Microeconomics là gì? Đó là phần kinh tế học xem xét cách người tiêu dùng, người đi làm và doanh nghiệp lựa chọn khi nguồn lực không đủ cho mọi mong muốn.
Nếu môn microeconomics nhập môn của bạn dạy bằng tiếng Anh, bài này giúp bạn giải thích được khái niệm bằng lời của mình, nhìn ra thứ tự các chủ đề trong môn và chọn cách ôn có bằng chứng ủng hộ. Bài giữ tên môn là microeconomics và gọi kèm là kinh tế vi mô, vì nhiều đề cương ghi hai tên đi cặp với nhau. Đây không phải hồ sơ của một mã môn cụ thể, nên nếu bạn cần đề cương và cách làm assignment của một trường, hãy đọc bài về ECON1001, ECON1010 hoặc ECON1101.
Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật lần cuối: 2026-10-07
Chuyên mục: economics

Microeconomics là gì?
Trả lời thẳng: Microeconomics, hay kinh tế vi mô, là nhánh của kinh tế học nghiên cứu cách từng hộ gia đình, người lao động và doanh nghiệp ra quyết định khi nguồn lực khan hiếm. Shapiro, MacDonald và Greenlaw (2022) phân biệt nó với macroeconomics, nhánh nhìn cả nền kinh tế qua tăng trưởng, thất nghiệp và lạm phát, và coi hai nhánh là hai góc nhìn bổ sung cho nhau.
Shapiro, MacDonald và Greenlaw (2022) mô tả microeconomics bằng các câu hỏi cụ thể: điều gì quyết định cách một hộ gia đình chi tiêu ngân sách, một doanh nghiệp sản xuất bao nhiêu, định giá ra sao và thuê bao nhiêu lao động. Phần vi mô trong giáo trình của họ đi lần lượt qua hành vi người tiêu dùng, lý thuyết về doanh nghiệp, thị trường lao động và các nguồn lực khác, rồi tới những trường hợp thị trường thất bại.
Môn học này dựa trên các lý thuyết, và Shapiro và cộng sự (2022) định nghĩa lý thuyết là sự mô tả đơn giản hoá cách hai hay nhiều biến số tương tác với nhau. Một lý thuyết tốt phải đủ đơn giản để người học hiểu, nhưng cũng đủ phức tạp để nắm được những nét chính của hiện tượng. Cùng nguồn cho biết các nhà kinh tế dùng đồ thị của lý thuyết để tìm câu trả lời, chứ không đi tìm đáp án trước rồi vẽ đồ thị để minh hoạ.
Mô hình khởi đầu là sơ đồ chu chuyển, trong đó nền kinh tế gồm hai nhóm là hộ gia đình và doanh nghiệp, tương tác với nhau qua hai thị trường là thị trường hàng hoá và dịch vụ, và thị trường lao động. Shapiro và cộng sự (2022) cũng viết rằng Keynes gọi kinh tế học là "a method rather than a doctrine", nghĩa là một phương pháp chứ không phải một học thuyết. Cách nhìn đó giải thích vì sao môn này chấm bạn ở khả năng dùng mô hình để lập luận hơn là ở việc nhớ kết luận.
Kinh tế vi mô khác kinh tế vĩ mô ở điểm nào?
Trả lời thẳng: Kinh tế vi mô khác kinh tế vĩ mô ở đơn vị phân tích. Vi mô xét quyết định của từng hộ gia đình, người lao động và doanh nghiệp, còn vĩ mô xét nền kinh tế như một tổng thể với tăng trưởng sản lượng, thất nghiệp, lạm phát, thâm hụt ngân sách, xuất khẩu và nhập khẩu. Shapiro, MacDonald và Greenlaw (2022) nhấn mạnh hai nhánh không tách rời nhau.

