Muốn viết tốt bài của COMM2639 Media and Communication Internship, bạn cần coi những việc mình làm trong kỳ thực tập, kể cả việc vặt, là dữ liệu về cách truyền thông được tạo ra ở nơi làm việc, ghi lại chúng ngay từ tuần đầu, rồi phân tích một vài sự việc cụ thể bằng lý thuyết thay vì kể lại cả kỳ thực tập. Bài viết này sẽ hướng dẫn bạn ghi chép, chọn lý thuyết, viết phản biện một cách chuyên nghiệp và dựng cấu trúc bài phản tư (reflective report) sao cho điểm dồn vào phần phân tích, qua những câu hỏi mà sinh viên Việt học COMM2639 hay mang tới cố vấn MAAS.
"Kỳ thực tập của em toàn việc hành chính, em không có gì để viết." Cố vấn MAAS nghe câu này gần như ở mọi buổi tư vấn, thường là hai tuần trước hạn nộp bài. Đó là một chẩn đoán sai. Nghiên cứu về học tập tại nơi làm việc cho thấy phần lớn những gì người ta học được ở công sở chưa bao giờ được dạy chính thức, và người mới bắt đầu từ rìa của công việc thật là do thiết kế chứ không phải tình cờ. Vấn đề gần như không bao giờ là không có gì xảy ra, mà là không ai ghi lại những gì đã xảy ra.
Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật lần cuối: 2026-07-28
Chuyên mục: communication-pr

COMM2639 là môn gì và thuộc cơ sở nào?
Trả lời ngắn: COMM2639 là mã môn RMIT của Media and Communication Internship, dạy sinh viên đại học tại Melbourne City Campus. Chi tiết này quan trọng vì môn tương đương ở RMIT Việt Nam mang mã khác, COMM2695 tại Nam Sài Gòn và COMM2774 tại Hà Nội. Nếu bạn học ở Melbourne thì COMM2639 là mã của bạn, còn tài liệu viết cho bản dạy ở Việt Nam có thể không khớp yêu cầu thực tập của bạn.
Dẫn chứng: Trong RMIT Handbook, môn nằm ở hồ sơ 050204, Media and Communication Internship, liệt kê COMM2639 tại City Campus, COMM2695 tại RMIT Việt Nam cơ sở Nam Sài Gòn và COMM2774 tại RMIT Việt Nam Hà Nội, tất cả đều ở bậc đại học.
Ví dụ: Một sinh viên ở Melbourne tải về mẫu bài phản tư mà một người bạn ở Nam Sài Gòn từng dùng. Cấu trúc trông rất thuyết phục nên bạn ấy viết theo. Cố vấn phát hiện chỗ lệch ngay ở khâu dàn ý, vì course guide của chính sinh viên đó yêu cầu hồ sơ ghi nhận số giờ thực tập và sự tham gia của người hướng dẫn tại nơi làm việc, hai thứ mà mẫu kia không có. Mười lăm phút kiểm tra đã giúp bạn ấy tránh một lần viết lại.
Môn thực tập là loại môn gì, và vì sao điều đó đổi cách viết?
Trả lời ngắn: Môn thực tập là một môn Work Integrated Learning (WIL), tức học tập gắn với công việc, nơi kiến thức và kỹ năng được áp dụng và chấm điểm trong môi trường làm việc thật, và phản hồi từ phía doanh nghiệp là một phần của thiết kế đánh giá. Điều đó đổi thể loại bài, vì bạn không được chấm theo độ hoành tráng của nơi thực tập mà theo chất lượng lập luận dựng từ nó.
Các môn thuộc nhóm này ở RMIT thường gắn với kỳ thực tập khoảng 80 đến 120 giờ tại một đơn vị trong nước hoặc quốc tế, đi kèm các hoạt động học buộc bạn phản tư có phản biện về trải nghiệm đó.
Dẫn chứng: RMIT mô tả các môn thuộc nhóm này là môn Work Integrated Learning, trong đó kiến thức và kỹ năng được áp dụng và đánh giá trong bối cảnh nơi làm việc thật hoặc mô phỏng, với phản hồi từ doanh nghiệp là phần không tách rời của trải nghiệm, và nêu rõ kỳ thực tập trong các môn này kéo dài từ 80 đến 120 giờ. Hình thức đánh giá có thể gồm essay, báo cáo, bài phản tư và dự án sáng tạo.
