◆ Ứng tuyển tiến sĩ
Một giảng viên được hướng dẫn tối đa bao nhiêu nghiên cứu sinh?
Trả lời thẳng: Một giảng viên được hướng dẫn tối đa bao nhiêu nghiên cứu sinh ở Việt Nam? Theo Thông tư 18/2021, giáo sư hướng dẫn tối đa 7, phó giáo sư hoặc tiến sĩ khoa học 5, người có bằng tiến sĩ 3. Từ khóa tuyển sinh 2027, Thông tư 53/2026 dẫn tới tỷ lệ 8, 6 và 3, theo Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026a). Đồng hướng dẫn một nghiên cứu sinh tính 0,5.

◆ Câu hỏi 1 / 8 · Quy định hiện hành
Một giảng viên được hướng dẫn tối đa bao nhiêu nghiên cứu sinh theo quy định hiện hành?
Trả lời thẳng: Con số phụ thuộc vào ngày nghiên cứu sinh nhập học. Người nhập học trước ngày 1 tháng 1 năm 2027 vẫn theo Thông tư 18/2021, với mức 7 cho giáo sư, 5 cho phó giáo sư và 3 cho người có bằng tiến sĩ. Đợt tuyển sinh công bố từ ngày đó theo Thông tư 53/2026, trong đó Điều 17 khoản 4 vẫn giữ một mức trần.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021) ghi mức cũ tại Điều 6 khoản 2 của Thông tư 18/2021/TT-BGDĐT: "Tại cùng một thời điểm, người có chức danh giáo sư được hướng dẫn độc lập tối đa 07 nghiên cứu sinh". Cùng khoản đó quy định phó giáo sư hoặc tiến sĩ khoa học được 5, người có bằng tiến sĩ được 3, và đồng hướng dẫn một nghiên cứu sinh được tính bằng 0,5.
Thông tư 53/2026/TT-BGDĐT thay thế văn bản này. Thông tư ký ngày 30 tháng 6 năm 2026, đăng Công báo số 447 ngày 28 tháng 7 năm 2026, áp dụng cho tuyển sinh thạc sĩ và tiến sĩ công bố từ ngày 1 tháng 1 năm 2027, còn người đã nhập học trước đó theo Điều 34 khoản 1 vẫn thuộc quy chế 2021, theo Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026b). Điều 17 khoản 4 viết: "Một giảng viên hướng dẫn số lượng nghiên cứu sinh đối với từng ngành đào tạo trình độ tiến sĩ không vượt quá số lượng tối đa quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về xác định số lượng tuyển sinh trình độ tiến sĩ ở cùng một thời điểm". Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026a) đặt mức tối đa đó ở Điều 5 khoản 1 điểm c của Thông tư 34/2026/TT-BGDĐT: 8 nghiên cứu sinh cho mỗi giáo sư, 6 cho mỗi phó giáo sư hoặc tiến sĩ khoa học, 3 cho mỗi người có bằng tiến sĩ. Việc hiểu các tỷ lệ này cũng là mức trần cá nhân là cách đọc của chúng tôi từ điều khoản dẫn chiếu, vì thông tư không nói thẳng như vậy, nên bạn cần xác nhận lại với khoa.
| Quy định | Thông tư 18/2021 | Thông tư 53/2026 đọc cùng Thông tư 34/2026 |
|---|---|---|
| Giáo sư | 7 | 8 |
| Phó giáo sư hoặc tiến sĩ khoa học | 5 | 6 |
| Người có bằng tiến sĩ | 3 | 3 |
| Đồng hướng dẫn một nghiên cứu sinh | tính 0,5 | tính 0,5 |
| Số người hướng dẫn mỗi nghiên cứu sinh | 1 hoặc 2 | 1 hoặc 2 |
| Áp dụng cho | người nhập học trước ngày 1 tháng 1 năm 2027 | tuyển sinh công bố từ ngày 1 tháng 1 năm 2027 |
Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021, Điều 5-6; 2026a, Điều 5; 2026b, Điều 2, 17, 34), tra cứu ngày 2026-10-31.
