Lưu ý về mã môn: bài này viết về môn của UNSW Sydney. Mã COMM 1100 ở một số trường Bắc Mỹ là môn nhập môn truyền thông, không liên quan. Một nhà cung cấp chào mức giá không đối thủ nào theo kịp.
Lưu ý về mã môn: bài này viết về môn của UNSW Sydney. Mã COMM 1100 ở một số trường Bắc Mỹ là môn nhập môn truyền thông, không liên quan.
Một nhà cung cấp chào mức giá không đối thủ nào theo kịp. Hợp đồng hợp pháp, biên lợi nhuận rất tốt, và điều kiện làm việc trong nhà máy của họ đủ để bạn thấy khó xử nếu một nhà báo mô tả lại thật chính xác. Mỗi ngành học trong môn này đều có điều để nói về quyết định đó, và ba câu trả lời không trùng nhau. Học cách giữ được cả ba cùng lúc, thay vì chọn lấy cái mà bạn thấy dễ chịu nhất, chính là lý do COMM1100 tồn tại.
Tác giả: Ban biên tập MAAS · Cố vấn chuyên môn MAAS thẩm định
Cập nhật: 24/08/2026
Chuyên mục: business-management
Môn này nằm ở đâu, và nó ghép những gì lại
Trả lời trực tiếp: COMM1100 Business Decision Making là môn 6 units of credit của UNSW và là môn mở đầu của Integrated First Year trong chương trình Bachelor of Commerce, xoay quanh sự tương tác giữa nguyên lý kinh tế, nguyên lý pháp lý và trách nhiệm doanh nghiệp trong cùng một quyết định.
Bằng chứng: Trang handbook UNSW ghi môn ở mức 6 units of credit, mô tả đây là môn đầu tiên trong Integrated First Year của Bachelor of Commerce, và công bố 5 chuẩn đầu ra. CLO3 ghi "Explain the interplay of economic, legal, and corporate responsibility principles in business decisions", còn CLO5 ghi "Identify appropriate economic models and analyse how they are used in business decisions". Các đầu mục đánh giá và tỷ trọng không nằm trên trang đó mà nằm trong course outline phát hành cho term của bạn, nên hãy xác nhận phần đó ở outline.
Gom lại, hồ sơ công bố của môn đọc như sau: mã COMM1100, 6 units of credit, UNSW Sydney, UNSW Business School, môn mở đầu Integrated First Year của Bachelor of Commerce, 3 trục ngành, 5 chuẩn đầu ra, cơ sở ghi là Sydney.
Trong CLO3, chữ gánh việc nặng nhất là chữ interplay, tức sự tương tác qua lại, và nó không đồng nghĩa với chữ và. Một môn muốn ba phần tách rời sẽ nói thẳng như vậy, và đề bài sẽ chia được thành ba phần mỗi phần đáng khoảng một phần ba điểm. Tương tác qua lại nghĩa là thứ được chấm chính là những gì xảy ra GIỮA chúng.
Vì sao trả lời từ một ngành thì thấy đủ mà điểm lại thấp?
Trả lời trực tiếp: Vì mỗi trục trong ba trục đều tự nó tạo ra một câu trả lời mạch lạc, nên một bài thiếu vẫn không có cảm giác thiếu trong lúc bạn đang viết. Một bài thuần kinh tế đọc lên rất dứt khoát, một bài thuần pháp lý đọc lên rất chặt chẽ, một bài thuần đạo đức đọc lên rất có nguyên tắc. Cả ba đều có thể chỉ là một nửa số điểm.
Sinh viên bước vào môn với một thiên hướng sẵn có, thường hình thành từ trước khi lên đại học. Có bạn thấy lập luận kinh tế là tự nhiên, rồi coi luật chỉ là đường biên và coi trách nhiệm doanh nghiệp là chuyện cảm tính. Có bạn thấy lập luận đạo đức là tự nhiên, rồi coi phần kinh tế như thứ mà tình huống đã chốt xong. Không thiên hướng nào ngớ ngẩn cả, và cả hai đều cho ra bài có một lỗ hổng rất dễ thấy. Carroll (1991) hữu ích ngay từ bước này, vì 4 tầng trách nhiệm của ông cho thấy 2 trong 3 trục của môn thậm chí không phải cùng một loại khẳng định.
