Skip to content
Quay lại BlogPhD Admissions

Tìm giáo sư hướng dẫn tiến sĩ hợp hướng nghiên cứu bằng cách nào?

15 phút đọc2,978 từNEW

Chuyên mục: admissions

Cập nhật lần cuối: 2026-09-05

Một nhà nghiên cứu đang đọc bài báo khoa học tại bàn làm việc
Ảnh minh hoạ

Phần lớn ứng viên coi việc tìm giáo sư hướng dẫn là một việc tra cứu. Mở trang danh bạ giảng viên của khoa, lướt qua các hồ sơ, chọn người có phần giới thiệu nghe gần với mình nhất, rồi viết thư cho người đó. Bước này trông như phần rẻ tiền nhất của cả bộ hồ sơ nên nó thường chỉ được cho một buổi chiều.

Trả lời thẳng: Thứ dự báo rắc rối về sau không phải là bạn chọn tên nào, mà là bạn đã có bao nhiêu tên để chọn. Trong một khảo sát 1.796 nghiên cứu sinh, 11% cho biết họ chọn người hướng dẫn vì không còn giảng viên nào khác làm về đề tài đó, và chính nhóm này báo cáo nhiều khó khăn hơn cùng mức tự tin thấp hơn về buổi bảo vệ (Pavliuk & Zhuchkova, 2025).

Vậy nên tìm giáo sư hướng dẫn thực chất là việc dựng một danh sách nhiều tên, và danh sách đó sinh ra từ tài liệu chứ không sinh ra từ danh bạ.

Từ phát hiện đó có hai hệ quả. Tên đến từ các bài báo chứ không đến từ trang hồ sơ giảng viên. Và một danh sách chỉ có một tên là một kết quả đáng cảnh giác chứ không phải một quyết định đã xong.

Cơ sở dữ liệu nào thật sự tìm ra người theo chủ đề?

Trả lời thẳng: Các cơ sở dữ liệu tài liệu làm được việc đó, vì chúng lập chỉ mục theo thứ người ta đã viết. Danh bạ của trường thì không, vì nó lập chỉ mục theo nơi người ta đang làm việc. Hãy bắt đầu từ Google Scholar, Scopus, Web of Science, PubMed hoặc arXiv, tìm bằng chính câu hỏi của bạn, rồi lấy dòng tác giả của 15 tới 20 bài gần nhất làm danh sách thô.

Hãy đặt đường đi đó cạnh đường đi qua danh bạ. University of Glasgow, kiểm ngày 5 tháng 9 năm 2026, đăng danh mục cơ hội nghiên cứu sau đại học dưới dạng bảng chữ cái các nhóm ngành, chạy từ Accounting and Finance tới Veterinary Medicine, và mở thêm một lối riêng biệt tên là "Staff research interests search". Chính cấu trúc đó đã nói thật về độ phân giải của nó. Một nhóm ngành như Psychology and Neuroscience chứa hàng trăm câu hỏi khác nhau, và danh bạ không cho bạn biết năm nay ai đang làm câu hỏi nào trong số đó.

Danh mục tài liệu tham khảo của chính bạn là một bộ chỉ mục tốt hơn mọi danh bạ, bởi vì nó đã được lọc sẵn theo mức liên quan. Nếu một bài báo gần với câu hỏi của bạn tới mức bạn phải trích nó, thì tác giả của bài đó đương nhiên là ứng viên. Đây là chiều ngược với thói quen thông thường, vốn đi từ trường tới người rồi mới tới đề tài. Hãy chạy theo chiều đề tài trước, người sau, trường cuối, rồi chuyện địa lý sẽ tự xếp chỗ.

Biến hướng nghiên cứu thành từ khoá tìm kiếm thế nào?

Trả lời thẳng: Hãy viết câu hỏi ở mức có biến số, có nhóm đối tượng và có phương pháp, chứ đừng viết ở mức tên ngành. Cụm "học máy trong y tế" kéo về hàng chục nghìn tác giả và không tách được ai, còn cụm "mô hình diễn giải được để phát hiện sớm bệnh tim mạch trên dữ liệu lâm sàng dài hạn" kéo về một nhóm đủ nhỏ để đọc hết trong một tuần.

Phép thử cho một chuỗi tìm kiếm tốt là nó trả về một tập bạn đọc xong trong một tuần. Nếu truy vấn trả về 40.000 kết quả thì truy vấn đó đang mô tả một ngành, mà một ngành thì không hướng dẫn ai cả. Bài thu hẹp hướng nghiên cứu tiến sĩ của MAAS nói về việc mài sắc đó, vốn phải làm xong trước khi bắt đầu tìm người, vì cuộc tìm kiếm này thừa hưởng đúng độ sắc mà câu hỏi nghiên cứu đang có.