Ví dụ: Hai sinh viên cùng khoá có hai kỳ thực tập rất khác nhau, một bạn ở một agency lớn, một bạn ở một tổ chức phi lợi nhuận gần như không có ngân sách. Bạn ở tổ chức phi lợi nhuận được điểm cao hơn, vì kỳ thực tập của bạn ấy cho một ràng buộc thật để phân tích, là một đội truyền thông tiếp cận công chúng thế nào khi không có đồng nào cho quảng cáo trả phí. Một phân tích thú vị đã thắng một tên tuổi thương hiệu lớn.
Vì sao "em chỉ làm việc hành chính" là một chẩn đoán, không phải sự thật?
Trả lời ngắn: Việc dành cho người mới là cách tổ chức đưa người mới vào guồng, và những việc ấy đầy chất liệu để phân tích. Xếp lịch đăng bài cho bạn biết lịch nội dung được quản trị ra sao, soạn danh sách báo chí cho bạn biết tổ chức nghĩ công chúng của mình là ai, còn ngồi im trong một buổi họp khách hàng cho bạn biết người phụ trách khách hàng xử lý bất đồng thế nào.
Công việc có vị thế thấp nhưng bằng chứng thì không. Nhiệm vụ của bạn trong bài là coi những việc thường ngày ấy như dữ liệu về cách sản phẩm truyền thông thật sự được làm ra.
Dẫn chứng: Lave và Wenger (1991) gọi những nhiệm vụ tưởng như bên lề của người mới là tham gia ngoại vi chính đáng (legitimate peripheral participation), tức một lộ trình có cấu trúc để bước vào một cộng đồng thực hành, chứ không phải thời gian bị lãng phí. Eraut (2004) phát hiện rằng phần lớn việc học ở nơi làm việc diễn ra phi chính thức và phần lớn không được chính người học nhận ra, và đó đúng là lý do sinh viên nói mình chẳng học được gì trong khi thực tế đã học rất nhiều.
Ví dụ: Một sinh viên dành cả kỳ thực tập để gỡ băng phỏng vấn và nghĩ việc đó vô ích. Cố vấn hỏi bạn ấy có nhận ra điều gì về những câu trích nào được giữ lại trong bài báo cuối cùng không. Hoá ra sinh viên đó có nhận ra một quy luật, là câu trích có con số cụ thể thì qua được khâu biên tập, còn câu trích toàn tính từ thì bị cắt. Quan sát ấy trở thành trục phân tích của cả bài phản tư.
Tuần đầu nên làm gì để tuần thứ mười đỡ vất vả?
Trả lời ngắn: Hãy ghi nhật ký có cấu trúc ngay từ ca làm đầu tiên, và ghi thành bốn cột chứ đừng viết kiểu nhật ký tâm sự. Cột một là chuyện gì đã xảy ra, kèm ngày. Cột hai là bạn đã làm gì. Cột ba là điều gì làm bạn bất ngờ hoặc không diễn ra như dự tính. Cột bốn là khái niệm hay bài đọc nào của môn nối được với sự việc đó.
Mười phút cuối mỗi ngày là đủ. Chi tiết cụ thể là thứ ăn điểm trong bài phản tư, mà chi tiết thì phai rất nhanh, nên tới tuần thứ mười bạn sẽ nhớ rằng một buổi họp từng căng thẳng nhưng không nhớ người ta đã nói gì.
Dẫn chứng: Gibbs (1988) mô tả việc phản tư như một chuỗi chặng chứ không viết tự do, đi từ mô tả qua phân tích tới kế hoạch hành động, và các khung phản tư dùng trong giáo dục đại học dồn điểm vào những chặng sau. Chính những chặng sau mới cần chất liệu thô cụ thể, thứ mà một ký ức không được ghi lại không cung cấp nổi.