| Nếu thiên hướng của bạn là | Trục bạn sẽ viết quá tay | Câu hỏi bạn sẽ bỏ sót |
|---|---|---|
| Kinh tế | hiệu quả, động cơ, giá và chi phí | hành động hiệu quả đó có hợp pháp không, và ai đang gánh phần chi phí không hiện lên trong giá |
| Pháp lý | tuân thủ, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý | hợp pháp có đồng nghĩa với bảo vệ được không, và phần kinh tế thật ra đang thưởng cho điều gì |
| Trách nhiệm doanh nghiệp | bên liên quan, giá trị, uy tín | quyết định này tốn bao nhiêu, và nghĩa vụ ở đây là nghĩa vụ pháp lý hay tự nguyện |
Cách chữa mang tính quy trình chứ không cần thông minh. Trước khi viết, đặt 3 đề mục ra giấy nháp và ép mình viết một câu dưới mỗi mục, kể cả trục bạn thấy xa lạ nhất. Nếu một trục thật sự không có gì để nói về tình huống này, bản thân điều đó là một phát hiện đáng một câu, và nó mạnh hơn im lặng.
Một xung đột thật thì trông ra sao trên giấy?
Trả lời trực tiếp: Nó trông như một câu gọi tên điều mà mỗi trục khuyến nghị, rồi một câu giải thích vì sao các khuyến nghị đó khác nhau, rồi một quyết định thừa nhận rõ nó đang đánh đổi cái gì. Một khuyến nghị không kèm cái giá phải trả là dấu hiệu chắc chắn nhất rằng xung đột chưa bao giờ được tìm ra.
Bằng chứng: Carroll (1991) là khung hữu dụng nhất ở đây, vì ông tách trách nhiệm của doanh nghiệp thành các tầng kinh tế, pháp lý, đạo đức và thiện nguyện, rồi lập luận rằng tầng đạo đức phủ đúng phần mà luật chưa đòi hỏi. Sự phân tách đó cho bạn ngôn ngữ để nói vì sao một hành động có thể hợp pháp mà vẫn hỏng. Friedman (1970) cung cấp lập trường đối lập ở dạng mạnh nhất của nó, cho rằng trách nhiệm của người quản lý hướng về chủ sở hữu, và việc đem tiền của họ chi cho các mục tiêu xã hội là quyết định người quản lý không được uỷ quyền để làm. Carroll (1991) đăng trên Business Horizons, tập 34, số 4, còn Friedman (1970) đăng trên The New York Times Magazine ngày 13 tháng 9 năm 1970.
Ví dụ: Với tình huống nhà cung cấp ở đầu bài, một bài mức trung bình nói rằng thoả thuận này hợp pháp nhưng công ty nên cân nhắc trách nhiệm xã hội của mình. Một bài mạnh hơn nói rằng hợp đồng hợp pháp vì nghĩa vụ thuộc về nhà cung cấp theo pháp luật nơi họ hoạt động, rằng lợi thế chi phí là có thật và định lượng được, rằng tầng đạo đức của Carroll chính là khoảng trống nơi luật im lặng, và rằng chọn nhà cung cấp rẻ hơn tức là chấp nhận một rủi ro uy tín mà mức giá kia không phản ánh. Bài thứ hai đã gọi tên phần đánh đổi, và sau đó chọn hướng nào cũng được.
Hãy để ý rằng bài mạnh hơn không phải bài đạo đức hơn. Nó là bài trình ra được cách nghĩ. Một bạn chọn nhà cung cấp rẻ hơn, nói thẳng rủi ro, rồi đề xuất một điều khoản kiểm toán, thường sẽ điểm cao hơn một bạn chọn nhà cung cấp đắt hơn rồi gọi đó là điều đúng đắn.
Phân tích bên liên quan làm sao để không thành liệt kê?
Trả lời trực tiếp: Bằng cách xếp thứ tự thay vì kể tên. Một danh sách các bên liên quan là bước chuẩn bị, chưa phải phân tích. Phân tích bắt đầu khi bạn nói ai có yêu sách mạnh nhất, dựa trên căn cứ nào, và chuyện gì xảy đến với nhóm mà bạn đặt xuống dưới.
Còn một trục thứ tư mà các bài hướng dẫn hay bỏ sót, đó là CLO2, yêu cầu sinh viên áp dụng chiến lược tìm kiếm phù hợp để nghiên cứu và tóm lược thông tin liên quan, đáng tin, từ nhiều nguồn thích hợp. Nguồn bằng chứng của bạn đến từ đâu cũng là thứ được chấm, nên hãy gọi tên nguồn và nói vì sao nguồn đó thích hợp.
