Skip to content
Quay lại BlogEconomics

ECON1010: bỏ toán ra khỏi môn học rồi thì bài được chấm ở đâu?

22 phút đọc4,347 từ

Khi đã bỏ phần toán hình thức ra khỏi ECON1010, bài được chấm ở khả năng giải thích cơ chế kinh tế bằng lời thường và bảo vệ được lời giải thích đó. Bài viết này giúp người đọc hiểu môn Introductory Microeconomics của University of Queensland thật sự chấm điều gì, lên kế hoạch cho một cấu trúc đánh giá khá lạ, viết câu trả lời gọi tên được cơ chế, và tránh những chỗ mất điểm hay gặp nhất.

Kinh tế học với tư cách một ngành học hình thức thường được tính từ cuốn The Wealth of Nations của Adam Smith, xuất bản năm 1776, tức 114 năm trước khi đồ thị cung cầu của Marshall trao cho môn này bộ công cụ đồ thị mà sinh viên dùng hôm nay. Nhiều sinh viên chọn ECON1010 vì nghĩ mình sắp gặp đại số và giải tích, rồi mở phần mô tả môn ra thì thấy điều ngược lại, vì môn hứa tập trung vào các nguyên lý áp dụng được ngay chứ không đi vào lý thuyết hình thức. Cảm giác nhẹ người ấy chỉ đúng một phần, bởi một khi phần đại số không còn nữa thì thứ duy nhất còn lại để chấm là người học có giải thích được cơ chế bằng lời hay không.

Tác giả: Ban Biên tập MAAS · Hiệu đính bởi cố vấn chuyên môn của MAAS
Cập nhật lần cuối: 20/08/2026
Chuyên mục: economics

Một báo cáo nghiên cứu in kèm biểu đồ cột và bút chì đặt bên trên
Ảnh minh hoạ

Bạn đang học ECON1010 của trường nào?

Trả lời trực tiếp: Bài viết này mô tả môn ECON1010 Introductory Microeconomics của University of Queensland, trị giá 2 đơn vị, do School of Economics điều phối và dạy tại St Lucia. UQ không ghi môn tiên quyết nào, nhưng ghi ECON1010 không tương thích với ECON1011, ECON2011 và ECON2012, đồng thời không dành cho sinh viên chương trình Advanced Business (Honours) và Advanced Finance and Economics (Honours).

University of Queensland được thành lập năm 1909, và năm 1946 trường bắt đầu dời từ khu George Street ban đầu sang cơ sở St Lucia, nơi ECON1010 đang được dạy hiện nay. ECON1010 là mã mà nhiều trường cùng dùng, và toàn bộ thông tin điều phối bên dưới lấy từ University of Queensland. Ở UQ, môn này tên là Introductory Microeconomics, trị giá 2 đơn vị, do School of Economics điều phối và dạy tại St Lucia, mỗi tuần một buổi giảng và một buổi tutorial. Môn không có môn tiên quyết chính thức, nhưng lại có những ràng buộc nên kiểm tra trước khi đăng ký. Môn được ghi là không tương thích với ECON1011, ECON2011 và ECON2012, đồng thời sinh viên thuộc chương trình Bachelor of Advanced Business (Honours) hoặc Bachelor of Advanced Finance and Economics (Honours) không được học môn này, vì chương trình của họ dùng một môn nhập môn khác. Nếu hệ thống đăng ký của bạn hiện lên một tên môn khác hoặc một số đơn vị khác, thì đó là môn của trường khác và phần còn lại của bài này sẽ không khớp. Bản thân bằng cử nhân chứa ECON1010 cũng chịu sự điều chỉnh của Australian Qualifications Framework (khung trình độ quốc gia của Úc), được lập năm 1995, trong đó bằng cử nhân nằm ở bậc 7 của một hệ mười bậc, đi từ chứng chỉ phổ thông trung học lên tới bằng tiến sĩ.

Môn giả định bạn có sẵn những gì, và giả định ấy giấu điều gì?

Trả lời trực tiếp: Phần kiến thức nền được giả định chỉ gồm số học cơ bản cộng với khả năng đọc và thao tác với đồ thị đơn giản, không hơn. Điều mà câu đó không nhắc tới là chuẩn đầu ra cuối cùng, truyền đạt tư duy kinh tế bằng ngôn ngữ phi kỹ thuật, và đó mới là chỗ điểm số thật sự được quyết định.