Ví dụ: Một sinh viên không ghi chép gì viết bài phản tư đầy những câu như "em đã cải thiện kỹ năng giao tiếp". Cố vấn không giúp bạn ấy chứng minh được câu nào, vì các sự việc đã trôi mất. Một sinh viên khác có ghi nhật ký hằng ngày thì viết về đúng một lần khách hàng bác một dòng tiêu đề, trích lại lý do họ đưa ra, rồi phân tích nó dựa trên lý thuyết về công chúng. Hai bài dài như nhau nhưng nằm ở hai dải điểm khác nhau.
Viết phản biện về người hướng dẫn hay nơi thực tập thế nào cho chuyên nghiệp?
Trả lời ngắn: Hãy phân tích cách làm việc chứ đừng phân tích con người. "Người hướng dẫn của em thiếu tổ chức" là một lời than và là một rủi ro nghề nghiệp. "Các brief gửi xuống không nêu công chúng mục tiêu, nên bản nháp bị sửa ở giai đoạn muộn" là một quan sát về quy trình làm việc, và quan sát đó thì phân tích được, cải thiện được.
Hãy để tên riêng và chi tiết nhận dạng ra ngoài trừ khi đề bài yêu cầu, mô tả điều bạn quan sát được thay vì điều bạn đoán người khác có ý gì, và nhớ rằng bài phản tư của bạn có thể được đọc bởi người biết rõ tổ chức đó.
Dẫn chứng: Trong văn liệu nghiên cứu, học tập gắn với công việc được hiểu là nơi hình thành bản sắc nghề nghiệp (professional identity), không chỉ là nơi học kỹ năng. Trede (2012) viết: "WIL is an ideal space to develop professional identity and professionalism because it is the space that occupies both learning and work" (p. 159), tức WIL là không gian lý tưởng để phát triển bản sắc nghề nghiệp vì nó nằm giữa việc học và việc làm. Giọng bạn dùng khi viết về đồng nghiệp là một phần bằng chứng mà người chấm đọc ra về bản sắc nghề nghiệp đó.
Ví dụ: Một sinh viên viết rằng cả đội "không quan tâm tới chất lượng". Cố vấn hỏi bạn ấy thật sự đã thấy gì, và câu trả lời là việc duyệt bài diễn ra trong một nhóm chat không quản lý phiên bản, nên các bản sửa chọi nhau. Khi sinh viên đó diễn đạt lại theo hướng ấy, cùng một quan sát trở thành một phân tích quy trình kèm khuyến nghị bảo vệ được, và đọc lên thấy chuyên nghiệp chứ không thấy ấm ức.
Bài phản tư về kỳ thực tập nên dùng lý thuyết nào?
Trả lời ngắn: Nên dùng hai loại, trong khi sinh viên thường chỉ mang theo một. Loại thứ nhất là lý thuyết truyền thông từ chuyên ngành của bạn, như công chúng, khung diễn giải (framing), quan hệ báo chí và chiến lược nội dung, áp vào những gì bạn thấy được làm ra. Loại thứ hai là lý thuyết về học tập và thực hành nghề nghiệp, dùng để phân tích chính sự trưởng thành của bạn.

Chỉ mang loại thứ nhất thì bài thành một báo cáo công việc, chỉ mang loại thứ hai thì bài thành một bài tự sự kiểu sách self-help. Mang cả hai, bạn mới lập luận được rằng một trải nghiệm cụ thể đã thay đổi một phán đoán nghề nghiệp cụ thể.
| Bạn đang phân tích điều gì | Lăng kính hữu ích | Luận điểm nó chống đỡ |
|---|---|---|
| Vì sao việc thường ngày vẫn dạy bạn điều gì đó | Tham gia ngoại vi chính đáng, theo Lave và Wenger (1991) | Việc bên lề là lối vào có cấu trúc, không phải thời gian bỏ đi |
| Những kỹ năng không ai dạy chính thức | Học tập phi chính thức tại nơi làm việc, theo Eraut (2004) | Phần lớn điều bạn học là ngầm ẩn và cần được diễn đạt ra có chủ đích |
| Điều bạn tự điều chỉnh giữa chừng | Phản tư trong lúc hành động, theo Schön (1983) | Bạn đã dùng phán đoán nghề nghiệp, không chỉ làm theo chỉ dẫn |
| Kỳ thực tập có tăng năng lực nghề nghiệp không | WIL và kỹ năng làm việc, theo Jackson (2015) | Kỹ năng nào chuyển giao được, và thiết kế kỳ thực tập bỏ sót kỹ năng nào |
| Chất lượng của chính kỳ thực tập | Khung đánh giá chất lượng chương trình WIL, theo Smith (2012) | Đánh giá trải nghiệm chứ không chỉ tường thuật lại nó |
Dẫn chứng: Billett (2009) lập luận rằng trải nghiệm nơi làm việc chỉ phát huy giá trị giáo dục khi nó được tích hợp có chủ đích với việc học trong trường, chứ không để nó đứng riêng. Jackson (2015) phát hiện rằng kỹ năng làm việc phát triển không đồng đều trong các chương trình WIL và phụ thuộc vào cách thiết kế kỳ thực tập, và phát hiện đó cho phép bạn đánh giá kỳ thực tập của mình có phản biện thay vì chỉ cảm ơn cho lịch sự.
