Skip to content
Quay lại BlogGeneral

COMM2639 Media and Communication Internship: hướng dẫn làm bài

17 phút đọc3,212 từ

"Kỳ thực tập của em toàn việc hành chính vặt, không có gì để viết." Cố vấn MAAS nghe câu này gần như trong mọi buổi tư vấn COMM2639, thường là hai tuần trước hạn nộp bài phản tư. Chẩn đoán đó sai.

"Kỳ thực tập của em toàn việc hành chính vặt, không có gì để viết." Cố vấn MAAS nghe câu này gần như trong mọi buổi tư vấn COMM2639, thường là hai tuần trước hạn nộp bài phản tư. Chẩn đoán đó sai. Nghiên cứu về học tập tại nơi làm việc cho thấy phần lớn những gì người ta học được ở công sở chưa bao giờ được dạy chính thức, và người mới luôn bắt đầu từ rìa công việc thật, đó là thiết kế chứ không phải tai nạn. Vấn đề hầu như không bao giờ là không có gì xảy ra. Vấn đề là không ai ghi lại lúc nó đang xảy ra. Bài viết này trả lời bảy câu hỏi mà sinh viên Việt Nam học COMM2639 hay hỏi cố vấn MAAS nhất.

Tác giả: Đội ngũ Biên tập MAAS · Hiệu đính bởi cố vấn cấp cao mảng Truyền thông (PhD, Media and Communication)
Cập nhật: 28/07/2026
Chuyên mục: writing-tips


COMM2639 là môn gì và thuộc cơ sở nào?

Trả lời ngắn: COMM2639 là mã môn RMIT dùng cho môn Media and Communication Internship dạy cho sinh viên đại học tại cơ sở City Campus, Melbourne. Chi tiết này quan trọng hơn bình thường, vì môn tương đương ở RMIT Việt Nam mang mã khác: COMM2695 tại Nam Sài Gòn và COMM2774 tại Hà Nội. Nếu bạn là sinh viên Việt Nam đang học tại Melbourne, COMM2639 mới là mã của bạn, và tài liệu viết cho các bản dạy ở Việt Nam có thể không khớp yêu cầu thực tập hay hồ sơ bạn phải nộp.

Dẫn chứng: Trong Sổ tay chương trình RMIT, môn này nằm ở mã hồ sơ 050204, Media and Communication Internship, liệt kê COMM2639 tại City Campus, COMM2695 tại RMIT Việt Nam Nam Sài Gòn và COMM2774 tại RMIT Việt Nam Hà Nội, đều ở bậc đại học.

Ví dụ: Một sinh viên ở Melbourne tải mẫu bài phản tư mà bạn mình ở Nam Sài Gòn từng dùng. Cấu trúc trông rất thuyết phục nên bạn viết theo. Cố vấn phát hiện lệch ngay ở khâu dàn ý: course guide của chính bạn yêu cầu hồ sơ ghi nhận số giờ thực tập và phần xác nhận của người hướng dẫn tại nơi làm việc, những thứ mẫu kia không có. Mười lăm phút kiểm tra đã tránh được một lần viết lại.


Môn thực tập khác gì môn thường, và vì sao điều đó đổi cách viết?

Trả lời ngắn: Đây là môn Học tập Tích hợp Công việc, tức kiến thức và kỹ năng của bạn được áp dụng và chấm điểm ngay trong môi trường làm việc thật, và phản hồi từ phía doanh nghiệp là một phần trong thiết kế đánh giá. Các môn thực hành nghề nghiệp thuộc nhóm này ở RMIT thường gắn với kỳ thực tập khoảng 80 đến 120 giờ tại một đơn vị trong nước hoặc quốc tế, kèm các hoạt động học buộc bạn phản tư có phản biện về trải nghiệm đó. Về mặt thực tế, điều này đổi hẳn thể loại: bạn không được chấm vì kỳ thực tập của bạn hoành tráng tới đâu, mà vì chất lượng lập luận bạn dựng được từ nó.

