Skip to content
Quay lại BlogEconomics

ECON1102: vì sao biết chuyện kinh tế lại làm môn kinh tế vĩ mô khó hơn?

20 phút đọc3,976 từ

Gần như bạn nào bước vào Macroeconomics 1 cũng đã có sẵn quan điểm về lạm phát, lãi suất và thất nghiệp, bởi những thứ đó nằm trên mặt báo suốt quãng đời trưởng thành của các bạn, từ quyết định cash rate hằng tháng của Reserve Bank of Australia cho tới số liệu CPI theo quý do Australian Bureau of Statistics công bố. Đây là một điểm xuất phát khác hẳn kinh tế vi mô, nơi phần kiến thức có sẵn đến từ giáo trình. Ở môn này, nó đến từ tin tức và từ chính trị, người ta nắm nó rất chắc chắn mà lại không có hệ thống, và nó thường đúng là thứ chắn giữa sinh viên với một câu trả lời đúng. Dưới đây là cách chuyên gia MAAS phân tích một môn có cấu trúc như vậy.

Tác giả: Ban biên tập MAAS · Hiệu đính bởi mentor chuyên môn của MAAS
Cập nhật: 19/08/2026
Chuyên mục: economics

Bàn làm việc với biểu đồ thị trường in, máy tính bỏ túi và tiền giấy
Ảnh minh hoạ

Trước tiên, hãy xác nhận bạn đang học ECON1102 của trường nào

Trả lời trực tiếp: Bài viết này mô tả môn ECON1102 Macroeconomics 1 của UNSW Sydney, 6 đơn vị tín chỉ (6 UOC) theo khung Australian Qualifications Framework (AQF), thuộc School of Economics trong UNSW Business School. Handbook 2026 của UNSW ghi ECON1101 là môn tiên quyết, nghĩa là môn này mặc định bạn đã học xong Microeconomics 1, còn tỷ lệ chấm điểm do đề cương từng kỳ quyết định, không nằm trong handbook.

Bằng chứng: Handbook 2026 xác nhận mã môn, tên môn và 6 UOC, đơn vị tín chỉ này được UNSW quy đổi theo khung Australian Qualifications Framework (AQF). Phần tiên quyết cùng thông tin khoa lấy từ mục của môn trong handbook UNSW. Riêng tỷ lệ chấm điểm thì được ấn định trong đề cương của từng kỳ chứ không nằm trong handbook, và nó thay đổi giữa các kỳ, nên bài này cố ý không nêu con số nào. Hãy lấy tỷ lệ từ đề cương của chính bạn trên Moodle trước khi lập bất cứ kế hoạch nào quanh nó.

Ví dụ: đúng lỗi nguồn cũ mà Colander (2005) cảnh báo, một bạn lập kế hoạch cả kỳ dựa trên tỷ lệ chấm điểm mà người bạn của mình kể lại từ một đợt trước. Danh mục chủ đề thì giống hệt, còn tỷ lệ thì không. Không có gì trong phần kinh tế học thay đổi cả, chỉ có phép tính về việc nên dồn giờ vào đâu là sai, đúng loại nhầm lẫn giữa nguồn thông tin đáng tin và nguồn thông tin lỗi thời mà Colander (2005) cũng cảnh báo khi bàn về giáo trình cũ.


Môn này thật ra nói về cái gì?

Trả lời trực tiếp: Hành vi kinh tế ở cấp tổng thể, soi qua các biến số vĩ mô then chốt gồm sản lượng, việc làm, lạm phát, lãi suất và tỷ giá. Handbook mô tả bốn hoạt động chứ không phải một, và chúng đáng được tách ra: đo lường các biến số ấy, dựng mô hình và lý thuyết giải thích chúng, thẩm định các mô hình đó bằng bằng chứng thực nghiệm, và hiểu chính sách của chính phủ tác động thế nào lên kết quả.

