◆ Ứng tuyển tiến sĩ
Một người hướng dẫn nhận được bao nhiêu nghiên cứu sinh?
Trả lời thẳng: Thông tư 53/2026/TT-BGDĐT bỏ mức trần cho từng người hướng dẫn, và Điều 17 chuyển câu hỏi sang quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về số lượng tuyển sinh tiến sĩ. Con số mới nằm ở Thông tư 34/2026/TT-BGDĐT: 8 nghiên cứu sinh trên một giáo sư, 6 trên một phó giáo sư hoặc tiến sĩ khoa học, 3 trên một người có bằng tiến sĩ.
Nhiều người vẫn nhớ câu trả lời quen thuộc là bảy nghiên cứu sinh với giáo sư, năm với phó giáo sư và ba với người có bằng tiến sĩ. Những con số đó từng có thật, nhưng nay chúng không còn nằm trong quy chế đào tạo tiến sĩ, và các con số thay thế thuộc về một loại khác hẳn. Bài này chỉ ra các con số mới nằm ở đâu, chúng khác mức trần cũ ở điểm nào, và bạn nên hỏi khoa hay người hướng dẫn tương lai điều gì khi chuẩn bị hồ sơ tiến sĩ.
Chuyên mục: admissions
Cập nhật lần cuối: 03/09/2026
◆ Câu hỏi 1 / 6 · Quy chế còn giới hạn không
Quy chế hiện hành còn giới hạn số nghiên cứu sinh của mỗi người hướng dẫn không?
Trả lời thẳng: Quy chế không còn đặt một con số riêng cho từng người. Mức 7, 5 và 3 mà nhiều người còn nhớ đã rời khỏi quy chế đào tạo tiến sĩ, còn các tỉ lệ 8, 6 và 3 trong quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo hiện nay là đầu vào để cơ sở đào tạo tính chỉ tiêu của cả một ngành, không phải giới hạn đặt lên một cá nhân.
Sự dịch chuyển này dễ bị bỏ qua, trong khi nó làm đổi luôn điều bạn nên đi hỏi. Con số cũ là giới hạn đặt lên một con người, còn con số mới chỉ là một số hạng trong phép tính năng lực đào tạo của cả khoa.
◆ Câu hỏi 2 / 6 · Số 7, 5 và 3 đi đâu
Các con số 7, 5 và 3 đã đi đâu?
Trả lời thẳng: Chúng nằm ở Điều 6 của Thông tư 18/2021/TT-BGDĐT, nơi từng chặn số nghiên cứu sinh hướng dẫn độc lập ở mức 7, 5 và 3 theo chức danh. Điều 17 của Thông tư 53/2026/TT-BGDĐT thay mức chặn ấy bằng một dẫn chiếu sang quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về xác định số lượng tuyển sinh tiến sĩ có hiệu lực cùng thời điểm (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026b).
Mức chặn cũ và các tỉ lệ mới
Mỗi hàng đặt quy định cũ cạnh quy định mới. Hàng đầu nêu các con số, hàng thứ hai nói mỗi con số thuộc loại nào. Số lượng tuyển sinh năm 2026 vẫn theo Thông tư 03/2022 và Thông tư 10/2023.
Trước: Thông tư 18/2021, Điều 6
Nay: Thông tư 34/2026, Điều 5
Mức chặn số nghiên cứu sinh hướng dẫn độc lập: 7, 5 và 3 theo chức danh.
Tỉ lệ số nghiên cứu sinh tối đa trên một giảng viên: 8 với giáo sư, 6 với phó giáo sư hoặc tiến sĩ khoa học, 3 với người có bằng tiến sĩ.
Giới hạn đặt lên một con người.
Một số hạng trong phép tính năng lực đào tạo của cả khoa.
Lưu hình này

Văn bản được dẫn chiếu tới là Thông tư 34/2026/TT-BGDĐT, do Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026a) ban hành ngày 19 tháng Tư năm 2026 và đăng Công báo số 266 ngày 10 tháng Năm năm 2026. Điều 5 của thông tư này đặt tỉ lệ số nghiên cứu sinh tối đa trên một giảng viên theo trình độ và chức danh, ở mức 8 với giáo sư, 6 với phó giáo sư hoặc tiến sĩ khoa học, và 3 với người có bằng tiến sĩ. Với học viên cao học, tỉ lệ là 6 trên một giảng viên.