Bằng chứng: Donaldson và Preston (1995) tách ra 3 lý do khác nhau để coi trọng các bên liên quan, phân biệt giữa tính mô tả chính xác, tính hữu dụng công cụ và tính chính đáng chuẩn tắc, và luận điểm của họ là 3 thứ này không thay thế cho nhau được. Lập luận rằng tham vấn cộng đồng thì có lợi nhuận là một lập luận khác hẳn lập luận rằng doanh nghiệp NỢ cộng đồng điều đó, và trộn chúng lại sẽ cho ra một bài nghe rất đầy đủ mà chẳng cam kết gì. Trước đó Freeman (1984) đã đặt nền cho quan điểm rằng chiến lược của doanh nghiệp phải tính tới các nhóm chịu tác động, chứ không chỉ tính tới cổ đông. Donaldson và Preston (1995) đăng trên Academy of Management Review, tập 20, số 1, còn Freeman (1984) là sách do Pitman xuất bản.
Trên thực tế, điều này nghĩa là đoạn viết về bên liên quan phải trả lời được một câu hỏi khó chịu: bạn sẽ nói gì với nhóm chịu thiệt? Một phân tích không có nhóm nào chịu thiệt thường là đang mô tả một quyết định chẳng ai cần phải đưa ra.
Mô hình kinh tế đóng góp gì mà trực giác không có?
Trả lời trực tiếp: Nó làm cho cơ chế hiện ra rõ ràng và nhờ vậy kiểm được. CLO5 yêu cầu bạn nhận diện mô hình kinh tế phù hợp và phân tích cách chúng được dùng trong quyết định kinh doanh, nên kỹ năng được chấm là chọn và áp dụng một mô hình, không phải nhớ rằng có tồn tại các mô hình.
Chữ phù hợp mới là chữ then chốt. Điểm đến từ việc chọn đúng mô hình hợp với tình huống rồi nói vì sao, sau đó áp nó vào chính các dữ kiện trong đề. Một mô hình tái hiện chính xác mà không gắn vào đâu cả thì bị chấm như phần học thuộc. Một mô hình được chọn có chủ đích, áp vào những con số bạn được cho, rồi giới hạn lại ở chỗ giả định của nó không đúng, mới được chấm như phần phân tích.
Phần giới hạn lại mới là chỗ có chiều sâu, và nó tốn đúng một câu. Mọi mô hình trong môn này đều dựa trên những giả định mà tình huống sẽ vi phạm ở đâu đó, dù là thông tin hoàn hảo, nguồn lực dịch chuyển tự do, hay gia nhập thị trường không tốn chi phí. Nói rõ giả định nào hỏng ở đây, và nó làm kết luận của bạn lệch theo hướng nào, là câu có giá trị cao nhất mà bạn có thể thêm vào một bài nặng phần kinh tế. Một câu, chừng 25 chữ, là đủ.
Bạn học ở hệ giáo dục khác thì vướng nhất ở đâu?
Trả lời trực tiếp: Vướng ở chỗ bị yêu cầu phản bác một nguồn. Nhiều hệ giáo dục phổ thông thưởng cho việc tái hiện chính xác lập trường của một tác giả có thẩm quyền, còn môn này yêu cầu bạn đặt hai tác giả đối lập nhau rồi tự chọn, và điều đó có thể khiến bạn thấy mình đang hỗn chứ không thấy đó là việc được kỳ vọng.
Quyền phản bác nằm sẵn trong thiết kế môn. Carroll (1991) và Friedman (1970) bất đồng thật sự, và một môn giao cả hai không hề yêu cầu bạn hoà giải họ thành một điểm giữa nhạt nhoà. Môn đang yêu cầu bạn nói phân tích nào hợp với tình huống trước mặt và vì sao phân tích còn lại thì không.