Bảng đối chiếu bốn chuẩn đầu ra của ECON1102 với biểu hiện trong bài mạnh và chỗ sinh viên thường làm chưa tới, gồm đo lường, mô hình, bằng chứng và chính sách
Bốn điều môn học đòi hỏi, và khoảng cách giữa bài mạnh với bài thường gặp

Bằng chứng: Hãy để ý hoạt động thứ ba. Thẩm định một mô hình bằng bằng chứng không phải cùng một việc với vận dụng mô hình đó, và nó là việc sinh viên ít có cơ hội luyện nhất. Ở kinh tế vi mô, bạn thường chỉ được hỏi đã vận dụng mô hình cho đúng hay chưa. Ở đây, bạn còn bị hỏi mô hình ấy, chẳng hạn IS-LM model hay Quantity Theory of Money, có phải mô hình phù hợp với câu hỏi hay không.

Ví dụ: Khi được hỏi sản lượng sẽ ra sao nếu ngân hàng trung ương nâng lãi suất điều hành, một bạn trình bày chuỗi truyền dẫn rất chuẩn rồi dừng. Câu trả lời mạnh hơn cũng làm đúng như vậy rồi nêu thêm mắt xích nào trong chuỗi đó yếu nhất về mặt thực nghiệm, và bảng cân đối tài sản của hộ gia đình phải như thế nào thì hiệu ứng mới lớn đúng mức mô hình ngụ ý, đúng kênh truyền dẫn qua lãi suất mà mô hình IS-LM của Hicks (1937) mô tả.

Môn học đòi gì Nó trông ra sao trong bài làm Chỗ sinh viên làm chưa tới
Đo lường các biến số Biết con số đó thật sự đếm cái gì Dùng lạm phát và mức sống đắt đỏ thay cho nhau
Dựng mô hình và lý thuyết Trình bày cơ chế chứ không chỉ trình bày kết quả Gọi tên một mối quan hệ mà không nêu kênh truyền dẫn
Thẩm định mô hình bằng bằng chứng Nói được điều gì sẽ củng cố hoặc làm khó mô hình Coi mô hình như một sự thật
Hiểu tác động của chính sách Lần theo một công cụ cho tới tận kết quả Nhảy thẳng từ chính sách sang kết luận

Phần kiến thức có sẵn lại cản đường bạn

Trả lời trực tiếp: Ai cũng có quan điểm về kinh tế vĩ mô, và các câu hỏi vĩ mô mang màu sắc chính trị, còn câu hỏi vi mô thì thường không. Môn học không yêu cầu bạn từ bỏ quan điểm của mình. Nó yêu cầu bạn để quan điểm ấy tách khỏi phần phân tích, để bạn lần được điều một mô hình ngụ ý ngay cả khi bạn không thích điều đó.

Bằng chứng: Đây không phải là nói rằng giới chuyên môn đã ngã ngũ và sinh viên chỉ việc theo kịp. Blanchard (2018) viết rằng các mô hình dùng trong kinh tế vĩ mô đã hoạt động kém trong khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Nguyên văn ông viết: "current DSGE models are flawed, but they contain the right foundations and must be improved rather than discarded" (Blanchard, 2018, p. 43), đồng thời ông đề xuất rằng có nhiều loại mô hình khác nhau phục vụ những mục đích khác nhau thay vì một mô hình gánh tất cả, đúng tinh thần đa mô hình mà Taylor (1993) và Hicks (1937) minh hoạ khi mỗi mô hình trả lời một câu hỏi khác nhau. Đó là một mô tả trung thực về một lĩnh vực đang tranh luận với chính mình, đúng cách Taylor (1993) và Hicks (1937) từng đại diện cho hai thế hệ mô hình khác nhau của cùng một cuộc tranh luận.