◆ Câu hỏi 2 / 8 · Năng lực của khoa
Tỷ lệ 8, 6 và 3 của Bộ trở thành năng lực của một khoa như thế nào?
Trả lời thẳng: Phụ lục I của Thông tư 34/2026 tính năng lực đào tạo tiến sĩ bằng 3 cho mỗi người có bằng tiến sĩ, 6 cho mỗi phó giáo sư và 8 cho mỗi giáo sư. Chỉ tiêu tối đa bằng năng lực trừ đi ba phần tư quy mô hiện có, nên một khoa có thể đã đầy chỗ trong khi từng giáo sư vẫn trông như còn dư.
Công thức nằm ở Bảng 1D của Phụ lục I, được Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026a) đăng trên Công báo ngày 10 tháng 5 năm 2026: năng lực bằng số người có bằng tiến sĩ nhân 3, cộng số phó giáo sư nhân 6, cộng số giáo sư nhân 8, còn chỉ tiêu tối đa bằng năng lực trừ quy mô đang học nhân ba phần tư. Hệ số ba phần tư gợi ra một chu kỳ khoảng bốn năm, đây là suy luận của chúng tôi chứ không phải con số phụ lục nêu.
Một ví dụ minh họa cho thấy tác động. Giả sử một ngành có 2 giáo sư, 3 phó giáo sư và 4 người có bằng tiến sĩ. Năng lực của ngành là 2 × 8 + 3 × 6 + 4 × 3 = 46. Nếu đang có 40 nghiên cứu sinh thì ba phần tư của 40 là 30, nên ngành được nhận tối đa 16. Thêm 6 nghiên cứu sinh đang học nữa thì mức tối đa giảm còn 46 − 34,5 = 11,5. Ví dụ này do chúng tôi dựng từ công thức của thông tư, không ám chỉ khoa nào có thật.
Có hai chi tiết giới hạn ai được tính. Theo Điều 3 khoản 6, giảng viên được tính vào chỉ tiêu tiến sĩ phải đạt chuẩn hướng dẫn và có hợp đồng toàn thời gian từ 3 năm trở lên với cơ sở đào tạo. Số liệu quy mô được chốt vào ngày cuối năm, cơ sở cập nhật dữ liệu trước ngày 30 tháng 1 và báo cáo chỉ tiêu trước ngày 28 tháng 2 theo Điều 6, rồi điều chỉnh được công bố lại trước ngày 31 tháng 5 theo Điều 7, theo Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026a). Vì vậy chỗ trống ở một người hướng dẫn là con số theo mùa, không phải đặc điểm cố định của người đó. Riêng đợt 2026 còn dùng cách tính cũ.
◆ Câu hỏi 3 / 8 · Anh và Pháp
Việt Nam khác gì so với Anh và Pháp?
Trả lời thẳng: Việt Nam đặt một con số quốc gia theo chức danh, còn Anh và Pháp để từng cơ sở tự đặt. Taylor (2021) thấy 59 trong 70 cơ sở ở Anh có giới hạn trung tâm đặt mức từ sáu đến tám đơn vị toàn thời gian. Các trường đào tạo tiến sĩ ở Pháp tự đặt mức riêng, như 5 ở Grenoble và 4 ở Perpignan.
Taylor (2021) tìm tài liệu công khai của 143 cơ sở ở Anh vào tháng 1 và tháng 2 năm 2021. Trong đó 45 cơ sở không nêu giới hạn, 28 để giới hạn cho từng khoa hoặc trường thành viên, và 70 công bố giới hạn trung tâm. Trong 20 cơ sở giới hạn mọi người hướng dẫn theo đơn vị toàn thời gian, 18 chọn mức sáu. Nhìn chung 59 trong 70 cơ sở, tức 84%, nằm trong khoảng sáu đến tám, và 7 cơ sở đặt cao hơn tám.