Dẫn chứng: RMIT mô tả các môn thuộc nhóm này là môn Học tập Tích hợp Công việc, trong đó kiến thức và kỹ năng được áp dụng và đánh giá trong bối cảnh nơi làm việc thật hoặc mô phỏng, với phản hồi từ doanh nghiệp là phần không tách rời, và nêu rõ kỳ thực tập trong nhóm môn này kéo dài 80 đến 120 giờ. Hình thức đánh giá có thể gồm tiểu luận, báo cáo, bài phản tư và dự án sáng tạo.

Ví dụ: Hai sinh viên cùng khoá có hai kỳ thực tập rất khác nhau, một bạn ở agency lớn, một bạn ở tổ chức phi lợi nhuận gần như không có ngân sách. Bạn ở tổ chức phi lợi nhuận được điểm cao hơn. Kỳ thực tập của bạn cho một ràng buộc thật để phân tích: một đội truyền thông tiếp cận công chúng thế nào khi không có một đồng ngân sách quảng cáo. Phân tích thú vị thắng thương hiệu hoành tráng.


"Em chỉ làm việc vặt" là một chẩn đoán, không phải sự thật

Trả lời ngắn: Việc dành cho người mới chính là cách tổ chức đưa người mới vào guồng, và trong đó đầy chất liệu để phân tích. Xếp lịch đăng bài cho bạn biết lịch nội dung được quản trị ra sao. Sắp danh sách báo chí cho bạn biết tổ chức nghĩ công chúng của họ là ai. Ngồi im trong một buổi họp khách hàng cho bạn biết người phụ trách xử lý bất đồng thế nào. Công việc thì thấp cấp, còn bằng chứng thì không. Việc của bạn trong bài là coi những công việc thường ngày ấy như dữ liệu về cách sản phẩm truyền thông thực sự được tạo ra.

Dẫn chứng: Lave và Wenger (1991) gọi những nhiệm vụ tưởng như bên lề của người mới là tham gia ngoại vi chính đáng, tức một lộ trình có cấu trúc để bước vào cộng đồng nghề nghiệp, chứ không phải thời gian lãng phí. Eraut (2004) chỉ ra rằng phần lớn việc học tại nơi làm việc diễn ra phi chính thức và bản thân người học phần nhiều không nhận ra, và đó đúng là lý do sinh viên tưởng mình chẳng học được gì trong khi thực tế đã học rất nhiều.

Ví dụ: Một sinh viên dành cả kỳ thực tập để gỡ băng phỏng vấn và nghĩ việc đó vô ích. Cố vấn hỏi bạn có nhận ra điều gì về việc trích dẫn nào được giữ lại trong bài đăng cuối cùng không. Hoá ra bạn có nhận ra một quy luật: trích dẫn chứa con số cụ thể thì sống sót qua khâu biên tập, trích dẫn chứa tính từ thì bị cắt. Quan sát đó trở thành trục phân tích cho cả bài phản tư.


Tuần đầu nên làm gì để tuần thứ mười đỡ khổ?

Trả lời ngắn: Ghi nhật ký có cấu trúc ngay từ buổi làm đầu tiên, và ghi thành bốn cột chứ đừng viết kiểu tâm sự. Cột một, chuyện gì đã xảy ra, kèm ngày. Cột hai, tôi đã làm gì. Cột ba, điều gì làm tôi bất ngờ hoặc không diễn ra như tôi tưởng. Cột bốn, khái niệm hoặc tài liệu nào trong môn nối được với việc này. Mười phút cuối mỗi ngày là đủ. Chi tiết cụ thể mới là thứ ăn điểm trong bài phản tư, mà chi tiết thì phai rất nhanh; tới tuần thứ mười bạn sẽ nhớ rằng buổi họp đó căng thẳng nhưng không nhớ nổi người ta đã nói gì.

Dẫn chứng: Các khung phản tư dùng trong giáo dục đại học đều chia chặng chứ không viết tự do, đi từ mô tả qua phân tích tới kế hoạch hành động, và điểm dồn vào những chặng sau (Gibbs, 1988). Chính những chặng sau mới cần chất liệu thô cụ thể, thứ mà một ký ức không được ghi lại không thể cung cấp.