Ví dụ: Khi được hỏi việc nâng lương tối thiểu có làm tăng thất nghiệp hay không, một bạn viết hẳn một đoạn về sự công bằng và chi phí sinh hoạt. Cả hai điều đó đều quan trọng và không điều nào là câu hỏi được đặt ra, đúng ranh giới giữa giá trị và cơ chế mà Card và Krueger (1994) giữ vững trong suốt nghiên cứu của mình. Câu hỏi hỏi một mô hình cụ thể dự đoán điều gì và ta nên tin dự đoán ấy tới mức nào, mà đây là thứ trả lời được, khác với một cuộc tranh cãi về giá trị. Nghiên cứu thực nghiệm của Card và Krueger (1994) trên American Economic Review chính là ví dụ kinh điển cho kiểu câu trả lời này, vì kết quả họ đo được ở ngành fast-food tại New Jersey không khớp với dự đoán đơn giản của mô hình cung cầu lao động chuẩn.

Dùng điều này trong phòng thi ra sao. Khi một câu hỏi nghe có mùi chính trị, hãy tìm cơ chế trước. Nói rõ hiệu ứng đi qua kênh nào, nó phụ thuộc vào điều gì, và bằng chứng nào cho bạn biết kênh đó đang vận hành. Một kết luận đi tới theo cách ấy sẽ đứng vững trước cả người chấm không đồng tình với bạn, đúng cách Card và Krueger (1994) để bằng chứng thực nghiệm đứng vững trước một dự đoán lý thuyết phổ biến.


Vì sao khoảng cách giữa thứ được dạy và thứ được làm lại quan trọng ở đây

Trả lời trực tiếp: Kinh tế vĩ mô nhập môn buộc phải dạy những mô hình đã đơn giản hoá, và một sinh viên năm nhất hoàn toàn có thể nhầm phần đơn giản hoá ấy với hiện trạng của cả ngành. Khi bạn ý thức được rằng phiên bản trên giảng đường chỉ là phiên bản đã giản lược để dạy, cách bạn viết về nó sẽ đổi theo.

Bằng chứng: Colander (2005) lập luận rằng đã hình thành một khoảng cách giữa thứ các nhà kinh tế nghiên cứu và thứ các môn nguyên lý đem đi dạy, và dù ông nhắm vào chương trình nguyên lý nói chung, nhận xét ấy càng đúng với kinh tế vĩ mô, nơi biên nghiên cứu dịch chuyển hẳn sau năm 2008. Điều rút ra cho sinh viên không phải là hãy nghi ngờ môn học, mà là hãy viết với đúng mức độ chắc chắn, đúng tinh thần Blanchard (2018) đề xuất cho cách nhìn một mô hình vĩ mô chưa hoàn hảo.

Ví dụ: Một bạn viết rằng một chính sách "sẽ" tạo ra một kết quả nhất định thì mất điểm, còn bạn viết "được kỳ vọng sẽ, với điều kiện kênh truyền dẫn còn hoạt động" thì không. Cả hai đều hiểu mô hình. Chỉ một bạn cho thấy mình hiểu mô hình là cái gì, đúng khoảng cách giữa vận dụng và thẩm định mà Blanchard (2018) coi là trọng tâm của nghiên cứu vĩ mô sau năm 2008.


Đo lường không phải phần buồn tẻ

Trả lời trực tiếp: Handbook liệt kê việc đo lường các biến số trước, đứng trước cả việc mô hình hoá chúng, và thứ tự ấy không phải ngẫu nhiên. Một phần lớn số điểm mất ở kinh tế vĩ mô năm nhất thuộc về định nghĩa chứ không thuộc về phân tích, bởi nghĩa thường ngày và nghĩa kỹ thuật của những từ này đã trôi xa nhau.