Giới hạn công bố và khối lượng thực tế vẫn có thể lệch nhau. Trong Khảo sát Hướng dẫn nghiên cứu Vương quốc Anh 2024, thu về 5.174 phản hồi hợp lệ từ người hướng dẫn tại 141 cơ sở, UK Council for Graduate Education (2024) ghi nhận người hướng dẫn trung bình có 5,5 nghiên cứu sinh tổng cộng và 3,1 với vai trò hướng dẫn chính (n = 1.314). Khoảng 30% cho biết không biết giới hạn nào và 34% không chắc. Trong số người biết có chính sách, chỉ 29% nói chính sách luôn được tuân thủ. Báo cáo viết: "While 74% of respondents felt that one to four candidates were optimal, only 20% of policies had a maximum this low" (UK Council for Graduate Education, 2024, tr. 8). Ở nơi có phân bổ giờ, một suất hướng dẫn chính được tính trung bình 42 giờ mỗi năm, trong khi giờ thực tế báo cáo là 69.
Ở Pháp, Ministère de l'Enseignement supérieur et de la Recherche (2016) tại Điều 16 giao cho hội đồng từng trường đào tạo tiến sĩ quyết định số nghiên cứu sinh tối đa mà một người chỉ đạo luận án được hướng dẫn. Université Grenoble Alpes (n.d.) nêu mức tối đa 5 cùng lúc cho trường ED STEP, và Université de Perpignan (n.d.) nêu mức 4 cho ED305. Bài đồng hướng dẫn và cotutelle ở Pháp cho thấy cách quy định này vận hành khi có hai người hướng dẫn.
| Quốc gia | Ai đặt con số | Mức thường gặp | Nguồn |
|---|---|---|---|
| Việt Nam | Bộ, theo chức danh | 7, 5, 3 đến năm 2027; 8, 6, 3 từ tuyển sinh 2027 | Thông tư 18/2021, 34/2026, 53/2026 |
| Anh | Từng cơ sở | 6 đến 8 đơn vị toàn thời gian ở 59 trên 70 cơ sở | Taylor (2021) |
| Pháp | Từng trường đào tạo tiến sĩ | 5 (Grenoble ED STEP), 4 (Perpignan ED305) | Quy chế trường theo nghị định 2016 |
Nguồn: các văn bản nêu ở cột cuối và các trang của trường trong mục Tài liệu tham khảo, tra cứu ngày 2026-10-31.
◆ Câu hỏi 4 / 8 · Khối lượng hướng dẫn
Số nghiên cứu sinh của người hướng dẫn có ảnh hưởng đến việc bạn hoàn thành luận án không?
Trả lời thẳng: Chưa ai đo mối liên hệ giữa số nghiên cứu sinh của người hướng dẫn và tỷ lệ hoàn thành ở Việt Nam. Các nghiên cứu ở nước khác gắn việc hoàn thành với mức hỗ trợ của người hướng dẫn, không gắn với chức danh hay mức trần. Trong khảo sát 985 người tốt nghiệp ở Nga, hỗ trợ đáng kể từ người hướng dẫn nhân hơn hai lần khả năng bảo vệ thành công.
Zhuchkova và Bekova (2023) khảo sát 985 người tốt nghiệp tiến sĩ từ 119 trường đại học ở Nga, trong đó 74% báo cáo được người hướng dẫn hỗ trợ đáng kể và 45% được khoa hỗ trợ. Kinh nghiệm nghiên cứu liên quan đến đề tài từng dự báo việc bảo vệ thành công, cho đến khi biến hỗ trợ được đưa vào mô hình thì nó mất ý nghĩa thống kê. Nhóm tác giả viết: "The strongest effect is observed for support from the supervisor, receiving which increases the chances for successful defense by more than two times" (Zhuchkova & Bekova, 2023, tr. 9). Tỷ số chênh là 2,50 ở một mô hình và 2,11 ở mô hình kế tiếp, còn hỗ trợ từ khoa cộng thêm 55%. Kết quả chỉ đến từ người tốt nghiệp của một nước, nên nó cho thấy một mối liên hệ chứ không phải quy luật.