Ví dụ: Một sinh viên không ghi chép gì viết bài phản tư đầy những câu như "em đã cải thiện kỹ năng giao tiếp". Cố vấn không giúp bạn chứng minh được điều nào, vì các sự việc đã trôi mất. Sinh viên có ghi nhật ký hằng ngày thì viết về đúng một khoảnh khắc khách hàng bác một dòng tiêu đề, trích lại lý do họ đưa ra, rồi phân tích nó dựa trên lý thuyết về công chúng. Cùng độ dài, hai bậc điểm khác nhau.


Viết phản biện về người hướng dẫn hay nơi thực tập thế nào cho chuyên nghiệp?

Trả lời ngắn: Phân tích cách làm việc, đừng phân tích con người. "Người hướng dẫn của em thiếu tổ chức" là một lời than và là một rủi ro nghề nghiệp. "Các brief gửi xuống không nêu rõ công chúng mục tiêu, nên bản nháp bị sửa ở giai đoạn muộn" là một quan sát về quy trình, và quan sát đó thì phân tích được, cải thiện được. Hãy để tên riêng và các chi tiết nhận dạng ra ngoài trừ khi đề bài yêu cầu, mô tả điều bạn quan sát được thay vì điều bạn đoán người ta có ý gì, và nhớ rằng bài phản tư của bạn có thể được đọc bởi người biết rõ tổ chức đó.

Dẫn chứng: Trong tài liệu nghiên cứu, học tập tích hợp công việc được hiểu là nơi hình thành bản sắc nghề nghiệp chứ không chỉ là nơi thu nạp kỹ năng (Trede, 2012). Giọng điệu bạn dùng khi nói về đồng nghiệp là một phần bằng chứng mà người chấm đọc ra về bản sắc nghề nghiệp đó.

Ví dụ: Một sinh viên viết rằng cả đội "không quan tâm tới chất lượng". Cố vấn hỏi bạn thực sự đã thấy gì. Bạn thấy việc duyệt bài diễn ra trong một nhóm chat, không quản lý phiên bản, dẫn tới các bản sửa chọi nhau. Diễn đạt lại theo hướng đó, cùng một quan sát trở thành bài phân tích quy trình kèm khuyến nghị bảo vệ được, và đọc lên thấy chuyên nghiệp chứ không thấy ấm ức.


Bài phản tư về kỳ thực tập nên dùng lý thuyết nào?

Trả lời ngắn: Hai loại, và sinh viên thường chỉ mang theo một. Loại thứ nhất là lý thuyết truyền thông từ chuyên ngành của bạn, về công chúng, khung diễn giải, quan hệ báo chí, chiến lược nội dung, đem áp vào những sản phẩm bạn thấy được tạo ra. Loại thứ hai là lý thuyết về học tập và thực hành nghề nghiệp, dùng để phân tích chính sự trưởng thành của bạn. Chỉ mang loại thứ nhất thì ra một bản báo cáo công việc; chỉ mang loại thứ hai thì ra một bài tự sự truyền cảm hứng. Mang cả hai, bạn mới lập luận được rằng một trải nghiệm cụ thể đã thay đổi một phán đoán nghề nghiệp cụ thể.

Bạn đang phân tích điều gì Lăng kính hữu ích Luận điểm nó chống đỡ
Vì sao việc vặt vẫn dạy bạn điều gì đó Tham gia ngoại vi chính đáng (Lave & Wenger, 1991) Công việc bên lề là lối vào có cấu trúc, không phải thời gian bỏ đi
Những kỹ năng không ai dạy chính thức Học tập phi chính thức tại nơi làm việc (Eraut, 2004) Phần lớn cái bạn học là ngầm ẩn, cần được diễn đạt ra một cách chủ đích
Điều bạn tự điều chỉnh giữa chừng Phản tư trong lúc hành động (Schön, 1983) Bạn đã dùng phán đoán nghề nghiệp, không chỉ làm theo chỉ dẫn
Kỳ thực tập có tăng năng lực nghề không Học tập tích hợp công việc và năng lực nghề (Jackson, 2015) Kỹ năng nào chuyển giao được, và thiết kế thực tập bỏ sót kỹ năng nào
Chất lượng của chính kỳ thực tập Khung đánh giá chất lượng chương trình WIL (Smith, 2012) Đánh giá trải nghiệm chứ không chỉ tường thuật lại nó