Ví dụ: Bản nháp của một sinh viên trích lý thuyết khung diễn giải rất vững cho phần chiến dịch bạn ấy quan sát được, nhưng phần nói về sự trưởng thành của bản thân thì chung chung. Cố vấn gợi ý thêm đúng một nguồn, là Eraut viết về học tập phi chính thức. Nguồn đó cho sinh viên đó bộ từ để giải thích những gì bạn ấy đã hấp thụ mà không ai dạy, và phần cá nhân thôi nghe như một lá thư xin việc.
Nên cấu trúc bài phản tư thế nào, và cắt bỏ cái gì?
Trả lời ngắn: Trước hết hãy theo đề bài của bạn. Ở phần được tự quyết, một cấu trúc thường đáng tin gồm mở đầu ngắn nêu câu hỏi nghề nghiệp mà kỳ thực tập đặt ra, bối cảnh nơi thực tập dưới mười phần trăm số chữ, hai hoặc ba phần phân tích dựng trên một sự việc và một khái niệm, phần đánh giá đối chiếu chuẩn đầu ra, và phần kết nói bạn sẽ làm khác đi điều gì.
Thứ bị cắt gần như luôn giống nhau, đó là bản tường thuật toàn bộ kỳ thực tập theo trình tự thời gian. Kể lần lượt từng tuần là lý do phổ biến nhất khiến một bài phản tư viết tốt chỉ dừng ở giữa thang điểm.
Dẫn chứng: Gibbs (1988) đặt phân tích, đánh giá và kế hoạch hành động sau phần mô tả, và rubric bài phản tư dồn điểm vào những chặng đó chứ không dồn vào mô tả. Kể theo thời gian thì mặc định kéo bạn về phía mô tả, còn tổ chức theo sự việc thì buộc bạn phải phân tích.
Ví dụ: Một sinh viên nộp bản nháp chia thành mười phần theo mười tuần. Cố vấn đề nghị bạn ấy chọn ba khoảnh khắc thật sự làm mình thay đổi cách làm việc. Bảy tuần còn lại được sinh viên đó nén thành hai câu bối cảnh, và số chữ dôi ra được dùng để phân tích ba sự việc kia cho tới nơi.
Câu hỏi thường gặp
COMM2639 có cùng môn với COMM2695 hay COMM2774 không?
Có. Đó là cùng một hồ sơ môn trong RMIT Handbook, với mã giảng dạy khác nhau theo cơ sở. COMM2639 là bản tại Melbourne City Campus, COMM2695 là bản tại RMIT Việt Nam cơ sở Nam Sài Gòn và COMM2774 là bản tại RMIT Việt Nam Hà Nội. Yêu cầu và hồ sơ phải nộp có thể khác nhau giữa các bản dạy, nên hãy luôn làm theo course guide và lớp Canvas của chính bạn.
Nếu kỳ thực tập trục trặc hoặc bị cắt ngắn thì sao?
Hãy báo điều phối viên môn học sớm, đừng đợi tới lúc nộp bài, vì trục trặc khi thực tập là chuyện đã được tính tới trong các môn WIL và thường có quy trình xử lý. Về mặt học thuật, một kỳ thực tập khó không phải là mất trắng. Một bài phân tích trung thực, có bằng chứng, về lý do kỳ thực tập không suôn sẻ vẫn có thể đáp ứng chuẩn đầu ra đầy đủ như một kỳ thực tập êm đẹp.