Mosanya và cộng sự (2022) phỏng vấn 8 người mới tốt nghiệp tiến sĩ dược lâm sàng và khảo sát 47 nghiên cứu sinh đang học tại tám trường được kiểm định ở Nigeria. Có hơn một người hướng dẫn, sự tận tâm của người hướng dẫn và hỗ trợ của khoa xuất hiện như những yếu tố giúp hoàn thành đúng hạn, và các tác giả viết rằng "students who had more than one supervisor experienced a reduced risk of experiencing burnout" (Mosanya et al., 2022, tr. 9). Mẫu nghiên cứu này nhỏ.
Về phía người hướng dẫn, khảo sát ở Anh cho thấy người chính thức hỗ trợ ba đến bốn nghiên cứu sinh có tỷ lệ nói lo lắng về nghiên cứu sinh khiến mình mất ngủ (35%) cao hơn người có một đến hai (30%), theo UK Council for Graduate Education (2024, tr. 8). Đọc cùng nhau, các nghiên cứu này khiến khối lượng hướng dẫn là điều hợp lý để hỏi, nhưng chưa đủ để loại bỏ một người hướng dẫn.
◆ Câu hỏi 5 / 8 · Khảo sát
Các khảo sát sinh viên và người hướng dẫn nói gì về chính việc hướng dẫn?
Trả lời thẳng: Khảo sát ở Đan Mạch, Tây Ban Nha và Bắc Mỹ mô tả việc hướng dẫn như một tập hành vi chứ không phải một con số đầu người, nên ngoài con số trần, bạn cũng nên hỏi người hướng dẫn thực sự làm gì cho từng người họ nhận, ví dụ góp ý bản thảo và gặp định kỳ.
Không nghiên cứu nào dưới đây đếm số sinh viên trên mỗi người hướng dẫn, vì thế chúng đứng cạnh giới hạn pháp lý chứ không thay thế nó.
| Nghiên cứu | Mẫu và bối cảnh | Phát hiện có số | Áp dụng cho bài của bạn |
|---|---|---|---|
| Wichmann-Hansen và Nielsen (2024) | 1.243 nghiên cứu sinh tại một trường đại học nghiên cứu ở Đan Mạch | Hướng dẫn mang tính chỉ đạo tách thành tư vấn và kiểm soát, tính độc lập tăng theo tư vấn và giảm theo kiểm soát, mức hài lòng tăng theo cả hai | Hỏi người hướng dẫn chủ yếu tư vấn hay chủ yếu kiểm soát |
| González-Ocampo và Castelló (2019) | 1.173 nghiên cứu sinh tại các trường đại học nghiên cứu ở Tây Ban Nha trả lời câu hỏi mở | 223 trải nghiệm về hướng dẫn rơi vào năm nhóm, trong đó có việc chọn người hướng dẫn và quản lý dự án | Hỏi cách ghép người hướng dẫn với sinh viên |
| Denis và cộng sự (2019) | 20 người hướng dẫn và 20 nghiên cứu sinh từ 8 khoa ở Bắc Mỹ | Hoàn thành quanh 50% ở một số chương trình, vướng mắc tập trung ở tuyển sinh, viết khoa học và việc làm sau bằng | Hỏi ai giúp bạn viết khoa học |
Wichmann-Hansen và Nielsen (2024) quan trọng nhất cho câu hỏi về khối lượng, bởi người hướng dẫn có quá nhiều sinh viên có thể trượt sang kiểm soát hoặc vắng mặt, và mẫu hình ở Đan Mạch cho thấy đó là hai vấn đề khác nhau.
◆ Câu hỏi 6 / 8 · Tổng quan
Các tổng quan nói gì về người hướng dẫn thứ hai và hỗ trợ của khoa?
