Skip to content
Quay lại BlogGeneral

COMM3020: môn không chấm điểm thì bạn đang làm vì cái gì?

17 phút đọc3,245 từ

Gần như mọi bài hướng dẫn môn học đều trả lời cùng một câu hỏi là làm sao để điểm cao hơn. Bài này thì không trả lời được, bởi COMM3020 chấm theo kiểu đạt hoặc không đạt, chẳng có khung điểm giỏi nào để nhắm tới.

Gần như mọi bài hướng dẫn môn học đều trả lời cùng một câu hỏi là làm sao để điểm cao hơn. Bài này thì không trả lời được, bởi COMM3020 chấm theo kiểu đạt hoặc không đạt, chẳng có khung điểm giỏi nào để nhắm tới. Cái đích quen thuộc biến mất và thay vào đó là một cái đích khó hơn. Môn này tạo ra một thứ bạn sẽ dùng trong các buổi phỏng vấn nhiều năm về sau, nhưng chỉ khi bạn chủ ý gom góp bằng chứng ấy ngay trong lúc còn đang ở đó, còn một kết quả đạt thì hoàn toàn có thể đi kèm với việc bạn trở về mà chẳng mang theo gì ngoài vài câu chuyện về đồ ăn.

Ghi chú về mã môn: bài này viết về môn của UNSW Sydney. Mã COMM 3020 ở Cornell, Walden và vài trường khác lại là môn phương pháp nghiên cứu truyền thông hoặc kể chuyện số, hoàn toàn không liên quan.

Tác giả: Đội ngũ biên tập MAAS · Hiệu đính bởi cố vấn cấp cao ngành Kinh doanh (Tiến sĩ, Kinh doanh quốc tế)
Cập nhật lần cuối: 14/08/2026
Chuyên mục: mẹo viết bài


Môn học được cấu trúc thế nào?

Trả lời trực tiếp: COMM3020 Global Business Practicum là môn học tích hợp thực tiễn trị giá 6 đơn vị tín chỉ, thuộc chương trình Career Accelerator của UNSW Business School, mở vào kỳ hè cùng hai kỳ 2B và 3B, và chấm theo thang đạt hoặc không đạt. Bạn được xếp vào một nhóm sinh viên đa ngành, ghép với một tổ chức tiếp nhận, rồi cả nhóm thực hiện một dự án tư vấn cho chính tổ chức đó.

Bằng chứng: Trang giới thiệu môn mô tả cấu trúc ba giai đoạn: các buổi tập huấn tại trường trước khi đi, phần việc dự án làm từ xa cùng tổ chức tiếp nhận, rồi giai đoạn làm việc trực tiếp tại văn phòng của họ ở nước ngoài. Các điểm đến đối tác được liệt kê gồm Bangkok, Hong Kong, Jakarta, Seoul và Singapore. Những dự án tiêu biểu của các khoá gần đây gồm nghiên cứu thị trường, phân tích hiệu suất quy trình kinh doanh, thiết kế khung năng lực lãnh đạo, xây dựng chiến lược mở rộng và phân tích cạnh tranh, và danh sách đó cho thấy sản phẩm cuối là một khuyến nghị thật cho một tổ chức thật, không phải bài tập học thuật chấm theo thang tiêu chí.

Ví dụ: Một bạn sinh viên tham gia với hình dung rằng đây là kỳ thực tập có người phân việc, nên tuần đầu thấy chệch choạc vì chẳng ai giao việc gì cả. Bên tiếp nhận mô tả một vấn đề chứ không mô tả một khối lượng công việc. Những gì nhóm tự quyết định làm sau đó chính là dự án.

Các đầu bài đánh giá cùng yêu cầu của chúng nằm trong đề cương công bố cho đúng kỳ bạn học, và cấu trúc có thay đổi giữa các đợt mở lớp, nên bạn hãy đọc tài liệu đó thay vì nghe lại từ khoá trước.


Chấm đạt hoặc không đạt thì thay đổi điều gì?