Phần kiến thức nền được giả định khá khiêm tốn, gồm số học cơ bản và khả năng đọc rồi thao tác được với đồ thị đơn giản. Môn không nhắc gì tới giải tích, cũng không đòi người học từng học kinh tế trước đó. Nhiều sinh viên đọc dòng ấy và hiểu rằng ECON1010 bắt đầu từ con số không.

ECON1010 đúng là bắt đầu từ con số không về nội dung, nhưng nó không bắt đầu từ con số không ở kỹ năng mà cuối cùng nó đem ra chấm. Chuỗi chuẩn đầu ra đi từ hiểu thuật ngữ kinh tế, qua nhận diện và áp dụng lý thuyết vào bối cảnh thực tế, rồi lên tới thẩm định các kết quả được đề xuất bằng lý thuyết kinh tế và truyền đạt tư duy kinh tế bằng ngôn ngữ phi kỹ thuật. Chuẩn đầu ra cuối cùng ấy mới là thứ quyết định điểm, và nó cũng là chuẩn duy nhất mà phần giả định kiến thức nền không hề nhắc tới. Một sinh viên có thể nắm trọn mô hình trong đầu, vẽ đồ thị đúng, mà vẫn mất điểm vì bài viết chỉ gọi tên kết quả chứ không gọi tên cơ chế đã tạo ra kết quả đó.

Yêu cầu truyền đạt cơ chế chứ không chỉ kết quả càng nặng hơn, chứ không nhẹ đi, với sinh viên học bằng ngôn ngữ thứ hai. Khi một môn được chấm qua đại số, phần toán gánh hộ người học một phần lập luận, và tiếng Anh chưa hoàn hảo không làm mất bao nhiêu điểm. Còn khi môn nói thẳng rằng nó muốn tư duy kinh tế được diễn đạt bằng ngôn ngữ phi kỹ thuật, thì chính ngôn ngữ là bài kiểm tra. Bỏ phần toán hình thức đi không hạ rào cản cho du học sinh, mà dời rào cản ấy sang đúng chỗ đang nặng nhất.

Phần đánh giá của ECON1010 có hình dạng thế nào, và nên lên kế hoạch ra sao?

Trả lời trực tiếp: Một đề cương UQ đã công bố chấm trọn môn qua hai chuỗi bài cá nhân làm trực tuyến chạy song song suốt học kỳ, mỗi chuỗi lấy năm bài tốt nhất trên sáu, và học kỳ đó không có bài thi cuối kỳ. Trọng số được ấn định theo từng học kỳ, nên hãy đọc đề cương của chính bạn thay vì dựa vào các con số này.

Bảng năm đặc điểm từ một đề cương đánh giá ECON1010 đã công bố và ý nghĩa của từng đặc điểm với cách học
Trọng số ấn định theo từng học kỳ, nên hãy đọc đề cương của chính bạn thay vì dựa vào các con số này.

Đề cương (course profile) công bố cho một học kỳ gần đây có cấu trúc lạ đủ để đáng đọc kỹ, và thứ nên định hình cả học kỳ của người học là cấu trúc ấy chứ không phải các mốc ngày cụ thể.

Đặc điểm trong đề cương đã công bố Ý nghĩa với cách bạn học
Hai chuỗi bài trực tuyến chạy song song suốt học kỳ Môn chấm liên tục, không có một thời điểm nào để dồn sức ôn
Mỗi chuỗi tính năm bài tốt nhất trên sáu bài Bài thứ sáu không phải phần thưởng, nó là suất dự phòng duy nhất
Học kỳ đó không có bài thi cuối kỳ Điểm tích luỹ dần, và một quãng hai tuần trục trặc thì về sau không gỡ lại được
Mỗi bài mở và đóng trong khung thời gian cố định, một số bài có lượt làm thứ hai Lỡ một khung giờ là mất điểm, không phải chuyện thủ tục
Toàn bộ là bài cá nhân và làm trực tuyến Không có nhóm gánh hộ, và đóng cổng rồi thì không thương lượng được

Từ đó rút ra hai điều. Điều thứ nhất là quy tắc lấy năm trên sáu rất hay bị hiểu thành được phép bỏ một bài. Cách đọc chính xác hơn là môn đang tự chừa sẵn một khoản dự phòng cho lần ốm, lần trùng hạn nộp hay lần rớt mạng mà kiểu gì cũng sẽ rơi vào ai đó. Hãy tiêu khoản đó có chủ đích, kẻo tới lúc sự cố thật xảy ra thì không còn gì để tiêu.

