Skip to content
Quay lại BlogPhD Admissions

Một người hướng dẫn nhận được bao nhiêu nghiên cứu sinh?

10 phút đọc1,963 từNEW

Chuyên mục: admissions

Cập nhật lần cuối: 03/09/2026

Câu trả lời quen thuộc là bảy với giáo sư, năm với phó giáo sư, ba với người có bằng tiến sĩ. Những con số đó từng có thật, nay chúng không còn nằm trong quy chế đào tạo tiến sĩ nữa, và các con số thay thế chúng lại thuộc một loại khác hẳn.

Trả lời trực tiếp: Thông tư 53/2026/TT-BGDĐT không còn nêu mức trần hướng dẫn gắn với cá nhân. Điều 17 dẫn chiếu sang quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về xác định số lượng tuyển sinh tiến sĩ. Thông tư 34/2026/TT-BGDĐT đặt các tỉ lệ đó ở mức 8 nghiên cứu sinh trên một giáo sư, 6 trên một phó giáo sư hoặc tiến sĩ khoa học, và 3 trên một người có bằng tiến sĩ.

Sự dịch chuyển này dễ bị bỏ qua, mà nó lại đổi luôn thứ bạn nên đi hỏi. Con số cũ là giới hạn đặt lên một con người. Con số mới là một đầu vào trong phép tính năng lực của cả một ngành đào tạo.

Các con số đó đi đâu

Trả lời trực tiếp: Điều 6 của Thông tư 18/2021/TT-BGDĐT chặn việc hướng dẫn độc lập ở mức 7, 5 và 3 theo chức danh. Điều 17 của Thông tư 53/2026/TT-BGDĐT thay bằng một dẫn chiếu sang quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về xác định số lượng tuyển sinh tiến sĩ ở cùng một thời điểm (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026b).

Quy định được dẫn chiếu tới là Thông tư 34/2026/TT-BGDĐT, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 19 tháng Tư năm 2026, đăng Công báo số 266 ngày 10 tháng Năm năm 2026 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026a). Điều 5 đặt tỉ lệ số nghiên cứu sinh tối đa trên một giảng viên, theo trình độ và chức danh, ở mức 8 với giáo sư, 6 với phó giáo sư hoặc tiến sĩ khoa học, và 3 với người có bằng tiến sĩ. Tỉ lệ dành cho học viên cao học là 6 trên một giảng viên.

Cả hai thông tư giữ nguyên một luật: đồng hướng dẫn một nghiên cứu sinh được tính tương đương 0,5 nghiên cứu sinh hướng dẫn độc lập (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026b). Điều 17 của Thông tư 53/2026/TT-BGDĐT còn cố định cấu trúc quanh con số đếm đó, khi buộc mỗi nghiên cứu sinh có một hoặc hai người hướng dẫn, trong đó ít nhất một người là cán bộ cơ hữu hoặc đồng cơ hữu của cơ sở đào tạo, và buộc người hướng dẫn phải có công bố thuộc Web of Science hoặc Scopus, hoặc sách, hoặc bằng độc quyền sáng chế, hoặc giải pháp hữu ích trong 5 năm gần nhất.

Vì sao một tỉ lệ không phải là một mức trần

Trả lời trực tiếp: Mức trần cho bạn biết một người không được vượt quá bao nhiêu. Tỉ lệ trong Thông tư 34/2026/TT-BGDĐT lại được dùng để tính một ngành được tuyển bao nhiêu người, dựa trên đội ngũ giảng viên đủ điều kiện. Cùng một con số, nhưng nó trả lời câu hỏi của cả một khoa chứ không phải câu hỏi về một cá nhân.

Đọc Điều 5 của Thông tư 34/2026/TT-BGDĐT trong ngữ cảnh thì khác biệt trở nên rất thực tế. Cơ sở đào tạo đếm số giảng viên đủ điều kiện của ngành, áp tỉ lệ để ra năng lực đào tạo, trừ đi quy mô đào tạo hiện tại, rồi cộng thêm số nghiên cứu sinh dự kiến tốt nghiệp trong năm đó. Con số tuyển sinh là kết quả của phép tính ấy (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026a). Chỗ trống của một giáo sư cụ thể là sản phẩm phụ của phép tính, chứ không phải một đại lượng được định nghĩa riêng.