Cả hai thông tư giữ nguyên một quy tắc: đồng hướng dẫn một nghiên cứu sinh chỉ được tính bằng 0,5 nghiên cứu sinh hướng dẫn độc lập (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026b). Điều 17 của Thông tư 53/2026/TT-BGDĐT còn cố định cả cấu trúc hướng dẫn xoay quanh con số đếm đó. Mỗi nghiên cứu sinh có một hoặc hai người hướng dẫn, trong đó ít nhất một người là cán bộ cơ hữu hoặc đồng cơ hữu của cơ sở đào tạo, và người hướng dẫn phải có công bố thuộc Web of Science hoặc Scopus, hoặc sách, hoặc bằng độc quyền sáng chế, hoặc giải pháp hữu ích trong 5 năm gần nhất.
◆ Câu hỏi 3 / 6 · Tỉ lệ không phải mức trần
Vì sao một tỉ lệ không phải là một mức trần?
Trả lời thẳng: Mức trần cho biết một người không được vượt quá bao nhiêu nghiên cứu sinh. Tỉ lệ trong Thông tư 34/2026/TT-BGDĐT thì dùng để tính một ngành được tuyển bao nhiêu người, dựa trên đội ngũ giảng viên đủ điều kiện. Hai con số có thể trông giống nhau, nhưng con số mới trả lời câu hỏi của cả một khoa chứ không trả lời câu hỏi về một người hướng dẫn cụ thể.
Đọc Điều 5 của Thông tư 34/2026/TT-BGDĐT trong ngữ cảnh, khác biệt đó trở nên rất thực tế. Cơ sở đào tạo đếm số giảng viên đủ điều kiện của ngành, áp tỉ lệ để ra năng lực đào tạo, trừ đi quy mô đào tạo hiện tại, rồi cộng thêm số nghiên cứu sinh dự kiến tốt nghiệp trong năm. Con số tuyển sinh là kết quả của phép tính ấy, theo cách Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026a) quy định. Chỗ trống của một giáo sư cụ thể chỉ là sản phẩm phụ của phép tính, chứ không phải một đại lượng được định nghĩa riêng.
Thời điểm tính cũng quan trọng không kém. Thông tư 34/2026/TT-BGDĐT buộc cơ sở đào tạo cập nhật số liệu lên hệ thống cơ sở dữ liệu giáo dục đại học chậm nhất ngày 30 tháng Một hằng năm, xác định và báo cáo số lượng tuyển sinh chậm nhất ngày 28 tháng Hai, và công bố lại phần điều chỉnh trước ngày 31 tháng Năm (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026a). Vì vậy, một người hướng dẫn còn chỗ hay không là câu hỏi gắn với từng mùa tuyển sinh, chứ không phải một thuộc tính cố định của người đó.
Mùa tuyển sinh năm nay còn có một điểm chuyển tiếp riêng. Điều 8 của Thông tư 34/2026/TT-BGDĐT nêu rằng số lượng tuyển sinh năm 2026 được xác định theo tiêu chí của Thông tư 03/2022/TT-BGDĐT và Thông tư 10/2023/TT-BGDĐT, nên người hỏi về năm nay và người hỏi về năm sau đang hỏi theo hai bộ quy định khác nhau.
◆ Câu hỏi 4 / 6 · Ý nghĩa với người nộp hồ sơ
Thay đổi này có ý nghĩa gì với người nộp hồ sơ tiến sĩ?
Trả lời thẳng: Bạn không còn suy ra được chỗ trống của người hướng dẫn từ chức danh của họ. Theo quy định cũ, một giáo sư đang hướng dẫn sáu người thì rõ ràng chỉ còn một suất nữa là chạm trần. Theo quy định hiện hành, chỗ trống phụ thuộc vào phép tính năng lực của ngành trong mùa đó, và chỉ khoa mới nhìn thấy đầy đủ phép tính ấy.