Trả lời thẳng: Các tổng quan về đồng hướng dẫn, tiền của khoa và việc hoàn thành cho thấy người hướng dẫn thứ hai cùng hỗ trợ của khoa quan trọng ngang giới hạn số lượng, nên mức trần theo đầu người chỉ là một trong nhiều điều bạn nên hỏi khoa trước khi nhận lời.
| Nghiên cứu | Mẫu và bối cảnh | Phát hiện có số | Áp dụng cho bài của bạn |
|---|---|---|---|
| Kálmán và cộng sự (2022) | Tổng quan hệ thống các bài báo bình duyệt xuất bản từ 2005 đến 2020 | Có bốn động lực của đồng hướng dẫn, quốc tế hoá được nhắc ít nhất còn chất lượng và liên ngành thường trùng nhau | Hỏi vì sao đề xuất người hướng dẫn thứ hai |
| Zhou và Okahana (2019) | Dữ liệu của Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Mỹ về các khoa | Hỗ trợ tài chính của khoa dự báo được việc hoàn thành và thời gian lấy bằng, hỗ trợ học thuật không cho thấy mối liên hệ chung | Hỏi khoa tài trợ những gì |
| Gittings và cộng sự (2018) | Tổng quan nghiên cứu hoàn thành trước đó | Các nghiên cứu trước cho rằng từ 40% đến 60% không theo tới ngày tốt nghiệp | Coi việc hướng dẫn là một rủi ro trong nhiều rủi ro |
| Bottomley và cộng sự (2020) | Tổng quan việc theo tiến sĩ trực tuyến | Khoảng 50% hoàn thành, và giữ được người hướng dẫn luận án là một yếu tố | Hỏi cách bảo vệ sự liên tục nếu người hướng dẫn rời đi |
Kálmán và cộng sự (2022) hữu ích vì quy định của Việt Nam đã cho phép người hướng dẫn thứ hai, nên tổng quan cho biết sắp xếp đó thường nhằm đạt điều gì.
◆ Câu hỏi 7 / 8 · Nên hỏi gì
Bạn nên hỏi gì người hướng dẫn tương lai và khoa?
Trả lời thẳng: Hãy hỏi khoa chứ đừng chỉ hỏi giáo sư: ngành có dự kiến công bố chỉ tiêu tiến sĩ năm nay không, khóa của bạn theo quy chế nào, người hướng dẫn đang có bao nhiêu nghiên cứu sinh, và có thể có người hướng dẫn thứ hai không. Nhìn vào chức danh thì không suy ra được công thức năng lực.
Vì công thức nằm ở cấp khoa, câu "Thầy cô còn nhận học viên không?" có thể không phải câu mà một giáo sư tự trả lời được. Có bốn câu hỏi trả lời được. Thứ nhất, ngành có công bố chỉ tiêu tiến sĩ trong chu kỳ tới không, cho khóa nào, vì năm của khóa quyết định bạn thuộc quy chế 2021 hay 2026. Thứ hai, người hướng dẫn đang có bao nhiêu nghiên cứu sinh, tính đồng hướng dẫn là 0,5. Thứ ba, người đó có đáp ứng yêu cầu công bố tại Điều 17 khoản 1 của Thông tư 53/2026 không, tức một bài báo trên Scopus hoặc Web of Science, sách, bằng sáng chế hay giải pháp hữu ích trong 5 năm gần nhất, theo Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026b). Thứ tư, có thể có người hướng dẫn thứ hai không, vì mỗi nghiên cứu sinh được có 1 hoặc 2 người.
Các hướng dẫn thực hành cho giai đoạn này gồm cách tìm người hướng dẫn tiến sĩ và lập danh sách rút gọn, email đầu tiên gửi giáo sư và những câu nên hỏi khi phỏng vấn tiến sĩ. Người hướng dẫn luận án cũng là người xác nhận đề tài của bạn trong vòng 18 tháng sau khi trúng tuyển theo Điều 17 khoản 5 điểm c, nên cuộc trao đổi về khối lượng hướng dẫn thuộc về trước khi nhận lời, không phải sau. Văn bằng liên quan là Doctor of Philosophy, và cơ quan đặt ra các quy định này là Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Câu hỏi thường gặp
Mức 7, 5 và 3 còn hiệu lực không?