Bằng chứng: Lạm phát là tốc độ thay đổi của một chỉ số giá chứ không phải mức giá, nên một nền kinh tế hoàn toàn có thể vừa có lạm phát giảm vừa có giá tăng, mà đây đúng là tình huống phần lớn sinh viên đã sống qua và cũng là chỗ họ hay mô tả sai nhất. Reserve Bank of New Zealand là ngân hàng trung ương đầu tiên trên thế giới chính thức áp dụng khung mục tiêu lạm phát, từ năm 1990, và Reserve Bank of Australia đặt mục tiêu lạm phát trong khoảng 2% tới 3% tính theo chu kỳ kinh doanh, còn chỉ số CPI dùng để đo mức đó do Australian Bureau of Statistics công bố theo quý. Thất nghiệp chỉ đếm những người không có việc làm và đang tích cực tìm việc, nên một người thôi không tìm nữa sẽ rời khỏi lực lượng lao động và biến mất khỏi cả tỷ lệ thất nghiệp, dù họ vẫn chưa có việc. Tổng sản phẩm trong nước đo phần sản xuất diễn ra trong lãnh thổ, nên một quốc gia có nhiều cơ sở do nước ngoài sở hữu vẫn có thể ghi nhận sản lượng mà người dân nước đó không nhận được dưới dạng thu nhập, cùng lý do khiến GDP của Úc do Australian Bureau of Statistics công bố và GNI khác nhau ở phần thu nhập từ nước ngoài.

Ví dụ: Khi được hỏi vì sao thất nghiệp đo được lại giảm trong một giai đoạn yếu kém, một bạn kết luận rằng thị trường lao động đã tốt lên. Câu trả lời mạnh hơn nêu rằng tỷ lệ tham gia lực lượng lao động cũng giảm cùng lúc, nghĩa là một phần của sự cải thiện ấy đến từ việc người ta thôi tìm việc chứ không phải từ việc họ tìm được việc. Dữ liệu thì giống hệt nhau. Chỉ một câu trả lời biết con số đó đang đếm cái gì, đúng khoảng cách giữa đo lường và mô hình hoá mà Blanchard (2018) nhắc tới khi bàn về giới hạn của các mô hình vĩ mô chuẩn, và đúng phần đo lường mà Phillips (1958) phải làm trước khi công bố mối quan hệ của mình.

Hãy dựng cuốn từ vựng ấy ngay tuần đầu và giữ nó gọn trong một trang. Mỗi mục cần có định nghĩa, thứ hay bị nhầm với nó, và một câu về lúc nào sự nhầm lẫn đó làm đổi câu trả lời, đúng kỷ luật đo lường trước mô hình hoá mà Phillips (1958) tuân theo khi công bố mối quan hệ của mình.


Một bài vĩ mô mạnh trông thế nào

Trả lời trực tiếp: Một bài vĩ mô mạnh gọi tên biến số cho chính xác, trình bày cơ chế thành một chuỗi thay vì một cú nhảy, đánh dấu mức độ chắc chắn của chính nó, và nói được điều gì sẽ làm đổi câu trả lời.

Bằng chứng: Từng thứ trong đó đều ứng với một điều handbook mô tả. Sự chính xác ứng với phần đo lường. Chuỗi cơ chế ứng với phần dựng mô hình. Mức độ chắc chắn ứng với phần thẩm định mô hình bằng bằng chứng. Còn nước đi cuối cùng, tức nói được điều gì sẽ làm đổi câu trả lời, chính là thứ biến một bài vận dụng thành một bài thẩm định, và nó thường là ranh giới giữa một bài chắc tay với một bài mạnh.

Ví dụ: Hai bài về một đợt giảm giá đồng tiền cùng đi tới một kết luận về xuất khẩu ròng. Bài yếu hơn khẳng định điều đó. Bài mạnh hơn lần từ giá tương đối sang sản lượng, nêu rằng hiệu ứng phụ thuộc vào tốc độ phản ứng của lượng, rồi nhận xét rằng câu trả lời trong ngắn hạn có thể chạy ngược lại trước khi đảo chiều. Câu cuối ấy chỉ dài thêm một dòng mà thể hiện được ba chuẩn đầu ra cùng lúc, đúng mức độ chắc chắn mà Colander (2005) cho rằng sinh viên nên gắn vào một mô hình đã được đơn giản hoá để dạy.