Trả lời trực tiếp: Động lực tối ưu hoá biến mất, và tấm lưới an toàn của điểm thành phần cũng biến mất theo. Bạn không thể lấy một bài viết tốt để bù cho phần đóng góp mờ nhạt, và cũng không thể tích một điểm cao để kéo điểm trung bình lên.

Bằng chứng: Có hai hệ quả kéo theo, và chúng đi ngược chiều nhau. Hệ quả thứ nhất là sự tự do: bạn được phép chọn phiên bản khó hơn của dự án, bởi một khuyến nghị tham vọng mà thành công một phần với một khuyến nghị an toàn mà tròn trịa đều cho ra cùng một dòng trên bảng điểm. Sinh viên hiếm khi dùng tới quyền tự do này, và đó đúng là lý do việc dùng nó khiến bạn khác biệt. Hệ quả thứ hai là chẳng có gì trong hệ thống chấm điểm ghi lại việc bạn đã làm. Ở một môn có điểm, điểm số chính là bằng chứng. Còn ở đây, ghi chép duy nhất còn lại về phần đóng góp của bạn là thứ do chính bạn tạo ra.

Môn có điểm cho bạn cái gì Môn này cho bạn cái gì thay vào đó
Một con số phát tín hiệu về năng lực Một sản phẩm bàn giao cho khách hàng, trong đó có phần việc của bạn
Một thang tiêu chí nói cho bạn biết cái gì được tính Một tổ chức tiếp nhận mà vấn đề thật của họ quyết định cái gì được tính
Điểm thành phần cho một nỗ lực dở dang Một kết quả chỉ có hai mức, cộng với thứ bạn tự chứng minh được về sau

Ví dụ: Hai bạn sinh viên cùng trở về từ một chuyến đi. Một bạn kể được rằng mình đã hoàn thành một dự án tư vấn ở nước ngoài. Bạn còn lại kể được rằng phần phân tích quy mô thị trường của nhóm đã thuyết phục bên tiếp nhận hoãn kế hoạch mở rộng lại hai quý, rằng bạn dựng ước lượng đó từ ba nguồn dữ liệu vì nguồn hiển nhiên nhất không đáng tin, và rằng nếu làm lại thì bạn sẽ đổi chỗ nào. Cả hai đều đạt. Chỉ một trong hai người có câu trả lời cho nhà tuyển dụng.


Vì sao nhóm đa văn hoá không tự nhiên làm tốt hơn?

Trả lời trực tiếp: Bởi vì sự đa dạng văn hoá trong một nhóm mang lại cái được và cái mất cùng lúc, và bên nào lấn át phụ thuộc vào cách nhóm làm việc chứ không phụ thuộc vào việc nhóm đa dạng tới đâu.

Bằng chứng: Stahl, Maznevski, Voigt và Jonsen (2010) tổng hợp 108 nghiên cứu trên 10.632 nhóm làm việc và thấy các tác động của đa dạng văn hoá chạy theo cả hai chiều cùng một lúc. Sự đa dạng đi kèm với mức sáng tạo tăng lên, thứ mà nhóm tác giả xem là cái lợi có được khi các góc nhìn trong nhóm tách xa nhau, đồng thời đi kèm với nhiều mâu thuẫn hơn cùng khả năng giao tiếp và mức gắn kết xã hội yếu hơn, tức là cái giá phải trả khi nhóm khó xích lại gần nhau. Cách đọc thực dụng cho một nhóm thực hành là phần sáng tạo có sẵn ở đó nhưng không tự đến, còn phần va chạm thì cứ đến bất kể bạn có khai thác được phần sáng tạo hay không. Một nhóm không bao giờ đưa bất đồng ra ánh sáng sẽ lãnh trọn cái giá của sự rời rạc mà chẳng nhận được cái lợi của những góc nhìn khác nhau, đó là tổ hợp tệ nhất có thể xảy ra và cũng là tổ hợp phổ biến nhất khi cả nhóm đang cố giữ lịch sự với những người mới quen ba tuần.