Hãy giữ nguyên lớp thuật ngữ của chính các bài báo. Mỗi ngành gọi cùng một đối tượng bằng một cái tên khác nhau, và cái tên mà nhóm bạn muốn gia nhập đang dùng mới là cái tên kéo họ về.

Danh sách nên có bao nhiêu người?

Trả lời thẳng: Đủ nhiều để không một lá hồi âm nào một mình quyết định kết cục. Bằng chứng hiện có không chốt một con số, nhưng nó chỉ ra rõ chỗ hỏng khi danh sách quá mỏng, đó là tình huống "không còn lựa chọn nào khác", vốn gắn với cả việc gặp nhiều khó khăn trong tương tác lẫn mức tự tin thấp hơn về buổi bảo vệ (Pavliuk & Zhuchkova, 2025).

Ba con số từ khảo sát 1.796 nghiên cứu sinh: 64% chọn theo uy tín và chuyên môn đúng đề tài luận án, 32% chọn theo thành tích đã có nghiên cứu sinh bảo vệ thành công, và 11% chọn vì không còn giảng viên nào khác làm về đề tài đó
Khảo sát 1.796 nghiên cứu sinh tại Nga, năm 2022 (Pavliuk & Zhuchkova, 2025).

Nghiên cứu đó khảo sát 1.796 nghiên cứu sinh trên toàn nước Nga năm 2022, gồm 25% thuộc khối khoa học xã hội, 23% khối công nghệ, 23% khối khoa học tự nhiên và toán, 17% khối nhân văn và 12% khối khoa học giáo dục. Người trả lời được chọn nhiều tiêu chí cùng lúc. Uy tín và chuyên môn đúng đề tài luận án được 64% nêu ra, mức trùng khớp hướng nghiên cứu được 59% nêu, nhận xét tốt từ nghiên cứu sinh hoặc giảng viên khác được 40% nêu, trải nghiệm làm việc tốt trước đó với chính người này được 40% nêu, thành tích đã có nghiên cứu sinh bảo vệ thành công được 32% nêu, số bài báo và số lần báo cáo hội thảo được 25% nêu, quan hệ thân quen được 25% nêu, và việc không còn giảng viên nào khác làm về đề tài đó được 11% nêu.

Hãy để ý các con số này không cộng lại thành 100%. Vì Pavliuk và Zhuchkova (2025) cho phép chọn nhiều đáp án nên tổng 8 lựa chọn ở trên vượt xa 100%, nghĩa là phần lớn người trả lời vốn đã phối hợp nhiều tiêu chí chứ không chỉ dựa vào một tiêu chí. Phép phân tích thành phần chính rút 8 lựa chọn đó về bốn chiến lược, giải thích được 74% phương sai, gồm chuyên môn đúng đề tài, lịch sử hướng dẫn thành công, quan hệ cá nhân tốt, và "không còn lựa chọn nào khác" (Pavliuk & Zhuchkova, 2025). Hai chiến lược đầu cho kết quả tốt nhất, khi chọn theo chuyên môn đúng đề tài làm giảm mức thiếu tự tin 0,18 trên mỗi đơn vị chuẩn hoá và chọn theo lịch sử hướng dẫn làm giảm 0,06, còn tình huống không còn lựa chọn nào khác thì đẩy cả hai chỉ số theo chiều xấu.

Một chi tiết nữa của mẫu năm 2022 đáng mang theo, đó là 71% trong số 1.796 người trả lời đang học ở diện không đóng học phí, nên phần lớn họ chọn người hướng dẫn bên trong một hệ đã có tài trợ chứ không phải dùng tiền để đi vòng qua chỗ khan hiếm người hướng dẫn.

Có hai giới hạn nên nói thẳng. Mẫu này thuộc một hệ thống quốc gia có quy tắc phân công riêng, và thứ được đo là mức khó khăn cùng mức tự tin do chính người học tự báo cáo, chứ không phải tỷ lệ hoàn thành hay kết quả bảo vệ. Phần chuyển được sang bối cảnh khác là hình dạng của phát hiện, rằng số phương án khả thi mà một nghiên cứu sinh đang nắm tự nó là một biến số chứ không phải một điều kiện nền.

Vì sao trang hồ sơ giảng viên là bằng chứng yếu nhất bạn có?