Còn một cái bẫy từ vựng đáng gọi tên. Những chữ như trách nhiệm, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý và bổn phận gần như đồng nghĩa trong tiếng Việt đời thường, nhưng ở đây thì không đồng nghĩa. Trách nhiệm pháp lý thuộc về luật và cưỡng chế được. Nghĩa vụ có thể do luật hoặc do hợp đồng. Còn chữ trách nhiệm trong trục trách nhiệm doanh nghiệp thường lại chỉ đúng thứ KHÔNG cưỡng chế được. Dùng lẫn lộn các chữ này làm một lập luận cẩn thận đọc lên thành mơ hồ, và nó lấy mất số điểm chẳng liên quan gì tới trình độ tiếng Anh của bạn.
Hãy giữ một bảng thuật ngữ 4 mục và soi lại trước khi nộp. Việc đó tốn 2 phút và nó chữa được một lớp lỗi lặp lại suốt cả Integrated First Year, gồm cả COMM1140, COMM1170 và COMM1190.
Ở một môn dựng trên xung đột thì nên mang gì đi hỏi?
Không ai cung cấp hộ bạn được óc phán đoán mà môn này đang kiểm, nên một buổi học kết thúc bằng một đáp án cho sẵn là một buổi bỏ phí. Với một môn dựng trên xung đột, phần việc hữu ích là chẩn đoán, tức đọc bản nháp của bạn để tìm ra bạn đã bỏ mỏng trục nào trong 3 trục, rồi truy xem khuyến nghị của bạn có thật sự gọi tên thứ nó đang đánh đổi hay không. Trong 3 trục, một trục bị bỏ mỏng thường làm mất nhiều điểm hơn 10 lỗi câu chữ vụn.
Nếu bạn đi theo hướng hỗ trợ học thuật, tài liệu hữu ích nhất là một bài đã có điểm kèm chính tình huống mà nó trả lời. Ở môn này, phần điểm bị mất thường hiện ra dưới dạng nguyên một trục vắng mặt chứ không phải vài lỗi nhỏ rải rác, và người đọc có kinh nghiệm sẽ thấy rất nhanh.
Câu hỏi thường gặp
COMM1100 nằm ở đâu trong chương trình?
Đây là môn mở đầu của Integrated First Year trong Bachelor of Commerce tại UNSW, ở mức 6 units of credit. Hãy xác nhận cấu trúc hiện hành trong handbook của đúng năm bạn nhập học.
Tôi có cần học kinh tế hay luật từ phổ thông không?
Không. Môn được thiết kế như phần nhập môn cho cả 3 trục. Bạn nào đã có nền ở một trục thường thấy chính cái nền đó thành bất lợi, nếu nó khiến bạn lơ là 2 trục còn lại.
Đây là môn kinh tế hay môn đạo đức?
Không phải môn nào trong hai. CLO3 xoay quanh sự tương tác giữa nguyên lý kinh tế, pháp lý và trách nhiệm doanh nghiệp, nên một bài chỉ gói trong một trục là đang trả lời một câu hỏi hẹp hơn câu được hỏi.
Làm sao biết nên dùng mô hình kinh tế nào?
Hãy xuất phát từ quyết định chứ đừng xuất phát từ mô hình. Xác định xem tình huống thật ra đang bảo bạn so sánh cái gì, rồi chọn mô hình biểu diễn đúng phép so sánh đó, và nói rõ bạn đang dựa vào giả định nào.
Môn có muốn một lập trường đạo đức cụ thể nào không?
Không. Môn chấm chất lượng lập luận và chấm xem bạn có đụng tới những trục đi ngược kết luận của mình hay chưa. Cả Carroll lẫn Friedman đều là lập trường bảo vệ được, miễn là bạn lập luận dựa trên dữ kiện của tình huống.
Đọc thêm
- COMM1170: nguồn lực tổ chức
- COMM1190: dữ liệu, insight và quyết định
- Hỗ trợ học thuật cùng cố vấn MAAS
Hỏi cố vấn MAAS về môn của bạn
References
Carroll, A. B. (1991). The pyramid of corporate social responsibility: Toward the moral management of organizational stakeholders. Business Horizons, 34(4), 39–48. https://doi.org/10.1016/0007-6813(91)90005-G
Donaldson, T., & Preston, L. E. (1995). The stakeholder theory of the corporation: Concepts, evidence, and implications. Academy of Management Review, 20(1), 65–91. https://doi.org/10.5465/amr.1995.9503271992
Freeman, R. E. (1984). Strategic management: A stakeholder approach. Pitman.
Friedman, M. (1970, September 13). The social responsibility of business is to increase its profits. The New York Times Magazine, 32–33, 122–126.