Bảng dưới đặt hai nhánh cạnh nhau theo bốn tiêu chí. Các ô lấy từ giáo trình của Shapiro, MacDonald và Greenlaw (2022), còn cách gom thành bốn tiêu chí và các ví dụ câu hỏi là cách bài này diễn đạt lại ý của sách.
| Tiêu chí | Microeconomics (kinh tế vi mô) | Macroeconomics (kinh tế vĩ mô) |
|---|---|---|
| Đơn vị phân tích | Hộ gia đình, người lao động, doanh nghiệp | Cả nền kinh tế |
| Câu hỏi điển hình | Giá và sản lượng của một hàng hoá hình thành thế nào? Doanh nghiệp thuê bao nhiêu lao động? | Sản lượng quốc gia tăng nhanh hay chậm? Có bao nhiêu người thất nghiệp? Mức giá chung tăng bao nhiêu? |
| Công cụ quen thuộc | Cung, cầu, độ co giãn, chi phí cơ hội, phân tích biên | Tăng trưởng, thất nghiệp, lạm phát, chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá |
| Quan hệ với nhau | Quyết định vi mô chịu ảnh hưởng của sức khoẻ nền kinh tế | Kết quả vĩ mô phụ thuộc vào quyết định vi mô |
Shapiro, MacDonald và Greenlaw (2022) đưa hai ví dụ cho dòng cuối của bảng. Doanh nghiệp thường sẵn sàng thuê thêm lao động hơn khi nền kinh tế nói chung đang tăng trưởng, nên quyết định vi mô bị vĩ mô chi phối. Ngược lại, hiệu quả của cả nền kinh tế được tạo ra từ các quyết định của hộ gia đình và doanh nghiệp. Khi làm bài, bạn nên tự hỏi mình đang xét một tác nhân hay cả hệ thống, vì theo cách nhìn của MAAS, chọn sai tầng phân tích dễ làm lệch cả phần lập luận phía sau.
Nếu môn của bạn là macroeconomics, bạn có thể đọc thêm bài về ECON1102 để xem một đề cương vĩ mô được tổ chức ra sao.
Một môn microeconomics thường dạy những gì, theo thứ tự nào?
Trả lời thẳng: Môn microeconomics nhập môn thường mở bằng khan hiếm và chi phí cơ hội, tiếp theo là cung cầu và độ co giãn, sau đó là người tiêu dùng, doanh nghiệp và cấu trúc thị trường, rồi khép lại với thị trường yếu tố sản xuất cùng vai trò chính phủ. Thứ tự này ghép từ hai đề cương và một giáo trình, nên bạn dùng nó như gợi ý chứ không phải khuôn bắt buộc.
Hai đề cương được dùng ở đây chỉ để minh hoạ cách một môn nhập môn được tổ chức. Giáo trình tiếng Anh của Shapiro, MacDonald và Greenlaw (2022) cũng bàn các khối nội dung vi mô tương tự, như hành vi người tiêu dùng, doanh nghiệp và thị trường lao động. Trường Đại học Mở TP.HCM, Khoa Kinh tế và Quản lý công (2019) ghi môn này là "Kinh tế vi mô 1" với tên tiếng Anh "Micro Economics", 3 tín chỉ, và buổi đầu gồm khan hiếm, chi phí cơ hội, đường giới hạn khả năng sản xuất, kinh tế học thực chứng và chuẩn tắc, vi mô và vĩ mô, cùng sơ đồ chu chuyển. Trường Đại học Tài chính Ngân hàng Hà Nội, Viện Lý luận cơ bản, Bộ môn Kinh tế - Xã hội (2022) ghi môn "Kinh tế vi mô", tên tiếng Anh "Microeconomics", cũng 3 tín chỉ, chia thành 6 chương.
Sáu chương của đề cương thứ hai là tổng quan, cung cầu, hành vi doanh nghiệp, cấu trúc ngành, thị trường các yếu tố sản xuất và vai trò của chính phủ. Giáo trình của Shapiro, MacDonald và Greenlaw (2022) tách hành vi người tiêu dùng thành một phần riêng và thêm thị trường thất bại vào phần vi mô. Ghép ba nguồn lại, bài này đề xuất một thứ tự học gồm tám chủ đề, và phần sắp xếp cụ thể là gợi ý của bài chứ không phải điều nguồn nào quy định:
- Khan hiếm, chi phí cơ hội, đường giới hạn khả năng sản xuất và sơ đồ chu chuyển.