Còn một câu hỏi nữa về năng lực của từng cá nhân bên trong nhóm ấy. Earley và Ang (2003) đề xuất khái niệm trí thông minh văn hoá như một năng lực riêng để vận hành hiệu quả trong bối cảnh khác văn hoá, tách khỏi trí thông minh nói chung và tách khỏi tính cách. Cách đóng khung của họ hữu ích ở đây chủ yếu như một lời đính chính: nếu xoay xở với khác biệt văn hoá là một năng lực chứ không phải một nét tính cách, thì đó là thứ một chuyến thực hành có thể bồi đắp, và cũng là thứ bạn được phép còn yếu mà điều đó không nói lên gì về năng lực chung của bạn. Sinh viên chật vật trong tuần đầu hay kết luận rằng mình dở việc. Thường thì họ chỉ đang mới với một kỹ năng cụ thể mà trước nay chưa ai bắt họ tập.

Ví dụ: Một nhóm năm người chia rẽ trong im lặng quanh chuyện có nên khuyến nghị phương án mà bên tiếp nhận rõ ràng đang nghiêng về hay không. Bất đồng ấy chưa bao giờ được nói ra giữa phòng họp, nên bài trình bày cuối cùng nói nước đôi. Khi được hỏi lại sau đó rằng lập luận mạnh nhất chống lại khuyến nghị của nhóm là gì, ba thành viên gọi tên nó ngay lập tức. Nó tồn tại suốt từ đầu và chưa từng được đem ra dùng.


Tổ chức tiếp nhận thật sự cần gì ở một nhóm sinh viên?

Trả lời trực tiếp: Cần một khuyến nghị họ hành động được, đóng khung vừa với những gì một nhóm nhỏ thật sự xác lập nổi trong quỹ thời gian có hạn. Các tổ chức hiếm khi thiếu ý tưởng, thứ họ thiếu là người có thời gian kiểm cho ra ngô ra khoai một ý tưởng.

Bằng chứng: Những loại dự án được công bố cho các khoá gần đây, gồm nghiên cứu thị trường, phân tích hiệu suất quy trình và phân tích cạnh tranh, đều chung một hình dạng. Mỗi cái đều là câu hỏi mà tổ chức chưa có nguồn lực để trả lời, chứ không phải câu hỏi họ không trả lời nổi. Điều này quan trọng lúc khoanh phạm vi, bởi một nhóm hứa hẹn cả chiến lược mở rộng trong vài tuần sẽ giao ra phiên bản hời hợt của thứ mà bên tiếp nhận vốn đã ngờ ngợ, còn một nhóm hứa trả lời thật chắc một câu hỏi hẹp hơn thì giao ra thứ dùng được. Thu hẹp đề bài không phải là hạ thấp tham vọng, đó là điều kiện để mình có ích.

Ví dụ: Một nhóm được giao đánh giá cơ hội mở rộng đã đề xuất trả lời trước một câu hỏi nằm phía trước: liệu giấy phép mà kế hoạch kia mặc định sẽ có thì trong khung thời gian dự kiến có xin nổi không. Câu trả lời là không. Bên tiếp nhận đổi kế hoạch. Một tài liệu chiến lược toàn diện dựng trên giả định ban đầu vừa mất nhiều thời gian hơn vừa đáng giá ít hơn.


Làm sao biến vài tuần ở nước ngoài thành bằng chứng?

Trả lời trực tiếp: Bằng cách ghi lại các chi tiết cụ thể ngay lúc chúng đang diễn ra, bởi đúng những chi tiết làm nên độ tin cậy của một trải nghiệm lại là thứ trí nhớ vứt đi trước tiên.