Còn, với người nhập học trước ngày 1 tháng 1 năm 2027 theo Thông tư 18/2021. Đợt tuyển sinh công bố từ ngày đó theo Thông tư 53/2026, văn bản dẫn tới tỷ lệ 8, 6 và 3 của Bộ.
Đồng hướng dẫn có tính trọn một suất không?
Không. Cả hai thông tư đều tính đồng hướng dẫn một nghiên cứu sinh bằng 0,5 suất hướng dẫn độc lập.
Tôi có thể có hai người hướng dẫn không?
Có. Điều 17 khoản 3 của Thông tư 53/2026 cho phép 1 hoặc 2 người hướng dẫn mỗi nghiên cứu sinh, và một trong hai người phải là cán bộ của cơ sở đào tạo.
Giáo sư đang có 6 nghiên cứu sinh có nhận thêm được không?
Tùy vào năng lực của khoa trong mùa tuyển sinh đó và quy chế áp dụng cho khóa. Riêng chức danh thì chưa đủ để kết luận.
Tỷ lệ 8, 6 và 3 có áp dụng cho hồ sơ năm 2026 của tôi không?
Chưa. Điều 10 khoản 2 của Thông tư 34/2026 giữ tiêu chí của Thông tư 03/2022 và 10/2023 cho tuyển sinh năm 2026.
Người hướng dẫn đang rất bận thì có nên tránh không?
Không nhất thiết. Số liệu ở Anh cho thấy giới hạn trên giấy và khối lượng thực tế có thể khác nhau, nên hãy hỏi cách người đó đang làm việc với các nghiên cứu sinh hiện tại.
◆ Câu hỏi 8 / 8 · MAAS đồng hành
Chọn người hướng dẫn với câu hỏi này trong đầu
Chọn người hướng dẫn nào để liên hệ, và vào lúc nào, là một phần của chiến lược ứng tuyển tiến sĩ xây cùng một chuyên gia trong lĩnh vực của bạn. Sự hỗ trợ của MAAS ở đây mang tính cố vấn: bạn tự viết và tự nộp hồ sơ, không có cam kết về kết quả xét tuyển và không có khoản hoàn tiền gắn với kết quả. Nếu chuyên gia chưa phù hợp, bạn có thể đề nghị đổi sang người khác.
Bài viết liên quan
- Cách tìm người hướng dẫn tiến sĩ và lập danh sách rút gọn: bước cần làm trước khi hỏi về năng lực nhận học viên.
- Những câu nên hỏi khi phỏng vấn tiến sĩ: chỗ phù hợp để hỏi về khối lượng hướng dẫn.
- Lịch nộp hồ sơ tiến sĩ, tính ngược từ hạn chót: các cửa sổ tuyển sinh rơi vào lúc nào.