- Cung, cầu và cân bằng thị trường.
- Độ co giãn của cầu và của cung.
- Hành vi người tiêu dùng.
- Chi phí và hành vi của doanh nghiệp.
- Cấu trúc thị trường.
- Thị trường các yếu tố sản xuất, trong đó có thị trường lao động.
- Thất bại thị trường và vai trò của chính phủ.
Thứ tự này quan trọng vì chủ đề sau dùng công cụ của chủ đề trước. Bạn không đọc được đồ thị chi phí của doanh nghiệp nếu chưa hiểu chi phí cơ hội, và không giải thích được tác động của một khoản thuế nếu chưa nắm cung, cầu và độ co giãn. Nếu giảng viên của bạn đảo thứ tự, bạn vẫn có thể dùng danh sách này như một tấm bản đồ để tự kiểm xem mình còn thiếu mảnh nào.
Chi phí cơ hội và tư duy biên là gì?
Trả lời thẳng: Chi phí cơ hội là giá trị của lựa chọn thay thế tốt nhất tiếp theo, tức thứ bạn phải từ bỏ để có được thứ bạn muốn, còn tư duy biên là so lợi ích và chi phí của việc chọn thêm hoặc bớt một chút thay vì so tổng. Shapiro, MacDonald và Greenlaw (2022) dùng cả hai ý này để giải thích cách cá nhân chọn trong giới hạn ngân sách.
Ví dụ của Shapiro, MacDonald và Greenlaw (2022) dễ kiểm lại bằng tay. Alphonso có 10 USD mỗi tuần, một bánh burger giá 2 USD và một vé xe buýt giá 0,5 USD. Muốn mua thêm một burger thì anh phải bỏ 4 vé xe buýt, nên chi phí cơ hội của một burger là 4 vé chứ không phải 2 USD. Độ dốc của đường ngân sách là −0,25, bằng 0,5 chia 2, nghĩa là mỗi vé xe buýt tốn một phần tư burger.
Cùng mục đó, Shapiro và cộng sự (2022) lưu ý rằng nhiều người theo phản xạ sẽ trả lời chi phí cơ hội là 2 USD, trong khi nhà kinh tế không nghĩ theo cách đó. Chi phí cơ hội tính bằng thứ phải bỏ đi, và tiền chỉ là một cách ghi lại thứ ấy khi bạn muốn so sánh.
Tư duy biên đi kèm quy luật lợi ích biên giảm dần. Theo Shapiro và cộng sự (2022), càng nhận thêm một thứ, phần lợi ích tăng thêm từ mỗi đơn vị bổ sung càng nhỏ. Cùng nguồn cũng nêu khái niệm chi phí chìm, là khoản đã chi trong quá khứ và không thu hồi được, nên không được tham gia vào quyết định hiện tại. Khi gặp một câu hỏi tình huống, bạn hãy tách riêng phần chi phí đã mất khỏi phần còn có thể thay đổi.
Cầu, cung và cân bằng hiểu thế nào cho đúng?
Trả lời thẳng: Cầu là lượng hàng hoá người tiêu dùng sẵn sàng và có khả năng mua ở mỗi mức giá, còn cung là lượng người bán sẵn sàng bán ở mỗi mức giá, và cân bằng là mức giá tại đó hai lượng bằng nhau. Shapiro, MacDonald và Greenlaw (2022) nhắc rằng cầu là cả đường cầu, còn lượng cầu chỉ là một điểm trên đường đó.
Luật cầu nói rằng khi giá tăng thì lượng cầu giảm, với điều kiện các biến số khác giữ nguyên, và luật cung nói rằng khi giá tăng thì lượng cung tăng. Shapiro, MacDonald và Greenlaw (2022) dành riêng một hộp lưu ý cho lỗi nhầm cầu với lượng cầu, và hộp thứ hai cho lỗi tương tự với cung và lượng cung. Một thay đổi của giá làm bạn di chuyển dọc theo đường cầu, còn một yếu tố khác giá mới làm cả đường dịch chuyển.