Bằng chứng: Học tập tích hợp thực tiễn không tự động mang lại sự phát triển. Jackson (2015) xem xét việc hình thành kỹ năng nghề nghiệp trong học tập tích hợp thực tiễn, chỉ ra cả rào cản lẫn cách làm tốt, và thấy kết quả phụ thuộc vào chuyện chuyến thực hành được thiết kế và hỗ trợ ra sao chứ không tự nhiên nảy ra từ bản thân chuyến đi. Về sau, Jackson và Dean (2023) tìm thấy rằng các loại hình học tập tích hợp thực tiễn khác nhau đóng góp khác nhau vào kết quả nghề nghiệp của sinh viên tốt nghiệp. Không phát hiện nào nói rằng đi thực hành thì vô ích. Cả hai đều nói cơ chế mới là thứ quyết định, và điều đó đẩy một phần trách nhiệm về phía bạn ở chỗ mà cấu trúc môn học không lo hộ. Phiên bản thực dụng của nó là một ghi chú ngắn mỗi tuần, ghi lại quyết định mà nhóm phải đối mặt, bạn đã bảo vệ phương án nào, chuyện gì xảy ra sau đó, và bạn sẽ đổi gì. Việc này tốn vài phút, và nó là khác biệt giữa câu "em có làm một dự án tư vấn ở Jakarta" với một lời kể cụ thể về một phán đoán bạn đưa ra trong điều kiện chưa chắc chắn.

Ví dụ: Một bạn sinh viên ghi bốn ghi chú ngắn trong suốt chuyến đi. Sáu tháng sau, trong buổi phỏng vấn tuyển dụng, bạn được hỏi về một lần bất đồng với đồng đội. Bạn có sẵn ghi chú đó, gồm cả chi tiết rằng lần ấy mình sai và mình nhận ra bằng cách nào. Phiên bản thành thật của câu trả lời đó mạnh hơn phiên bản đã đánh bóng, và muốn có nó thì phải ghi chép.


Sinh viên hay lãng phí chuyến thực hành ở đâu?

Trả lời trực tiếp: Ở khoảng cách giữa việc có mặt với việc đóng góp, và ở chỗ coi giai đoạn trước khi bay là thủ tục cho xong. Phần việc dự án từ xa diễn ra trước khi bạn lên máy bay, nên một nhóm hạ cánh mà chưa khoanh được câu hỏi sẽ tiêu tuần đắt đỏ nhất của mình để quyết xem nên làm gì.

Bằng chứng: Cấu trúc công bố đặt các buổi tập huấn và phần khởi động dự án từ xa trước giai đoạn làm việc tại chỗ, nghĩa là thời gian ở nước ngoài vốn dành cho phần việc bắt buộc phải có mặt mới làm được: nói chuyện với người thật, nhìn tận mắt quy trình, kiểm một giả định trên chính hoạt động đang chạy. Thời gian ở nước ngoài mà đem đi khoanh phạm vi là thời gian lẽ ra được ngồi cùng phòng với nhân sự của bên tiếp nhận. Đây là phiên bản riêng của môn thực hành cho một điểm chung về các kỳ thực tập, và nó cũng là phần bạn nắm quyền nhiều nhất, bởi giai đoạn trước khi đi chỉ đòi bạn bỏ công chuẩn bị.

Với sinh viên làm việc qua một hàng rào ngôn ngữ, dạng lãng phí tương ứng là im lặng trong buổi họp rồi sáng ra khi họp xong. Nói ra một câu hỏi còn dở dang ngay giữa phòng đáng giá hơn một câu hỏi trau chuốt nói sau đó, và các tổ chức tiếp nhận đều đặn đọc câu hỏi như dấu hiệu của sự tham gia chứ không phải dấu hiệu của thiếu hiểu biết.

Ví dụ: Một nhóm tới nơi khi đề bài vẫn còn rộng. Họ mất bốn ngày để tìm ra nên xem xét cái gì, nên rốt cuộc chỉ trình bày được một phát hiện sơ bộ thay vì một phát hiện đã kiểm. Nhóm bên tổ chức tiếp nhận khác chốt xong câu hỏi từ trước khi bay và dùng đúng bốn ngày ấy để phỏng vấn nhân viên kho, và chính từ đó ra được điều duy nhất mà khách hàng chưa từng nghĩ tới.


Cố vấn MAAS thật sự làm gì ở một môn như thế này?