Dẫn chứng: Billett (2009) lập luận rằng trải nghiệm nơi làm việc chỉ phát huy được giá trị giáo dục khi nó được tích hợp có chủ đích với việc học trong trường, chứ không phải để nó đứng riêng một mình. Jackson (2015) phát hiện việc phát triển năng lực nghề trong các chương trình WIL diễn ra không đồng đều và phụ thuộc vào cách thiết kế kỳ thực tập, điều này cho phép bạn đánh giá kỳ thực tập của mình một cách phản biện thay vì chỉ cảm ơn lịch sự.

Ví dụ: Bản nháp của một sinh viên trích lý thuyết khung diễn giải rất chuẩn cho phần chiến dịch bạn quan sát được, nhưng phần nói về sự trưởng thành của chính mình thì chung chung. Cố vấn gợi ý thêm đúng một thứ: Eraut về học tập phi chính thức. Nó cho bạn bộ từ để giải thích những gì bạn đã hấp thụ mà không ai dạy, và phần cá nhân thôi nghe giống một lá thư xin việc.


Nên cấu trúc bài phản tư thế nào, và cắt bỏ cái gì?

Trả lời ngắn: Theo đề bài của bạn trước đã. Ở phần bạn được tự quyết, một cấu trúc đáng tin là: mở đầu ngắn nêu câu hỏi nghề nghiệp mà kỳ thực tập làm nảy sinh; bối cảnh nơi thực tập gói trong mười phần trăm số từ; hai tới ba phần phân tích, mỗi phần dựng trên một sự việc cụ thể và một khái niệm; phần đánh giá sự trưởng thành của bạn đối chiếu chuẩn đầu ra của môn; và phần kết hướng tới phía trước, nói rõ bạn sẽ làm khác đi điều gì. Thứ bị cắt gần như luôn giống nhau: bản tường thuật toàn bộ kỳ thực tập theo trình tự thời gian. Kể lần lượt từng tuần là lý do phổ biến nhất khiến một bài viết tốt chỉ dừng ở giữa thang điểm.

Dẫn chứng: Rubric cho bài phản tư dồn điểm vào phân tích, đánh giá và kế hoạch hành động chứ không vào mô tả (Gibbs, 1988). Kể theo thời gian thì mặc định kéo bạn về phía mô tả, còn tổ chức theo sự việc thì buộc bạn phải phân tích.

Ví dụ: Một sinh viên nộp bản nháp chia thành mười phần theo mười tuần. Cố vấn đề nghị bạn chọn ba khoảnh khắc thực sự làm bạn thay đổi cách làm việc. Bảy tuần còn lại nén lại thành hai câu bối cảnh, và số từ dôi ra được dùng để phân tích ba sự việc kia cho tới nơi.


Câu hỏi thường gặp

COMM2639 có cùng môn với COMM2695 hay COMM2774 không?
Có, đó là cùng một mã hồ sơ môn trong Sổ tay chương trình RMIT với các mã giảng dạy khác nhau theo cơ sở. COMM2639 là bản tại City Campus Melbourne, COMM2695 là bản tại RMIT Việt Nam Nam Sài Gòn, COMM2774 là bản tại Hà Nội. Yêu cầu và hồ sơ phải nộp có thể khác nhau giữa các bản dạy, nên hãy luôn làm theo course guide và lớp Canvas của chính bạn.

Nếu kỳ thực tập trục trặc hoặc bị cắt ngắn thì sao?
Hãy báo điều phối viên môn học sớm, đừng đợi tới lúc nộp bài; trục trặc trong thực tập là chuyện đã biết trước trong các môn WIL và thường có quy trình xử lý. Về mặt học thuật, một kỳ thực tập khó không phải là mất trắng. Một bài phân tích trung thực, có bằng chứng, về việc vì sao kỳ thực tập không suôn sẻ vẫn có thể đáp ứng đầy đủ chuẩn đầu ra như một kỳ thực tập êm đẹp.