Bảng dưới lấy lại số liệu về xăng trong sách, với giá tính bằng USD mỗi gallon và lượng tính bằng triệu gallon. Shapiro, MacDonald và Greenlaw (2022) cho biết cân bằng nằm ở giá 1,40 USD và lượng 600 triệu gallon, đúng hàng giữa của bảng, nơi cung bằng cầu.
| Giá (USD mỗi gallon) | Lượng cầu (triệu gallon) | Lượng cung (triệu gallon) | So sánh |
|---|---|---|---|
| 1,00 | 800 | 500 | Cầu lớn hơn cung |
| 1,40 | 600 | 600 | Cung bằng cầu |
| 2,20 | 420 | 720 | Cung lớn hơn cầu |
Cách đọc bảng này cũng là cách đọc đồ thị. Ở giá 1,00 USD, người mua muốn nhiều hơn người bán sẵn lòng bán, nên giá có áp lực tăng. Ở giá 2,20 USD thì ngược lại. Mỗi lần gặp một đồ thị cung cầu trong đề thi, bạn thử viết ra ba hàng như vậy trước khi vẽ, và bạn sẽ bớt nhầm giữa dịch chuyển và di chuyển.
Độ co giãn tính ra sao và vì sao khác độ dốc?
Trả lời thẳng: Độ co giãn của cầu theo giá bằng phần trăm thay đổi của lượng cầu chia cho phần trăm thay đổi của giá, lấy giá trị tuyệt đối, và nó khác độ dốc vì độ dốc không đổi dọc một đường thẳng còn độ co giãn thì thay đổi. Shapiro, MacDonald và Greenlaw (2022) gọi giá trị trên 1 là co giãn, dưới 1 là kém co giãn.
Shapiro, MacDonald và Greenlaw (2022) khuyến nghị phương pháp điểm giữa để kết quả không phụ thuộc vào việc giá tăng hay giảm. Phần trăm thay đổi tính trên trung bình của giá trị đầu và cuối, theo công thức (Q2 − Q1) chia (Q2 + Q1)/2 rồi nhân 100, và làm tương tự cho giá. Bảng dưới gồm hai ví dụ của sách, và bài này đã tự tính lại các phép chia: 200 chia 2.900 ra 6,9%, 10 chia 65 ra 15,4%, 200 chia 1.700 ra 11,76% và 10 chia 125 ra 8,0%.
| Ví dụ | Giá đổi | Lượng đổi | Độ co giãn | Kết luận |
|---|---|---|---|---|
| Giá từ 70 xuống 60 USD, lượng từ 2.800 lên 3.000 | −15,4% | +6,9% | 0,45 | Kém co giãn |
| Giá từ 120 lên 130 USD, lượng từ 1.800 xuống 1.600 | +8,0% | −11,76% | 1,47 | Co giãn |
Sai lầm hay gặp nhất là coi độ co giãn như độ dốc. Shapiro, MacDonald và Greenlaw (2022) chỉ ra rằng trên đường cầu thẳng trong ví dụ trên, mỗi lần giá giảm 10 USD thì lượng tăng 200, nên độ dốc là −10 trên 200 và không đổi dọc đường. Trong khi đó độ co giãn đi từ 0,45 lên 1,47, tức là cùng một đường thẳng nhưng phần trên và phần dưới phản ứng với giá theo hai cách khác nhau.
Khi tự luyện, bạn nên tính cả hai ví dụ bằng tay, che đáp án, rồi so với con số của sách. Nếu bạn ra 0,45 và 1,47, bạn đã nắm công thức, còn bước tiếp theo là tự giải thích bằng lời vì sao một mặt hàng cầu kém co giãn thì người bán khó mất khách khi tăng giá.
Cách học microeconomics nào có bằng chứng ủng hộ?