Có được viết ở ngôi thứ nhất không?
Được. Bài phản tư vốn đòi hỏi như vậy. Viết ở ngôi thứ nhất là quy ước của thể loại chứ không phải lối viết suồng sã, nên hãy giữ giọng học thuật và để mỗi câu nói về bản thân đều gánh một nhiệm vụ phân tích.
Bài phản tư về kỳ thực tập cần bao nhiêu tài liệu tham khảo?
Course guide của bạn là căn cứ. Như một mốc tham khảo, bài phản tư ở cấp độ này thường cần khoảng sáu tới mười hai nguồn chất lượng, lấy từ cả chuyên ngành truyền thông lẫn văn liệu về học tập tại nơi làm việc. Phản tư không có nghĩa là không cần trích dẫn.
Có được đưa sản phẩm mình làm trong kỳ thực tập vào bài không?
Thường là được, và nó làm bằng chứng mạnh hơn, nhưng hãy kiểm hai điều trước, là đề bài có cho phép phụ lục không và tài liệu đó có thuộc diện bảo mật hay thuộc sở hữu của khách hàng không. Khi còn phân vân, hãy hỏi người hướng dẫn tại nơi thực tập trước khi đưa vào, và ẩn danh thông tin khách hàng.
MAAS đồng hành với sinh viên COMM2639 như thế nào
MAAS làm việc với vai trò cố vấn học thuật, không phải dịch vụ viết bài. Với một môn thực tập, việc đó thường gồm giúp bạn dựng một cuốn nhật ký dùng được ngay từ tuần đầu, chọn những sự việc đủ sức gánh phần phân tích, đối chiếu dàn ý với course guide của chính bạn, và nhận xét để chỉ ra chỗ nào cần chuyển từ kể chuyện sang đánh giá. Bạn là người đi thực tập và viết bài, còn cố vấn giúp bạn nhìn ra chất liệu mà bạn đã có sẵn.
Nếu bạn đang học các môn truyền thông và kinh doanh liên quan, hướng dẫn COMM2789 Digital Content Creation và BUSM2716 Managing Multinational Enterprises bàn về các rubric lân cận. Bạn cũng có thể đọc cách dịch vụ hỗ trợ học thuật vận hành trước khi liên hệ.
References
Billett, S. (2009). Realising the educational worth of integrating work experiences in higher education. Studies in Higher Education, 34(7), 827–843. https://doi.org/10.1080/03075070802706561
Eraut, M. (2004). Informal learning in the workplace. Studies in Continuing Education, 26(2), 247–273. https://doi.org/10.1080/158037042000225245
Gibbs, G. (1988). Learning by doing: A guide to teaching and learning methods. Further Education Unit, Oxford Polytechnic.
Jackson, D. (2015). Employability skill development in work-integrated learning: Barriers and best practice. Studies in Higher Education, 40(2), 350–367. https://doi.org/10.1080/03075079.2013.842221
Lave, J., & Wenger, E. (1991). Situated learning: Legitimate peripheral participation. Cambridge University Press.
Schön, D. A. (1983). The reflective practitioner: How professionals think in action. Basic Books.
Smith, C. (2012). Evaluating the quality of work-integrated learning curricula: A comprehensive framework. Higher Education Research & Development, 31(2), 247–262. https://doi.org/10.1080/07294360.2011.558072
Trede, F. (2012). Role of work-integrated learning in developing professionalism and professional identity. Asia-Pacific Journal of Cooperative Education, 13(3), 159–167.
Tools & resources
- Hồ sơ môn Media and Communication Internship trong RMIT Handbook (hồ sơ 050204), để tra chuẩn đầu ra và mã giảng dạy gắn với từng cơ sở.
- Lớp Canvas và course guide của bạn, nguồn duy nhất có thẩm quyền về hồ sơ thực tập, bài đánh giá và hạn nộp.
- Bộ phận Career Development and WIL của RMIT, cho thoả thuận thực tập, hồ sơ bảo hiểm và các vướng mắc phát sinh trong kỳ thực tập.
- Một cuốn nhật ký bốn cột ghi từ tuần đầu tiên, công cụ hữu ích nhất cho môn này.