Điều thứ hai là cấu trúc này có cả một khối bằng chứng đứng sau, và khối bằng chứng ấy có lợi cho người học nếu họ chịu đi cùng nó. Bloom (1968) chủ trương tổ chức môn học quanh những lần kiểm tra mức độ thành thạo lặp lại, rủi ro thấp, thay cho một kỳ thi duy nhất rủi ro cao, với lập luận rằng phần lớn sinh viên đạt được chuẩn cao nếu có đủ lượt thử và nhận phản hồi nhanh. Thiết kế lấy năm trên sáu là hậu duệ trực tiếp của lập luận ấy, kể cả khi đề cương không hề trích Bloom. Truy hồi kiến thức nhiều lần với rủi ro thấp, rải qua nhiều tuần, giúp nhớ lâu tốt hơn hẳn so với cùng chừng ấy công sức dồn vào một đợt. Cepeda và cộng sự (2006) quy một phần hiệu quả ấy cho khoảng cách giữa các lần luyện tập, còn Roediger và Karpicke (2006) cho thấy bản thân việc được kiểm tra đã là một sự kiện học tập mạnh hơn đọc lại. Hiệu ứng này thoạt đầu có vẻ ngược đời, vì ngay sau khi học thì đọc lại có cảm giác hiệu quả hơn. Nhưng Roediger và Karpicke (2006) đo khả năng nhớ ở ba mốc là 5 phút, 2 ngày và 1 tuần, và thấy thứ hạng đảo chiều từ mốc 2 ngày, còn tới mốc 1 tuần thì nhóm được kiểm tra bỏ xa hơn nữa. Một môn dựng từ mười hai lần chạm có chấm điểm, dù có nói ra hay không, chính là một môn thiết kế theo các kết quả nghiên cứu đó. Sinh viên nào coi mỗi bài là một thủ tục cần vượt qua rồi quên ngay thì đang trả cái giá của thiết kế ấy mà không thu về lợi ích của nó.

Một lưu ý về các con số. Cấu trúc mô tả bên trên lấy từ đề cương công bố cho một học kỳ đã qua. Trọng số, khung thời gian và chuyện có hay không có bài thi cuối kỳ đều được ấn định theo từng học kỳ, và người điều phối môn có thay đổi chúng. Hãy đọc đề cương gắn với đăng ký của chính bạn, và xem bài này là mô tả về hình dạng chứ không phải thứ thay thế cho tài liệu của bạn.

"Ngôn ngữ phi kỹ thuật" thật ra đang đòi hỏi điều gì?

Trả lời trực tiếp: Ngôn ngữ phi kỹ thuật đòi bạn viết theo quan hệ nhân quả chứ không phải viết cho giản dị. Một câu trả lời kỹ thuật có thể để cơ chế nằm ngầm trong ký hiệu, còn một câu trả lời phi kỹ thuật chỉ được điểm khi chính phần chữ gọi tên được cơ chế và điều kiện mà cơ chế đó phụ thuộc vào.

Cụm từ "ngôn ngữ phi kỹ thuật" nghe như một lời đề nghị viết cho giản dị, nhưng thực ra nó đề nghị người học viết theo quan hệ nhân quả.

Một câu trả lời kỹ thuật có thể nấp sau ký hiệu, vì chỉ cần viết rằng đường cầu dịch sang trái là người chấm tự dựng lại được lý do. Một câu trả lời phi kỹ thuật thì không có chỗ nào để nấp, vì phần chữ hoặc là chứa cơ chế, hoặc là không. Vì vậy chuẩn đầu ra này khó hơn vẻ ngoài của nó, và văn liệu kinh tế học về năng lực của sinh viên đại học cũng coi khả năng truyền đạt là một năng lực riêng chứ không phải lớp hoàn thiện về trình bày. Hansen (2001) liệt kê các năng lực kỳ vọng ở sinh viên ngành kinh tế dưới dạng những việc sinh viên làm được, và viết: "This approach focuses on what graduating majors should be able to do with the knowledge and skills they acquire in the major, that is, their ability to demonstrate their learning in practical ways" (Hansen, 2001). Khả năng trình bày lập luận kinh tế cho người ngoài ngành nằm ngang hàng trong danh sách ấy chứ không nằm dưới. Colander (2005) khảo sát nghiên cứu sinh ở các khoa kinh tế hàng đầu của Mỹ và thấy nhiều người thao tác bộ máy kỹ thuật rất thạo, nhưng lại chật vật khi phải nói bằng lời thường một mô hình thật ra hàm ý điều gì. Đó đúng là kiểu thất bại mà chuẩn đầu ra cuối cùng của ECON1010 được thiết kế để bắt sớm hơn nhiều năm, khi thói quen ấy còn rẻ để sửa.