Bốn mô hình bạn sẽ gặp lại nhiều lần

Trả lời trực tiếp: ECON1102 xoay quanh bốn mô hình cốt lõi. IS-LM model, do Hicks trình bày năm 1937, mô tả thị trường hàng hoá và tiền tệ cùng xác định sản lượng và lãi suất. Phillips Curve, công bố năm 1958, gắn thất nghiệp với tốc độ thay đổi tiền lương. Taylor Rule năm 1993 ước tính lãi suất điều hành hợp lý, còn Quantity Theory of Money giải thích vì sao in thêm tiền kéo giá lên.

ECON1102 xoay quanh một số mô hình cốt lõi, và nhận ra chúng ngay từ đầu giúp bạn đỡ mất thời gian đoán câu hỏi đang hỏi về mô hình nào. IS-LM model, do John Hicks trình bày lần đầu trên Econometrica năm 1937, mô tả cách thị trường hàng hoá và thị trường tiền tệ cùng xác định sản lượng và lãi suất. Phillips Curve, đặt theo tên nhà kinh tế A. W. Phillips, người công bố mối quan hệ giữa thất nghiệp và tốc độ thay đổi tiền lương trên Economica năm 1958, vẫn là điểm khởi đầu quen thuộc cho các câu hỏi về đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp, dù bản thân mối quan hệ này đã lỏng đi nhiều so với dữ liệu gốc. Taylor Rule, do John Taylor đề xuất năm 1993 trên Carnegie-Rochester Conference Series on Public Policy, cho một công thức cụ thể để ước tính mức lãi suất điều hành hợp lý dựa trên độ lệch lạm phát và độ lệch sản lượng, và các ngân hàng trung ương như Reserve Bank of Australia hay Federal Reserve vẫn tham chiếu logic của quy tắc này khi giải thích quyết định lãi suất. Quantity Theory of Money, gắn với tên tuổi Irving Fisher, đứng phía sau phần lớn câu hỏi về vì sao in thêm tiền lại kéo giá lên trong dài hạn.


Đọc thêm

Nếu bạn đang học môn tiên quyết trong kỳ này hoặc muốn ôn lại nó, bài hướng dẫn của MAAS về ECON1101 Microeconomics 1 nói về môn đứng trước trong chuỗi và những thói quen đọc đồ thị mà nó xây cho bạn.


Sáu việc đáng làm ở môn này

Trả lời trực tiếp: Sáu việc nên làm gồm lấy tỷ lệ chấm điểm từ đề cương trên Moodle, giữ một trang từ vựng ghi các biến số và điều mỗi biến thật sự đo, viết ra kênh truyền dẫn cho mỗi mối quan hệ, gắn dấu hiệu mức độ chắc chắn vào kết luận, trả lời phần cơ chế khi câu hỏi chạm chính trị, và luyện nước đi kết bài nói ra điều gì sẽ làm đổi câu trả lời.

  1. Lấy tỷ lệ chấm điểm hiện hành từ đề cương của chính bạn trên Moodle. Tỷ lệ này ấn định theo từng kỳ và nó có dịch chuyển.
  2. Giữ một trang từ vựng ghi các biến số kèm việc mỗi biến thật sự đo cái gì. Phần lớn sự lúng túng ở vĩ mô thuộc về định nghĩa trước khi thuộc về phân tích.
  3. Với mỗi mối quan hệ, hãy viết ra kênh truyền dẫn của nó, kiểu kênh mà mô hình IS-LM của Hicks (1937) trình bày giữa thị trường hàng hoá và thị trường tiền tệ. Một mối quan hệ không có kênh chỉ là một kết quả học thuộc.
  4. Gắn dấu hiệu mức độ chắc chắn vào kết luận, đúng tinh thần Blanchard (2018) đề xuất khi nói một mô hình cần được cải thiện chứ không nên bị coi là đã hỏng hay đã đúng tuyệt đối. Hãy tập viết "được kỳ vọng sẽ" và hiểu đúng điều mình viết.
  5. Khi một câu hỏi chạm tới chính trị, hãy trả lời phần cơ chế chứ đừng trả lời phần đúng sai, đúng cách Card và Krueger (1994) để dữ liệu thực nghiệm quyết định thay vì để quan điểm chính trị quyết định.
  6. Luyện nước đi kết bài là nói ra điều gì sẽ làm đổi câu trả lời. Nước đi đó chỉ tốn thêm một câu mà lại thể hiện thẳng chuẩn đầu ra về thẩm định, đúng chuẩn mà Colander (2005) đặt ra cho một sinh viên biết mình đang dùng một mô hình đã giản lược.