Có một chi tiết về thời điểm cũng quan trọng. Thông tư 34/2026/TT-BGDĐT buộc cơ sở đào tạo cập nhật số liệu lên hệ thống cơ sở dữ liệu giáo dục đại học chậm nhất ngày 30 tháng Một hằng năm, xác định và báo cáo số lượng tuyển sinh chậm nhất ngày 28 tháng Hai, và công bố lại phần điều chỉnh trước ngày 31 tháng Năm (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026a). Vậy chuyện một người hướng dẫn còn chỗ hay không là câu hỏi gắn với từng mùa tuyển sinh, không phải một thuộc tính cố định.

Còn một điểm chuyển tiếp áp cho chính mùa tuyển sinh này. Điều 8 của Thông tư 34/2026/TT-BGDĐT nêu rằng số lượng tuyển sinh năm 2026 được xác định theo tiêu chí của Thông tư 03/2022/TT-BGDĐT và Thông tư 10/2023/TT-BGDĐT, nên người hỏi về năm nay và người hỏi về năm sau đang hỏi theo hai bộ quy định khác nhau.

Điều này đổi gì với người nộp hồ sơ

Trả lời trực tiếp: Bạn không còn suy ra được chỗ trống của người hướng dẫn từ chức danh của họ. Theo luật cũ, một giáo sư đang hướng dẫn sáu người thì rõ ràng còn thiếu một suất nữa là chạm trần. Theo quy định hiện hành, chỗ trống phụ thuộc phép tính năng lực của ngành trong mùa đó, mà chỉ khoa mới nhìn thấy phép tính ấy.

Cách nhìn đó làm đổi luôn lá thư tiếp cận. Hỏi một giáo sư rằng thầy có đang nhận nghiên cứu sinh không là câu hỏi mà chính họ có thể không trả lời được một cách chung chung, bởi câu trả lời nằm ở kế hoạch tuyển sinh của khoa. Hỏi rằng ngành có dự kiến công bố suất tiến sĩ trong mùa tới không, và thầy có ý định nhận một người trong đợt đó không, mới là câu trả lời được. Bài của MAAS về lá thư tiếp cận đầu tiên nói kỹ phần nội dung nên có trong thư.

Luật đồng hướng dẫn mở ra một cửa thứ hai. Vì đồng hướng dẫn chỉ tính nửa suất, một người đã sát tỉ lệ vẫn nhận thêm được nếu hướng dẫn chung với một đồng nghiệp. Cách sắp xếp đó vẫn phải thoả điều kiện ít nhất một người hướng dẫn là cán bộ cơ hữu của cơ sở đào tạo.

Số lượng người hướng dẫn có ảnh hưởng tới kết quả không

Trả lời trực tiếp: Quy chế đếm số người hướng dẫn, còn nghiên cứu thì đo mức hỗ trợ. Zhuchkova và Bekova (2023) khảo sát 985 nghiên cứu sinh đã tốt nghiệp và thấy hiệu ứng bề ngoài của kinh nghiệm nghiên cứu trước tiến sĩ lên việc bảo vệ thành công biến mất khi đưa thêm biến hỗ trợ từ người hướng dẫn và từ khoa vào mô hình.

Cách đọc mà Zhuchkova và Bekova (2023) đưa ra là phần hỗ trợ có thể đang gánh phần lớn thứ mà ta tưởng là do kinh nghiệm trước đó tạo ra. Nếu vậy thì câu hỏi người hướng dẫn tương lai của bạn đang mang bao nhiêu nghiên cứu sinh khác không phải là tò mò về lịch làm việc của họ, mà là câu hỏi về chính yếu tố mà bằng chứng gắn chặt nhất với khả năng về đích.

Cũng có bằng chứng cho thấy hai người hướng dẫn tốt hơn một. Mosanya và cộng sự (2022) nghiên cứu hỗn hợp trên nghiên cứu sinh ngành dược lâm sàng tại Nigeria, với 47 người trả lời khảo sát và 8 người phỏng vấn sâu, ghi nhận rằng có nhiều hơn một người hướng dẫn, mức cam kết của người hướng dẫn với công trình, và sự hỗ trợ từ khoa đều là yếu tố thúc đẩy việc hoàn thành đúng hạn. Nhóm có nhiều hơn một người hướng dẫn cũng báo cáo năng suất nghiên cứu cao hơn, và nhóm tác giả viết rằng "students who had more than one supervisor experienced a reduced risk of experiencing burnout" (Mosanya và cộng sự, 2022, tr. 9), tức nhóm đó chịu rủi ro kiệt sức thấp hơn.