Trả lời thẳng: Vì nó được viết ra để thuyết phục. Marder và cộng sự (2021) phỏng vấn sâu 19 người về việc chọn người hướng dẫn ở các trường kinh doanh tại Vương quốc Anh và thấy trang hồ sơ vận hành như một công cụ quản trị ấn tượng, với phán đoán xếp thành thứ bậc tăng dần, đi từ nhóm thuộc tính sàng lọc tới năng lực chuyên môn rồi tới sự ấm áp.

Công trình đó đăng trên The International Journal of Management Education năm 2021, tập 19, số 1, và là một trong số ít nghiên cứu soi vào chính quá trình đánh giá thay vì soi vào mối quan hệ diễn ra sau đó. Cũng nghiên cứu này dựng một bảng phân loại bốn khuôn mẫu mà ứng viên đọc ra từ trang hồ sơ, đặt tên là The Guru, The Friend, The Machine và The Dud, kèm cái đánh đổi sinh ra chúng, rằng ứng viên có xu hướng đọc người năng lực cao là người lạnh lùng hơn và đọc người ấm áp là người kém năng lực hơn. Marder và cộng sự (2021) cũng ghi lại lý do phán đoán của ứng viên nặng ký tới vậy, khi mô tả rằng ở các trường kinh doanh "cách phân công phổ biến nhất là để sinh viên tự chọn". Trang bạn đang đọc do chính người bạn đang đánh giá viết ra, với mục đích thu hút bạn.

Ở nơi việc chọn diễn ra theo cách đó, toàn bộ sức nặng của vòng lọc đầu tiên dồn lên một văn bản mà ứng viên tự viết về mình. Các công bố gần đây yếu hơn với vai trò tự giới thiệu nhưng mạnh hơn với vai trò bằng chứng, vì chúng đã qua tay những người không có lợi ích gì trong việc tuyển bạn. Đó cũng là lý do lộ trình ứng tuyển tiến sĩ của MAAS lọc ứng viên bằng 2 tới 3 công bố gần nhất chứ không lọc bằng trang tiểu sử.

Có thêm hai phép kiểm mang tính cơ học. Ở nhiều ngành, tác giả đứng cuối của một bài báo là người hướng dẫn còn tác giả đứng đầu là nghiên cứu sinh, nhưng quy ước xếp tên khác nhau giữa các ngành đủ nhiều để bạn phải mở trang nhóm nghiên cứu ra kiểm thay vì suy đoán. Và một bài báo cách đây sáu năm chỉ cho biết nhóm đó từng ở đâu, nên hãy cho công bố mới nhất trọng số cao nhất.

Kiểm những gì trước khi một cái tên thành mục tiêu?

Trả lời thẳng: Ba thứ không liên quan gì tới mức hợp hướng, gồm người đó có được nhận nghiên cứu sinh trong kỳ này không, có nguồn tài trợ cho vị trí đó không, và công việc hiện tại của họ có còn chạm vào câu hỏi của bạn không. Một cái tên trượt bất kỳ điều nào trong ba điều đó thì chưa phải một đầu mối.

Dòng nghiên cứu về việc chọn người hướng dẫn liên tục vươn ra ngoài phạm vi trùng khớp đề tài. Shafiq và cộng sự (2020) khảo sát 315 sinh viên nghiên cứu tại Malaysia trong khoảng từ tháng tám tới tháng mười năm 2018, gồm 194 nữ và 121 nam, và mô hình đã kiểm định của họ rút về ba cấu trúc, gồm đặc điểm nhân khẩu của người hướng dẫn, chuyên môn của họ, và diện mạo bên ngoài của họ, với phần phân tích nhân tố khẳng định chạy trên một mẫu kiểm chứng 158 người. Phần điểm lại tài liệu của họ nêu thẳng lý do phải cân nhắc việc người hướng dẫn còn nghiên cứu hay không: "nếu người hướng dẫn không còn là một nhà nghiên cứu đang hoạt động thì gánh nặng đạt các chỉ tiêu nghiên cứu dồn hết sang phía người được hướng dẫn" (Shafiq và cộng sự, 2020, tr. 290). Cấu trúc chuyên môn cho phương sai trích trung bình 0,41, con số mà chính nhóm tác giả đã nêu ra, nên mô hình này nên được đọc như một bản đồ về thứ ứng viên cân nhắc chứ không phải một bảng chấm điểm.

Bài của họ nằm từ trang 285 tới trang 304 thuộc tập 15 của International Journal of Doctoral Studies, xuất bản năm 2020. Chuyện người hướng dẫn còn chỗ hay không nằm hoàn toàn bên ngoài mô hình đó, mà đây lại là phép kiểm hay trượt nhất. Bài một người hướng dẫn nhận được bao nhiêu nghiên cứu sinh của MAAS nói về chỗ đặt cái trần đó hiện nay, còn bài ai thật sự quyết suất học bổng tiến sĩ lo phép kiểm thứ hai.