Cách nhìn này làm đổi luôn nội dung lá thư đầu tiên gửi người hướng dẫn tương lai. Hỏi một giáo sư "thầy có đang nhận nghiên cứu sinh không" là một câu mà chính họ có thể không trả lời được một cách chung chung, vì câu trả lời nằm ở kế hoạch tuyển sinh của khoa. Người nhận thư chỉ trả lời được khi bạn hỏi xem ngành có dự kiến công bố chỉ tiêu tiến sĩ trong mùa tới không, và thầy có ý định nhận một người trong đợt đó không. Bài của MAAS về lá thư tiếp cận đầu tiên phân tích kỹ phần nội dung nên có trong thư.
Quy tắc đồng hướng dẫn mở ra thêm một khả năng. Vì đồng hướng dẫn chỉ tính nửa suất, một người đã sát tỉ lệ vẫn có thể nhận thêm nghiên cứu sinh nếu hướng dẫn chung với một đồng nghiệp. Cách sắp xếp đó vẫn phải thoả điều kiện ít nhất một người hướng dẫn là cán bộ cơ hữu của cơ sở đào tạo.
◆ Câu hỏi 5 / 6 · Số người hướng dẫn và kết quả
Số lượng người hướng dẫn có ảnh hưởng tới kết quả của nghiên cứu sinh không?
Trả lời thẳng: Quy chế đếm số người hướng dẫn, còn các nghiên cứu thì đo mức hỗ trợ mà nghiên cứu sinh nhận được. Zhuchkova và Bekova (2023) khảo sát 985 nghiên cứu sinh đã tốt nghiệp và thấy tác động bề ngoài của kinh nghiệm nghiên cứu trước tiến sĩ lên việc bảo vệ thành công biến mất khi đưa thêm biến hỗ trợ từ người hướng dẫn và từ khoa vào mô hình.
Cách đọc mà Zhuchkova và Bekova (2023) đưa ra là phần hỗ trợ có thể đang gánh phần lớn điều mà ta tưởng là do kinh nghiệm trước đó tạo ra. Nếu cách đọc đó đúng, việc hỏi người hướng dẫn tương lai đang nhận bao nhiêu nghiên cứu sinh khác không còn là tò mò về lịch làm việc của họ. Đó là câu hỏi về chính yếu tố mà bằng chứng gắn chặt nhất với khả năng hoàn thành luận án.
Cũng có bằng chứng cho thấy hai người hướng dẫn có lợi hơn một. Mosanya và cộng sự (2022) làm một nghiên cứu hỗn hợp trên nghiên cứu sinh ngành dược lâm sàng tại Nigeria, với 47 người trả lời khảo sát và 8 người phỏng vấn sâu. Họ ghi nhận rằng có nhiều hơn một người hướng dẫn, mức cam kết của người hướng dẫn với công trình, cùng sự hỗ trợ từ khoa đều thúc đẩy việc hoàn thành đúng hạn. Nhóm có nhiều hơn một người hướng dẫn cũng báo cáo năng suất nghiên cứu cao hơn, và nhóm tác giả viết rằng "students who had more than one supervisor experienced a reduced risk of experiencing burnout" (Mosanya và cộng sự, 2022, tr. 9), tức nhóm đó chịu rủi ro kiệt sức thấp hơn.
Cả hai nghiên cứu đều có quy mô nhỏ, một bên là 985 người tốt nghiệp ở Nga và một bên là 55 người tham gia ở Nigeria, và không bên nào dùng dữ liệu Việt Nam. Vì vậy điều chúng cho thấy khá khiêm tốn, nhưng vẫn đáng áp dụng: khi tiếp cận khoa, bạn nên hỏi về cách bố trí hướng dẫn chứ không chỉ hỏi về con người.
◆ Câu hỏi 6 / 6 · MAAS đồng hành ở chặng nào
MAAS đồng hành ở chặng nào?