Cả hai nghiên cứu đều nhỏ, một bên là 985 người tốt nghiệp ở Nga và một bên là 55 người tham gia ở Nigeria, và không bên nào là dữ liệu Việt Nam. Thứ chúng chứng minh được thì khiêm tốn nhưng vẫn đáng làm theo: hãy hỏi về cách bố trí hướng dẫn, chứ đừng chỉ hỏi về con người.

MAAS đứng ở đâu

Người hướng dẫn có chỗ trống hay không là chuyện nằm ngoài tầm kiểm soát của mọi bên, kể cả của MAAS. Thứ nằm trong tầm kiểm soát của bạn là đến với một hồ sơ khiến khoa muốn thu xếp chỗ, mà trong hệ này nghĩa là các công bố đã được chấp nhận, và đó là việc mà dịch vụ Cố vấn công bố quốc tế của MAAS làm, với bạn là tác giả duy nhất và người nộp duy nhất. Phần chiến lược tiếp cận và bản đề cương thì nằm ở dịch vụ cố vấn học thuật. MAAS cam kết chất lượng quy trình, không bao giờ cam kết kết quả trúng tuyển. Trình tự rộng hơn nằm ở hướng dẫn nộp hồ sơ tiến sĩ.

Câu hỏi thường gặp

Luật 7, 5 và 3 còn hiệu lực không?
Không còn trong quy chế đào tạo tiến sĩ. Các con số đó nằm ở Điều 6 của Thông tư 18/2021/TT-BGDĐT, văn bản đã bị Thông tư 53/2026/TT-BGDĐT thay thế. Các con số tương ứng hiện nằm ở Thông tư 34/2026/TT-BGDĐT với mức 8, 6 và 3.

Đồng hướng dẫn có tính đủ một suất không?
Không. Cả hai thông tư đều tính đồng hướng dẫn một nghiên cứu sinh tương đương 0,5 nghiên cứu sinh hướng dẫn độc lập.

Tôi có được hai người hướng dẫn không?
Điều 17 của Thông tư 53/2026/TT-BGDĐT quy định mỗi nghiên cứu sinh có một hoặc hai người hướng dẫn, và ít nhất một người phải là cán bộ cơ hữu hoặc đồng cơ hữu của cơ sở đào tạo.

Làm sao biết một giáo sư còn chỗ hay không?
Hãy hỏi khoa thay vì suy ra từ chức danh, và hỏi theo mùa tuyển sinh, vì số lượng tuyển sinh được xác định và báo cáo hằng năm theo Thông tư 34/2026/TT-BGDĐT.

Các tỉ lệ này có áp cho khoá tuyển sinh 2026 của tôi không?
Điều 8 của Thông tư 34/2026/TT-BGDĐT nêu rằng số lượng tuyển sinh năm 2026 được xác định theo tiêu chí trong Thông tư 03/2022/TT-BGDĐT và Thông tư 10/2023/TT-BGDĐT, nên hãy xác nhận hồ sơ của bạn thuộc mùa nào.

References

Mosanya, A. U., Ukoha-kalu, B. O., Isah, A., Umeh, I., Amorha, K. C., Ayogu, E. E., & Ubaka, C. (2022). Factors associated with the timely completion of doctoral research studies in clinical pharmacy: A mixed-methods study. PLOS ONE, 17(9), Article e0274638. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0274638

Zhuchkova, S., & Bekova, S. (2023). Building a strong foundation: How pre-doctorate experience shapes doctoral student outcomes. PLOS ONE, 18(9), Article e0291448. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0291448

Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2026a). Thông tư số 34/2026/TT-BGDĐT quy định về việc xác định số lượng tuyển sinh đại học, thạc sĩ, tiến sĩ và số lượng tuyển sinh cao đẳng ngành Giáo dục Mầm non (Công báo số 266). Công báo Chính phủ. https://congbao.chinhphu.vn/van-ban/thong-tu-so-34-2026-tt-bgddt-469435.htm

Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2026b). Thông tư số 53/2026/TT-BGDĐT ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo sau đại học (Công báo số 447). Công báo Chính phủ. https://congbao.chinhphu.vn/van-ban/thong-tu-so-53-2026-tt-bgddt-470098/67203.htm

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.