MAAS làm phần nào, và dừng ở đâu?

Trả lời thẳng: MAAS cùng bạn dựng và bảo vệ danh sách rút gọn, đi từ 20 tới 30 khoa ứng viên xuống một bảng định vị 12 tới 15 giáo sư. Phần đọc tài liệu đứng sau danh sách và bản nháp thư cho từng giáo sư là những phần một người cố vấn gánh được. Quyền quyết định vẫn thuộc về bạn, và mọi lá thư đều gửi từ hộp thư của bạn.

Dịch vụ Chiến lược và triển khai hồ sơ tiến sĩ đi từ hướng nghiên cứu của bạn ra ngoài, và MAAS không bao giờ viết thư cho giáo sư dưới danh nghĩa của bạn hay nộp hồ sơ thay bạn. Về việc ghép bạn với một cố vấn của MAAS thì có hai nhánh, khi mạng lưới đã sẵn người phù hợp thì việc ghép hoàn tất trong vòng 48 giờ, còn khi chưa có thì MAAS mở một đợt tuyển riêng, thường mất khoảng hai tuần. Không có cam kết nào về kết quả, vì quyền quyết định thuộc về khoa.

Câu hỏi thường gặp

Nên viết thư cho tác giả đứng đầu hay tác giả đứng cuối của bài báo mình thích?
Hãy mở trang nhóm nghiên cứu ra kiểm thay vì suy đoán. Ở nhiều ngành thực nghiệm, tác giả đứng cuối là người dẫn nhóm và là người hướng dẫn, còn tác giả đứng đầu thường chính là nghiên cứu sinh đã làm phần việc đó. Ở những ngành xếp tên theo thứ tự bảng chữ cái, vị trí không mang thông tin nào cả.

Nếu công việc gần đây của giáo sư đã rời xa bài báo mình thích thì sao?
Khi đó họ là ứng viên yếu hơn mức mà bài báo gợi ra. Hãy cho 2 tới 3 công bố mới nhất trọng số cao nhất, vì người ta nhận hướng dẫn theo thứ đang làm chứ không theo thứ đã công bố sáu năm trước.

Cả thế giới chỉ có đúng một người làm về đề tài của tôi thì có sao không?
Đó là tín hiệu để mở rộng câu hỏi chứ không phải lý do để đi tiếp. Nhóm nghiên cứu sinh chọn người hướng dẫn vì không có phương án nào khác báo cáo nhiều khó khăn hơn và ít tự tin hơn nhóm chọn theo tiêu chí học thuật (Pavliuk & Zhuchkova, 2025).

Số lượng công bố của người hướng dẫn có quan trọng không?
Ít quan trọng hơn ứng viên vẫn tưởng. Trong khảo sát tại Nga, số bài báo và số lần báo cáo hội thảo chỉ được 25% người trả lời nêu ra, trong khi uy tín và chuyên môn đúng đề tài luận án được 64% nêu (Pavliuk & Zhuchkova, 2025).

Một công bố phải mới tới mức nào thì mới tính?
Hãy lấy 2 tới 3 công bố gần nhất làm bằng chứng và coi những gì cũ hơn khoảng 5 năm là phần nền. Nhóm nghiên cứu chuyển chỗ, tài trợ kết thúc, và một bài năm 2019 có thể đang mô tả một dự án đã đóng từ năm 2021.

Có nên tiếp cận nhiều giáo sư trong cùng một trường không?
Trong cùng một khoa thì nên đi lần lượt từng người, còn các ứng viên song song thì để ở những trường khác nhau. Khoa thường nhỏ, nên việc tiếp cận cùng lúc nhiều đồng nghiệp là chuyện dễ lộ.

Bài liên quan của MAAS

References

Marder, B., Oliver, S., Yau, A., Lavertu, L., Perier, C., Frank, M., & Cowan, K. (2021). Impression formation of PhD supervisors during student-led selection: An examination of UK business schools with a focus on staff profiles. The International Journal of Management Education, 19(1), 100453. https://doi.org/10.1016/j.ijme.2021.100453

Pavliuk, D., & Zhuchkova, S. (2025). Choosing to succeed? Insights into doctoral students' supervisor selection and its outcomes. PLOS ONE, 20(7), e0328471. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0328471

Shafiq, A., Pahlevan Sharif, S., & Jan, A. (2020). Psychometric analysis of a proposed model to determine factors influencing selection of a research supervisor. International Journal of Doctoral Studies, 15, 285–304. https://doi.org/10.28945/4567

Tools & resources

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.