Người hướng dẫn có còn chỗ hay không là chuyện nằm ngoài tầm kiểm soát của mọi bên, kể cả MAAS. Điều nằm trong tầm tay của bạn là chuẩn bị một hồ sơ khiến khoa muốn thu xếp chỗ, mà trong hệ này nghĩa là đã có các công bố được chấp nhận, rồi khi trúng tuyển thì đi hết chặng đường luận án. Ở chặng thứ hai đó, dịch vụ Hỗ trợ luận án tiến sĩ của MAAS ghép bạn với một chuyên gia cùng chuyên ngành, đồng hành từ đề cương nghiên cứu, qua bản nháp mẫu từng chương để bạn tham khảo, tới lượt soát toàn văn trước khi gửi phản biện độc lập. Bạn là người viết luận án và trả lời hội đồng, còn MAAS cam kết chất lượng quy trình chứ không cam kết kết quả trúng tuyển, và việc luận án đạt hay không vẫn do phản biện độc lập cùng hội đồng đánh giá quyết định. Trình tự rộng hơn của cả quá trình nằm ở hướng dẫn nộp hồ sơ tiến sĩ.
Câu hỏi thường gặp
Quy định 7, 5 và 3 còn hiệu lực không?
Không còn trong quy chế đào tạo tiến sĩ. Các con số đó nằm ở Điều 6 của Thông tư 18/2021/TT-BGDĐT, văn bản đã bị Thông tư 53/2026/TT-BGDĐT thay thế, còn các con số tương ứng hiện nằm ở Thông tư 34/2026/TT-BGDĐT với mức 8, 6 và 3.
Đồng hướng dẫn có tính đủ một suất không?
Không. Cả hai thông tư đều tính đồng hướng dẫn một nghiên cứu sinh tương đương 0,5 nghiên cứu sinh hướng dẫn độc lập.
Tôi có được hai người hướng dẫn không?
Điều 17 của Thông tư 53/2026/TT-BGDĐT quy định mỗi nghiên cứu sinh có một hoặc hai người hướng dẫn, và ít nhất một người phải là cán bộ cơ hữu hoặc đồng cơ hữu của cơ sở đào tạo.
Làm sao biết một giáo sư còn chỗ hay không?
Bạn nên hỏi khoa thay vì suy ra từ chức danh của giáo sư, và hỏi theo mùa tuyển sinh, vì số lượng tuyển sinh được xác định và báo cáo hằng năm theo Thông tư 34/2026/TT-BGDĐT.
Các tỉ lệ này có áp cho khoá tuyển sinh 2026 của tôi không?
Điều 8 của Thông tư 34/2026/TT-BGDĐT nêu rằng số lượng tuyển sinh năm 2026 được xác định theo tiêu chí trong Thông tư 03/2022/TT-BGDĐT và Thông tư 10/2023/TT-BGDĐT, nên bạn cần xác nhận hồ sơ của mình thuộc mùa tuyển sinh nào.
References
Mosanya, A. U., Ukoha-kalu, B. O., Isah, A., Umeh, I., Amorha, K. C., Ayogu, E. E., & Ubaka, C. (2022). Factors associated with the timely completion of doctoral research studies in clinical pharmacy: A mixed-methods study. PLOS ONE, 17(9), Article e0274638. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0274638
Zhuchkova, S., & Bekova, S. (2023). Building a strong foundation: How pre-doctorate experience shapes doctoral student outcomes. PLOS ONE, 18(9), Article e0291448. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0291448
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2026a). Thông tư số 34/2026/TT-BGDĐT quy định về việc xác định số lượng tuyển sinh đại học, thạc sĩ, tiến sĩ và số lượng tuyển sinh cao đẳng ngành Giáo dục Mầm non (Công báo số 266). Công báo Chính phủ. https://congbao.chinhphu.vn/van-ban/thong-tu-so-34-2026-tt-bgddt-469435.htm
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2026b). Thông tư số 53/2026/TT-BGDĐT ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo sau đại học (Công báo số 447). Công báo Chính phủ. https://congbao.chinhphu.vn/van-ban/thong-tu-so-53-2026-tt-bgddt-470098/67203.htm
Buổi tư vấn miễn phí 20 phút là một cuộc trao đổi về hoàn cảnh của bạn và chặng luận án tiến sĩ phía trước.
Đặt lịch tư vấn miễn phí ▸