Trên thực tế, khác biệt lộ ra chỉ trong một câu, như hai ví dụ dưới đây cho thấy.

  • Thuế đánh vào xăng làm giảm lượng cầu. Câu này nêu một kết quả. Nó đúng, và nó được rất ít điểm.
  • Thuế làm tăng mức giá mà người mua phải trả, và vì trong trung hạn có sẵn hàng thay thế, lượng cầu giảm nhiều hơn sau một năm so với sau một tuần. Câu này nêu một cơ chế, gọi tên điều kiện mà cơ chế đó phụ thuộc vào, và làm cho câu trả lời kiểm chứng được.

Câu thứ hai dài hơn không phải vì nó rườm. Nó dài hơn vì nó chứa đúng phần lập luận mà câu thứ nhất mặc định người chấm sẽ tự điền vào. Becker (1997) và Hansen (2001) gọi tên cùng một khoảng trống từ hai phía, một bên là thất bại trong giảng dạy đã được ghi nhận, một bên là năng lực mà nhà tuyển dụng kỳ vọng rõ ràng. Điều đó đáng nhớ vào lúc câu thứ hai có vẻ tốn công hơn mức điểm mà nó mang lại.

Điểm thường rơi ở đâu trong một môn như ECON1010?

Trả lời trực tiếp: Có bốn chỗ mất điểm lặp đi lặp lại: đọc thuộc mô hình thay vì áp dụng vào tình huống, thẩm định mà không nêu tiêu chí, coi đồ thị là lập luận thay vì là phần chống đỡ cho lập luận, và lẫn giữa dịch chuyển dọc đường với dịch chuyển cả đường.

Đọc thuộc mô hình thay vì áp dụng mô hình. Chuẩn đầu ra yêu cầu nhận diện lý thuyết phù hợp gắn với bối cảnh đời thực. Những bài chép lại phần giáo trình về độc quyền mà không có chi tiết nào của tình huống thật tham gia vào lập luận là đang trả lời một câu hỏi mà môn không hề đặt ra. Becker (1997), khi điểm lại nhiều thập kỷ nghiên cứu về cách dạy kinh tế học bậc đại học, thấy kiểu lỗi này phổ biến tới mức đã có tên trong văn liệu từ lâu trước khi môn này ra đời. Sinh viên được đào tạo chủ yếu qua bài giảng và giờ luyện tập có thể tái hiện mô hình khi được hỏi, nhưng không nhận ra khi nào mô hình áp dụng được vào một tình huống mới.

Thẩm định mà không nêu tiêu chí. Chuẩn đầu ra về thẩm định yêu cầu đánh giá các kết quả được đề xuất bằng lý thuyết kinh tế. Muốn đánh giá thì phải có một chuẩn được nêu ra, thường là hiệu quả hoặc phân phối, và phải nói rõ đang dùng chuẩn nào. Vilfredo Pareto đưa tiêu chí hiệu quả mà phần lớn các môn nhập môn vẫn dùng về dạng hiện đại của nó vào năm 1906, trong cuốn Manual of Political Economy, còn câu hỏi phân phối mà ông để ngỏ phần lớn lại đúng là khoảng trống mà một bài thẩm định nhắm trúng sẽ lấp, bằng cách gọi tên ai được lợi và ai chịu thiệt. Viết rằng một chính sách "gây bất lợi cho người tiêu dùng" mà không nói mối bận tâm là tổng thặng dư hay là ai gánh phần thiệt thì người chấm phải tự đoán.

Coi đồ thị là câu trả lời. Phần kiến thức nền nói người học cần thao tác được với đồ thị đơn giản, chứ không nói đồ thị là một lập luận. Hình vẽ chống đỡ cho nhận định đã viết ra bằng lời, chứ không thay thế nhận định đó. Bản thân đồ thị cung cầu cũng già hơn môn học này hơn một thế kỷ, vì Alfred Marshall phổ biến nó trong cuốn Principles of Economics năm 1890. Lịch sử ấy đáng nhớ chính vì một công cụ sinh ra để nén lập luận cho giới chuyên môn chưa bao giờ được định đứng một mình trong một câu trả lời viết cho người đọc ngoài ngành.