Có được xưng "tôi" không?
Được. Bài phản tư vốn đòi hỏi như vậy. Xưng "tôi" ở đây là quy ước thể loại chứ không phải viết suồng sã, nên vẫn giữ giọng học thuật và để mỗi câu nói về bản thân đều gánh một nhiệm vụ phân tích.

Bài phản tư cần bao nhiêu tài liệu tham khảo?
Course guide mới là căn cứ. Như mốc tham chiếu, một bài phản tư ở cấp độ này thường cần khoảng sáu đến mười hai nguồn chất lượng, lấy từ cả chuyên ngành truyền thông lẫn mảng nghiên cứu về học tập tại nơi làm việc. Phản tư không có nghĩa là không cần trích dẫn.

Có được đưa sản phẩm mình làm trong kỳ thực tập vào bài không?
Thường là được, và nó làm bằng chứng mạnh hơn, nhưng hãy kiểm hai điều trước: đề bài có cho phép phần phụ lục không, và tài liệu đó có thuộc diện bảo mật hoặc thuộc sở hữu khách hàng không. Khi còn phân vân, hãy hỏi người hướng dẫn tại nơi thực tập trước khi đưa vào, và ẩn danh thông tin khách hàng.


MAAS đồng hành với sinh viên COMM2639 như thế nào

MAAS làm việc với vai trò cố vấn học thuật, không phải dịch vụ viết bài. Với một môn thực tập, việc đó thường gồm: giúp bạn dựng cuốn nhật ký dùng được ngay từ tuần đầu, chọn ra những sự việc đủ sức gánh phần phân tích, đối chiếu dàn ý với course guide của chính bạn, và nhận xét để chỉ ra chỗ nào cần chuyển từ kể chuyện sang đánh giá. Bạn là người đi thực tập và viết bài; cố vấn giúp bạn nhìn ra chất liệu mà bạn đã có sẵn.

Nếu bạn đang học các môn truyền thông và kinh doanh liên quan, có thể xem thêm hướng dẫn COMM2789 Digital Content CreationBUSM2716 Managing Multinational Enterprises cho các rubric lân cận. Bạn cũng có thể đọc cách dịch vụ hỗ trợ học thuật vận hành trước khi liên hệ.


References

Billett, S. (2009). Realising the educational worth of integrating work experiences in higher education. Studies in Higher Education, 34(7), 827–843. https://doi.org/10.1080/03075070802706561

Eraut, M. (2004). Informal learning in the workplace. Studies in Continuing Education, 26(2), 247–273. https://doi.org/10.1080/158037042000225245

Gibbs, G. (1988). Learning by doing: A guide to teaching and learning methods. Further Education Unit, Oxford Polytechnic.

Jackson, D. (2015). Employability skill development in work-integrated learning: Barriers and best practice. Studies in Higher Education, 40(2), 350–367. https://doi.org/10.1080/03075079.2013.842221

Lave, J., & Wenger, E. (1991). Situated learning: Legitimate peripheral participation. Cambridge University Press.

Schön, D. A. (1983). The reflective practitioner: How professionals think in action. Basic Books.

Smith, C. (2012). Evaluating the quality of work-integrated learning curricula: A comprehensive framework. Higher Education Research & Development, 31(2), 247–262. https://doi.org/10.1080/07294360.2011.558072

Trede, F. (2012). Role of work-integrated learning in developing professionalism and professional identity. Asia-Pacific Journal of Cooperative Education, 13(3), 159–167.

Tools & resources

  • Hồ sơ môn Media and Communication Internship trong Sổ tay chương trình RMIT (mã hồ sơ 050204), để tra chuẩn đầu ra và mã giảng dạy gắn với từng cơ sở.
  • Lớp Canvas và course guide của bạn, nguồn duy nhất có thẩm quyền về hồ sơ thực tập, bài đánh giá và hạn nộp.
  • Bộ phận hỗ trợ nghề nghiệp và WIL của RMIT, cho thoả thuận thực tập, hồ sơ bảo hiểm và các vướng mắc phát sinh trong kỳ thực tập.
  • Một cuốn nhật ký bốn cột ghi từ tuần đầu tiên, công cụ hữu ích nhất cho môn này.
Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.