopus. MAAS Publishing Advisory ghép bạn với một mentor trình độ PhD, 23% chuyên gia của chúng tôi có học vị tiến sĩ, cho một buổi tư vấn 20 phút miễn phí, ghép bạn với đúng cố vấn trong vòng 48 giờ khi mạng lưới đã phủ ngành đó, hoặc khoảng 2 tuần nếu MAAS phải mở đợt tuyển riêng, và cùng bạn đặt mục tiêu điểm ba bậc Pass, Merit hoặc Distinction ngay từ đầu cùng 45 ngày hỗ trợ tiếp nối sau khi nộp bài. Chúng tôi kèm, còn bạn vẫn là tác giả ở từng bước.

Đặt buổi tư vấn Publishing Advisory với MAAS Academic Mentoring →


Bài liên quan


Tools & resources


Tài liệu tham khảo


Bài viết này thuộc chuỗi MAAS Journal dành cho học viên cao học và nhà nghiên cứu Việt Nam đang học tập ở nước ngoài. MAAS Publishing Advisory là đối tác tư vấn, chúng tôi kèm tác giả theo mô hình giao việc từng giai đoạn với phản hồi phát triển từ những mentor trình độ PhD đã công bố trên Scopus. Chúng tôi không viết, không nộp bài, và không cam kết bài được chấp nhận thay cho tác giả.

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.