Trả lời thẳng: Hai cách học có bằng chứng mạnh nhất cho môn này là tự kiểm tra thay vì đọc lại, và chia nhỏ việc ôn ra nhiều buổi. Dunlosky và cộng sự (2013) xếp luyện tập kiểm tra và học phân bổ theo thời gian ở mức hữu dụng cao trong 10 kỹ thuật học họ đánh giá, nhưng nghiên cứu này không riêng cho kinh tế.
Dunlosky, Rawson, Marsh, Nathan và Willingham (2013) đánh giá 10 kỹ thuật học phổ biến và xếp luyện tập kiểm tra cùng học phân bổ theo thời gian vào mức hữu dụng cao, vì chúng có lợi cho người học ở nhiều độ tuổi, nhiều năng lực và trên nhiều loại nhiệm vụ. Nhóm tác giả xếp elaborative interrogation, self-explanation và interleaved practice ở mức trung bình. Cũng theo Dunlosky và cộng sự (2013), tóm tắt, gạch chân, mẹo ghi nhớ bằng từ khoá, dùng hình ảnh để học văn bản và đọc lại đều ở mức hữu dụng thấp.
| Kỹ thuật | Mức hữu dụng theo Dunlosky và cộng sự (2013) | Cách áp dụng cho microeconomics (gợi ý của bài này) |
|---|---|---|
| Luyện tập kiểm tra | Cao | Che đáp án và tự giải bài tính độ co giãn |
| Học phân bổ theo thời gian | Cao | Trải 8 chủ đề trong danh sách ở trên ra nhiều tuần |
| Elaborative interrogation | Trung bình | Tự hỏi vì sao cầu của một mặt hàng kém co giãn |
| Self-explanation | Trung bình | Giải thích từng bước của một phép tính biên |
| Interleaved practice | Trung bình | Trộn bài cung cầu với bài chi phí trong một buổi |
Karpicke và Roediger (2008) cho một bằng chứng cụ thể hơn về tự kiểm tra. Họ thấy rằng sau khi người học đã nhớ đúng một từ, việc học lại tiếp không ảnh hưởng tới khả năng nhớ sau đó, còn việc tiếp tục tự kiểm tra thì có tác động tích cực lớn. Họ cũng thấy dự đoán của người học về kết quả của chính mình không tương quan với kết quả thực, nghĩa là cảm giác đã thuộc không đáng tin.
Có hai giới hạn cần nói thẳng. Thí nghiệm của Karpicke và Roediger (2008) dùng từ vựng ngoại ngữ, không phải kinh tế vi mô, nên việc chuyển kết luận sang môn này là suy luận hợp lý chứ chưa phải kết quả đo trực tiếp. Dunlosky và cộng sự (2013) cũng không nghiên cứu riêng kinh tế, nên cột cuối của bảng là gợi ý của bài này.
Về thời lượng, đề cương của Trường Đại học Tài chính Ngân hàng Hà Nội, Viện Lý luận cơ bản, Bộ môn Kinh tế - Xã hội (2022) phân bổ 150 giờ cho một môn 3 tín chỉ, gồm 30 giờ nghe giảng, 6 giờ thực hành, 6 giờ thảo luận, 6 giờ kiểm tra và 102 giờ tự học, nghiên cứu. Con số này chỉ là một ví dụ, nhưng nó cho thấy phần lớn công sức của môn nằm ngoài lớp học.
Những lỗi nào khiến sinh viên mất điểm?
Trả lời thẳng: Năm lỗi hay gặp là nhầm cầu với lượng cầu, nhầm độ dốc với độ co giãn, tính chi phí cơ hội bằng tiền thay vì thứ phải bỏ, cho chi phí chìm tham gia quyết định, và học bằng đọc lại mà không tự kiểm tra. Bốn lỗi đầu có trong giáo trình của Shapiro, MacDonald và Greenlaw (2022), lỗi cuối dựa trên Karpicke và Roediger (2008).