Lẫn giữa dịch chuyển dọc đường và dịch chuyển cả đường. Đây là lỗi kỹ thuật phổ biến nhất trong kinh tế vi mô năm nhất, và gần như lúc nào nó cũng là lỗi diễn đạt chứ không phải lỗi hiểu khái niệm. Chỉ cần nói rõ biến nào đã thay đổi, và biến đó có nằm trên trục hay không, là tránh được.

Môn nói gì về AI, và nên đọc quy định đó ra sao?

Trả lời trực tiếp: Đề cương công bố cho phép dùng công cụ AI và dịch máy, đồng thời nêu rằng chúng chỉ hỗ trợ hạn chế cho phần việc phản biện đang được đánh giá, và cảnh báo rằng không khai báo dùng AI tạo sinh có thể cấu thành vi phạm theo Bộ quy tắc ứng xử sinh viên. Quy định đặt riêng theo từng môn, nên đề cương gắn với học kỳ của bạn là tài liệu điều chỉnh bạn.

Đề cương nói thẳng rằng sinh viên được phép dùng công cụ trí tuệ nhân tạo và dịch máy, nhưng muốn hoàn thành môn thì vẫn phải tự tham gia có phản biện vào những bối cảnh và nhiệm vụ cụ thể mà các công cụ đó chỉ hỗ trợ được hạn chế. Đề cương cũng nêu rõ rằng không khai báo việc dùng AI tạo sinh có thể cấu thành vi phạm theo Bộ quy tắc ứng xử sinh viên (Student Code of Conduct).

Hãy đọc cả hai vế. Quyền được dùng là thật và nghĩa vụ khai báo cũng là thật, mà vế thứ hai mới là chỗ sinh viên gặp rắc rối, thường vì sơ ý chứ không phải cố tình. Có hai điểm thực tế cần nhớ. Điểm đầu tiên là quy định được đặt riêng theo từng môn, nên quy định nhận được ở một môn khác không nói lên điều gì về môn này, và đề cương gắn với học kỳ của chính người học mới là tài liệu điều chỉnh họ. Điểm thứ hai là một công cụ sinh ra văn kinh tế trôi chảy lại đúng là công cụ ít giúp được nhất cho chuẩn đầu ra mà môn này chấm gắt nhất, bởi một cơ chế không tự lập luận ra là một cơ chế không bảo vệ nổi trong buổi tutorial hay trước một câu hỏi truy tiếp. Công cụ AI tạo sinh kiểu này còn mới tới mức chưa có quy định nào về chúng ra đời trước các chatbot phổ biến đến tay công chúng năm 2022, và đó là một lý do khiến quy định được viết rồi viết lại theo từng môn, thay vì kế thừa từ một quy ước cũ đã ổn định.

Sáu việc đáng làm trong môn này

  1. Đọc đề cương của chính bạn ngay tuần đầu và ghi các khung thời gian nộp bài vào lịch, gồm cả khung cho lượt làm thứ hai nếu có.
  2. Quyết định trước bài nào trong mỗi chuỗi là suất dự phòng, rồi giữ nó lại thay vì tiêu ngay từ tuần thứ ba.
  3. Với mỗi kết quả học được, viết một câu gọi tên cơ chế và một câu gọi tên điều kiện mà cơ chế đó phụ thuộc vào. Cặp câu ấy chính là đơn vị được đem ra chấm trong môn này.
  4. Mỗi tuần tập giải thích một khái niệm cho một người ngoài ngành kinh tế. Nếu người đó không theo được, câu trả lời chưa đạt tới mức mà chuẩn đầu ra cuối cùng mô tả.
  5. Đối chiếu danh sách môn không tương thích với đăng ký của bạn trước hạn census, nhất là khi bạn có tín chỉ chuyển từ trường khác.
  6. Ghi lại mọi công cụ AI hay dịch máy đã dùng ngay trong lúc làm, thay vì tới lúc nộp mới ngồi dựng lại.

Đọc thêm

Nếu bạn cũng đang học, hoặc đang chọn giữa các môn kinh tế năm nhất khác, những bài dưới đây nói về đòi hỏi riêng của từng môn:

Câu hỏi thường gặp

ECON1010 có phải môn nặng toán không?
Phần mô tả môn của University of Queensland nêu rằng trọng tâm đặt vào các nguyên lý áp dụng được ngay chứ không vào lý thuyết toán học hình thức, và kiến thức nền được giả định là số học cơ bản cộng với khả năng đọc đồ thị đơn giản. Môn không phải không có toán, nhưng theo cách School of Economics thiết kế đề đánh giá, phần khó được đem ra chấm nằm ở khả năng giải thích chứ không nằm ở tính toán.