Phần lớn giá trị ở đây dồn về phía trước và trông chẳng hào nhoáng gì. Trước khi bay, cố vấn giúp bạn cắt đề bài của bên tiếp nhận xuống thành một câu hỏi mà nhóm thật sự xác lập nổi, và đó thường là giờ đồng hồ đáng giá nhất của cả dự án. Trong lúc đi, cuộc trò chuyện có ích xoay quanh bằng chứng, tức chuyện những gì bạn nghe được từ ba người dễ chịu có đủ để chống đỡ cho khuyến nghị mà nhóm đang trôi dần về phía đó hay chưa. Sau khi về, trọng tâm chuyển sang việc rút ra, tức biến những gì đã xảy ra thành một lời kể cụ thể dùng được trong phỏng vấn thay vì một lời kể chung chung. Dự án là của bạn và quan hệ với khách hàng cũng vậy, còn cố vấn là người hỏi bạn sẽ nói gì nếu bên tiếp nhận phản bác lại.

Một phạm vi chốt sai chỗ vừa đắt vừa khó gỡ khi đã hạ cánh rồi. Nếu nhóm bạn sắp phải ra quyết định đó, trao đổi với bên mình trước đã.


Câu hỏi thường gặp

Kết quả đạt có ảnh hưởng tới điểm trung bình của mình không?
Các môn chấm theo thang đạt hoặc không đạt thì không đóng góp một con số điểm, nên thông thường chúng nằm ngoài phép tính điểm trung bình có trọng số. Bạn hãy đối chiếu cách xử lý này với quy định hiện hành của UNSW và quy chế chương trình của mình, vì những điều này có được sửa đổi theo thời gian.

Có những điểm đến nào?
Các điểm đến đối tác được công bố gồm Bangkok, Hong Kong, Jakarta, Seoul và Singapore. Danh sách thay đổi theo từng kỳ và từng khoá, nên bạn hãy kiểm tra đợt mở lớp hiện hành trước khi tính toán quanh một địa điểm cụ thể.

Bao nhiêu phần việc diễn ra trước khi mình lên đường?
Cấu trúc công bố gồm các buổi tập huấn tại trường và phần việc dự án từ xa với bên tiếp nhận, cả hai đều nằm trước giai đoạn làm việc tại chỗ. Bạn nên xem giai đoạn đó là bước khoanh phạm vi chứ không phải bước chuẩn bị, vì chất lượng những tuần ở nước ngoài phụ thuộc vào nó.

Nếu nhóm mình không thống nhất được khuyến nghị thì sao?
Bất đồng mà được nói ra giữa phòng họp là thứ có ích, và bằng chứng cho thấy đó chính là nơi giá trị của một nhóm đa dạng sinh ra. Thứ làm hỏng dự án là bất đồng nằm im trong lòng từng người rồi biến khuyến nghị cuối cùng thành một thoả hiệp mà chẳng ai từng bảo vệ.

Môn này có ích không nếu mình đã đi làm rồi?
Điểm khác biệt không nằm ở kinh nghiệm đi làm mà nằm ở chuyện làm cố vấn từ bên ngoài cho một tổ chức ở nước khác, không có quyền hạn gì và thiếu bối cảnh. Tổ hợp đó hiếm gặp trong công việc bán thời gian, và nó cũng chính là phần mà nhà tuyển dụng hay hỏi tới.


Bài liên quan


References

Earley, P. C., & Ang, S. (2003). Cultural intelligence: Individual interactions across cultures. Stanford University Press. https://doi.org/10.1515/9780804766005

Jackson, D. (2015). Employability skill development in work-integrated learning: Barriers and best practice. Studies in Higher Education, 40(2), 350–367. https://doi.org/10.1080/03075079.2013.842221

Jackson, D., & Dean, B. A. (2023). The contribution of different types of work-integrated learning to graduate employability. Higher Education Research & Development, 42(1), 93–110. https://doi.org/10.1080/07294360.2022.2048638

Stahl, G. K., Maznevski, M. L., Voigt, A., & Jonsen, K. (2010). Unraveling the effects of cultural diversity in teams: A meta-analysis of research on multicultural work groups. Journal of International Business Studies, 41(4), 690–709. https://doi.org/10.1057/jibs.2009.85

Tools & resources

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.