Bảng dưới gom năm lỗi cùng cách sửa. Cột nguồn cho biết lỗi nào đã được nguồn nêu, và cột cách sửa là cách bài này diễn đạt lại.
| Lỗi | Cách sửa | Nguồn |
|---|---|---|
| Gọi một điểm trên đường cầu là cầu | Phân biệt cả đường cầu với một lượng cầu ở một mức giá | Shapiro, MacDonald và Greenlaw (2022) |
| Coi độ co giãn là độ dốc | Tính phần trăm thay đổi của lượng và giá rồi mới chia | Shapiro, MacDonald và Greenlaw (2022) |
| Tính chi phí cơ hội bằng tiền | Nêu thứ phải bỏ đi, như 4 vé xe buýt cho một burger | Shapiro, MacDonald và Greenlaw (2022) |
| Cho chi phí chìm vào quyết định | Chỉ xét chi phí và lợi ích còn thay đổi được | Shapiro, MacDonald và Greenlaw (2022) |
| Chỉ đọc lại bài giảng | Tự kiểm tra và đối chiếu với đáp án | Karpicke và Roediger (2008) cùng Dunlosky và cộng sự (2013) |
Trong bài thi, lỗi thứ hai thường lộ ra khi đề cho một đường cầu thẳng và hỏi vì sao độ co giãn khác nhau ở hai điểm. Bạn trả lời bằng phép tính điểm giữa như ở phần trên, rồi nêu rõ độ dốc không đổi còn độ co giãn thì đổi, như hai ví dụ 0,45 và 1,47. Lỗi thứ nhất thường lộ ra ở phần giải thích đồ thị, khi bạn viết "cầu tăng" trong lúc đề chỉ nói giá giảm.
Khi tự học vẫn kẹt thì làm gì?
Bạn có thể thử ba việc trước khi nhờ ai. Việc thứ nhất là lập danh sách tám chủ đề ở trên rồi đánh dấu chủ đề nào bạn chưa giải thích được bằng lời cho một người ngoài ngành. Việc thứ hai là với mỗi chủ đề còn thiếu, che đáp án và tự giải ít nhất một bài, như bài độ co giãn ở phía trên. Việc thứ ba là ghi lại chính xác bước mà bạn kẹt, vì một câu hỏi như "em không hiểu vì sao đường cầu này vẫn co giãn ở phía trên dù độ dốc không đổi" dễ được giải đáp hơn nhiều so với câu "em không hiểu độ co giãn".
Nếu bạn đã tự kiểm tra và lập lịch ôn nhưng vẫn kẹt ở độ co giãn hay đường cung, trang gia sư 1:1 theo môn của MAAS dành cho sinh viên đại học và học viên thạc sĩ đang học một môn dạy bằng tiếng Anh. Gia sư dạy để bạn hiểu và tự làm được bài của mình, nên dịch vụ không dành cho bạn nếu bạn muốn bài được làm xong ngay trong buổi học. Thời gian ghép gia sư thường trong 48 giờ, và nếu trong danh sách chưa có chuyên gia học thuật phù hợp thì MAAS phải tuyển thêm, khi đó thời gian ghép có thể kéo dài khoảng hai tuần. Nếu gia sư chưa hợp, bạn có thể đề nghị đổi gia sư. Bạn có thể đặt buổi tư vấn miễn phí 15 phút để nói trước về môn học và phần đang vướng.
Đọc tiếp
- ECON1001 Introductory Microeconomics: hướng dẫn assignment
- ECON1010 Introductory Microeconomics: hướng dẫn assignment
- ECON1101 Microeconomics 1: hướng dẫn assignment
Câu hỏi thường gặp
Microeconomics là gì, nói đơn giản?
Microeconomics là môn học về những lựa chọn của từng tác nhân trong nền kinh tế, gồm hộ gia đình, người lao động và doanh nghiệp, khi họ không có đủ nguồn lực cho mọi mong muốn. Theo Shapiro, MacDonald và Greenlaw (2022), môn này đi cùng macroeconomics chứ không đứng riêng.
Kinh tế vi mô và microeconomics có phải là một không?