ECON1010 có môn tiên quyết không?
Thông tin môn học công bố của UQ không liệt kê môn tiên quyết nào. Nhưng có liệt kê các môn không tương thích, gồm ECON1011, ECON2011 và ECON2012, đồng thời sinh viên chương trình Advanced Business (Honours) hoặc Advanced Finance and Economics (Honours) không được học ECON1010.

Vì sao bài này không nêu tỷ lệ chấm điểm cụ thể?
Vì trọng số, khung thời gian và chuyện có bài thi cuối kỳ hay không đều do School of Economics tại University of Queensland ấn định theo từng học kỳ và đã từng khác nhau giữa các kỳ. Cấu trúc mô tả ở đây lấy từ đề cương ECON1010 công bố cho một học kỳ đã qua, còn tài liệu quyết định điểm của bạn là đề cương gắn với đăng ký của chính bạn.

Quy tắc lấy năm trên sáu thật sự có nghĩa gì?
Nó có nghĩa là mỗi chuỗi được bỏ một bài mà không bị phạt, và cách hiểu đúng nhất là môn đang chừa sẵn một khoản dự phòng cho sự cố ngoài ý muốn chứ không phải cho bạn một suất nghỉ miễn phí. Tiêu hết khoản đó rồi thì một lần ốm hay một lần trùng hạn về sau sẽ trừ thẳng vào điểm.

Tôi có được dùng công cụ AI trong ECON1010 không?
Đề cương công bố cho phép dùng công cụ AI và dịch máy, đồng thời nêu rằng chúng chỉ hỗ trợ được hạn chế cho phần việc phản biện đang được đánh giá, và cảnh báo rằng không khai báo việc dùng AI tạo sinh có thể cấu thành vi phạm. Quy định khác nhau giữa các môn tại University of Queensland, nên hãy kiểm tra đề cương của chính học kỳ bạn đang học thay vì mặc định áp quy định từ nơi khác.


MAAS đứng ở đâu trong việc này

Cố vấn của MAAS làm việc cùng sinh viên trong những môn như thế này, chứ không làm thay. Với một môn năm nhất được chấm qua khả năng giải thích, hai việc hữu ích nhất mà một cố vấn làm là thúc bạn tới khi mỗi nhận định viết ra đều gọi tên được cơ chế của nó, và đọc bài bằng con mắt người ngoài ngành để bạn nghe ra chỗ nào lập luận bắt đầu không theo được nữa. Phần việc vẫn là của bạn. Nếu cách làm đó hữu ích, dịch vụ hỗ trợ làm assignment và essay và dịch vụ gia sư là hai nơi để bắt đầu.


Sinh viên nào học tiếp phần kiểm định các quan hệ này bằng dữ liệu sẽ gặp một kiểu lập luận khác, được trình bày trong bài hướng dẫn báo cáo nghiên cứu kinh tế lượng ECON2300.

References

Becker, W. E. (1997). Teaching economics to undergraduates. Journal of Economic Literature, 35(3), 1347–1373.

Bloom, B. S. (1968). Learning for mastery. Evaluation Comment, 1(2), 1–12.

Cepeda, N. J., Pashler, H., Vul, E., Wixted, J. T., & Rohrer, D. (2006). Distributed practice in verbal recall tasks: A review and quantitative synthesis. Psychological Bulletin, 132(3), 354–380. https://doi.org/10.1037/0033-2909.132.3.354

Colander, D. (2005). The making of an economist redux. Journal of Economic Perspectives, 19(1), 175–198. https://doi.org/10.1257/0895330053147976

Hansen, W. L. (2001). Expected proficiencies for undergraduate economics majors. The Journal of Economic Education, 32(3), 231–242. https://doi.org/10.1080/00220480109596105

Roediger, H. L., & Karpicke, J. D. (2006). Test-enhanced learning: Taking memory tests improves long-term retention. Psychological Science, 17(3), 249–255. https://doi.org/10.1111/j.1467-9280.2006.01693.x

Tools & resources

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Cần áp dụng vào bài của bạn?

Từ bài viết này
đến bài của bạn.

Trong một buổi tư vấn miễn phí 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS nghe đề bài hoặc đề tài của bạn cùng yêu cầu của người hướng dẫn, rồi gợi ý cách áp dụng nội dung bài này vào đúng trường hợp đó.