Tài liệu tham khảo
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2021). Thông tư số 18/2021/TT-BGDĐT ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ. https://dgs.epu.edu.vn/Uploads/files/sdh/18_TTBGDDT_Quy%20che%20tuyen%20sinh%20v%C3%A0%20dao%20tao%20trinh%20do%20tien%20si.pdf
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2026a). Thông tư số 34/2026/TT-BGDĐT quy định về việc xác định số lượng tuyển sinh đại học, thạc sĩ, tiến sĩ và số lượng tuyển sinh cao đẳng ngành Giáo dục Mầm non (Công báo số 266). Công báo Chính phủ. https://congbao.chinhphu.vn/van-ban/thong-tu-so-34-2026-tt-bgddt-469435.htm
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2026b). Thông tư số 53/2026/TT-BGDĐT ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo sau đại học (Công báo số 447). Công báo Chính phủ. https://congbao.chinhphu.vn/van-ban/thong-tu-so-53-2026-tt-bgddt-470098/67203.htm
Bottomley, K., Schumacher, J., Burleigh, C., & Lindsay, P. (2020). Supporting online doctoral students to increase persistence and completion. Online Journal of Distance Learning Administration, 23(4). https://eric.ed.gov/?id=EJ1278706
Denis, C., Colet, N. R., & Lison, C. (2019). Doctoral supervision in North America: Perception and challenges of supervisor and supervisee. Higher Education Studies, 9(1), 30. https://doi.org/10.5539/hes.v9n1p30
Gittings, G., Bergman, M., Shuck, B., & Rose, K. (2018). The impact of student attributes and program characteristics on doctoral degree completion. New Horizons in Adult Education & Human Resource Development, 30(3), 3–22. https://doi.org/10.1002/nha3.20220
González-Ocampo, G., & Castelló, M. (2019). How do doctoral students experience supervision? Studies in Continuing Education, 41(3), 293–307. https://doi.org/10.1080/0158037x.2018.1520208
Kálmán, O., Horváth, L., Kardos, D., Kozma, B., Feyisa, M. B., & Rónay, Z. (2022). Review of benefits and challenges of co-supervision in doctoral education. European Journal of Education, 57(3), 452–468. https://doi.org/10.1111/ejed.12518
Ministère de l'Enseignement supérieur et de la Recherche. (2016). Arrêté du 25 mai 2016 fixant le cadre national de la formation et les modalités conduisant à la délivrance du diplôme national de doctorat (version consolidée en vigueur depuis le 1er septembre 2022). Légifrance. https://www.legifrance.gouv.fr/loda/id/JORFTEXT000032587086/2024-06-20
Mosanya, A. U., Ukoha-kalu, B. O., Isah, A., Umeh, I., Amorha, K. C., Ayogu, E. E., & Ubaka, C. (2022). Factors associated with the timely completion of doctoral research studies in clinical pharmacy: A mixed-methods study. PLOS ONE, 17(9), Article e0274638. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0274638
Taylor, S. (2021). Managing supervisory loads by centrally limiting student numbers: An investigation into practice in institutions in the UK. UK Council for Graduate Education. https://ukcge.ac.uk/assets/resources/Managing-Supervisory-Loads-Centrally-Limiting-Student-Numbers-Taylor-UKCGE.pdf
UK Council for Graduate Education. (2024). UK Research Supervision Survey 2024. https://doi.org/10.5281/zenodo.13843553
Université de Perpignan. (n.d.). Réglementation de l'encadrement de thèse, ED305. https://doctorat-hdr.univ-perp.fr/reglementation-encadrement-de-these-ed305
Université Grenoble Alpes. (n.d.). Pratiques d'encadrement de thèse, École doctorale STEP. https://edstep.univ-grenoble-alpes.fr/encadrants-hdr/encadrer-une-these/pratiques-d-encadrement-de-these-788059.kjsp
Wichmann-Hansen, G., & Nielsen, K.-J. S. (2024). Can hands-on supervision get out of hand? The correlation between directive supervision and doctoral student independence in a Danish study context. Scandinavian Journal of Educational Research, 68(6), 1121–1136. https://doi.org/10.1080/00313831.2023.2204113
Zhou, E., & Okahana, H. (2019). The role of department supports on doctoral completion and time-to-degree. Journal of College Student Retention: Research, Theory & Practice, 20(4), 511–529. https://doi.org/10.1177/1521025116682036
Zhuchkova, S., & Bekova, S. (2023). Building a strong foundation: How pre-doctorate experience shapes doctoral student outcomes. PLOS ONE, 18(9), Article e0291448. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0291448
Bài viết thuộc chuỗi MAAS Journal dành cho sinh viên. MAAS là đối tác hỗ trợ học thuật: chuyên gia đồng hành cùng sinh viên qua từng giai đoạn của chính bài làm của họ, và chúng tôi không làm bài được đánh giá thay cho sinh viên.
Buổi tư vấn miễn phí 20 phút là một cuộc trao đổi về hoàn cảnh của bạn và chặng luận án tiến sĩ phía trước.
Đặt lịch tư vấn miễn phí ▸