Kinh tế vi mô và microeconomics là cùng một môn, một tên bằng tiếng Việt và một tên bằng tiếng Anh. Trường Đại học Mở TP.HCM, Khoa Kinh tế và Quản lý công (2019) ghi "Kinh tế vi mô 1" kèm tên tiếng Anh "Micro Economics", còn Trường Đại học Tài chính Ngân hàng Hà Nội, Viện Lý luận cơ bản, Bộ môn Kinh tế - Xã hội (2022) ghi "Kinh tế vi mô" kèm "Microeconomics".
Nên học microeconomics hay macroeconomics trước?
Việc học microeconomics hay macroeconomics trước không có thứ tự bắt buộc. Shapiro, MacDonald và Greenlaw (2022) coi hai nhánh là hai góc nhìn bổ sung cho cùng một nền kinh tế mà không đặt thứ tự học, nên bạn theo thứ tự mà chương trình hoặc giảng viên của bạn sắp xếp.
Cách học macroeconomics có khác cách học microeconomics không?
Cách học macroeconomics khác cách học microeconomics ở nội dung, vì vĩ mô xoay quanh tăng trưởng, thất nghiệp và lạm phát theo Shapiro, MacDonald và Greenlaw (2022), còn vi mô xoay quanh quyết định của từng tác nhân. Hai kỹ thuật tự kiểm tra và học phân bổ của Dunlosky và cộng sự (2013) có thể dùng cho cả hai môn, nhưng đó là suy luận của bài này vì nghiên cứu không riêng cho kinh tế.
Một môn microeconomics 3 tín chỉ cần bao nhiêu giờ học?
Một môn microeconomics 3 tín chỉ trong đề cương của Trường Đại học Tài chính Ngân hàng Hà Nội, Viện Lý luận cơ bản, Bộ môn Kinh tế - Xã hội (2022) cần 150 giờ, trong đó có 102 giờ tự học và nghiên cứu. Đây là quy định của một trường trong nước, nên chương trình dạy bằng tiếng Anh ở nước ngoài có thể tính tín chỉ và giờ tự học theo cách khác, và bạn nên xem đề cương của chính môn mình.
Ai nên dùng gia sư 1:1 của MAAS cho môn microeconomics?
Gia sư 1:1 của MAAS dành cho sinh viên đại học và học viên thạc sĩ đang học một môn dạy bằng tiếng Anh, và gia sư không làm hay nộp bất kỳ bài đánh giá nào thay bạn. Theo trang dịch vụ, gia sư dạy để bạn hiểu và tự làm được, và MAAS không hứa một mức điểm cụ thể.
References
- Dunlosky, J., Rawson, K. A., Marsh, E. J., Nathan, M. J., & Willingham, D. T. (2013). Improving students' learning with effective learning techniques: Promising directions from cognitive and educational psychology. Psychological Science in the Public Interest, 14(1), 4-58. https://doi.org/10.1177/1529100612453266
- Karpicke, J. D., & Roediger, H. L., III. (2008). The critical importance of retrieval for learning. Science, 319(5865), 966-968. https://doi.org/10.1126/science.1152408
- Shapiro, D., MacDonald, D., & Greenlaw, S. A. (2022). Principles of microeconomics (3rd ed.). OpenStax. https://openstax.org/books/principles-microeconomics-3e
- Trường Đại học Mở TP.HCM, Khoa Kinh tế và Quản lý công. (2019). Đề cương môn học: Kinh tế vi mô 1 (ECON1301). Retrieved October 7, 2026, from https://v1.ou.edu.vn/ktqlc/Documents/TIN%20DAO%20TAO/De%20cuong%20mon%20hoc%20khoa%202019/33%20-%20Kinh%20te%20vi%20mo%201%20-%20ECON1301.pdf
- Trường Đại học Tài chính Ngân hàng Hà Nội, Viện Lý luận cơ bản, Bộ môn Kinh tế - Xã hội. (2022). Đề cương chi tiết học phần Kinh tế vi mô. Retrieved October 7, 2026, from https://vienhaiquanthuekhobac.fbu.edu.vn/wp-content/uploads/2024/04/18.-DC-HP-KINH-TE-VI-MO-2022.pdf