Câu hỏi thường gặp

ECON1102 có điều kiện tiên quyết gì?
Handbook UNSW ghi ECON1101 Microeconomics 1. Môn do School of Economics thuộc UNSW Business School giảng dạy và có 6 đơn vị tín chỉ, đúng cấu trúc tiên quyết mà Colander (2005) coi là bình thường giữa các môn nguyên lý nối tiếp nhau.

Vì sao bài này không nêu tỷ lệ chấm điểm?
Vì tỷ lệ được ấn định trong đề cương của từng kỳ chứ không nằm trong handbook, và nó khác nhau giữa các đợt mở lớp. Trích một con số từ kỳ trước còn tệ hơn là không trích, bởi nó trông có vẻ đáng tin trong khi lại sai với bạn, đúng cảnh báo về nguồn cũ mà Colander (2005) đưa ra cho tài liệu giảng dạy. Đề cương trên Moodle mới là nguồn đúng.

Kinh tế vĩ mô có khó hơn kinh tế vi mô không?
Không hẳn là khó hơn, mà khó theo kiểu khác. Bài tập vi mô thường có một đáp án xác định một khi bạn vận dụng mô hình cho đúng. Câu hỏi vĩ mô lại hay đòi bạn nói mô hình cho phép mình chắc chắn tới đâu, mà đây là một đòi hỏi lạ ở bậc năm nhất, đúng khoảng cách mà Colander (2005) mô tả giữa thứ các nhà kinh tế nghiên cứu và thứ môn nguyên lý đem đi dạy.

Tôi có được đưa quan điểm riêng về chính sách kinh tế vào bài không?
Bạn được phép đi tới một kết luận, nhưng kết luận ấy phải tới qua phần phân tích. Hãy nêu cơ chế, nêu nó phụ thuộc vào điều gì, rồi mới kết luận. Một bài xuất phát từ kết luận sẽ bị đọc thành ý kiến cá nhân, bất kể kết luận đó có bảo vệ được hay không, đúng cách Card và Krueger (1994) để dữ liệu thực nghiệm dẫn dắt kết luận thay vì đi ngược lại.

Tôi có cần theo dõi tin tức kinh tế cho môn này không?
Việc đó giúp ích cho trực giác và nó không thay được tài liệu môn học. Hãy coi tin tức là nguồn ví dụ để đem ra thử các mô hình, chứ đừng coi nó là nguồn đáp án, đúng cách Blanchard (2018) vẫn coi mô hình là công cụ kiểm chứng chứ không phải quan điểm cá nhân, và đúng cách Taylor (1993) dùng dữ liệu thực tế để kiểm một quy tắc chứ không phải để minh hoạ một lập trường.


MAAS đứng ở đâu trong việc này

Chuyên gia MAAS làm việc cùng sinh viên ở những môn như thế này, chứ không làm thay. Với kinh tế vĩ mô năm nhất, hai việc hữu ích nhất mà người đồng hành làm được là bắt bạn nêu kênh truyền dẫn mỗi lần, để các kết quả thôi là thứ bạn nhớ và bắt đầu là thứ bạn suy ra được, và vặn vào những dấu hiệu chắc chắn trong bài cho tới khi chúng khớp với mức mà bằng chứng thật sự cho phép. Bài làm vẫn là của bạn, đúng vai trò thẩm định chứ không phải mô hình hoá mà Colander (2005) và Blanchard (2018) đều gán cho một người đọc có kỷ luật. Nếu điều đó hữu ích, dịch vụ hỗ trợ học thuậtdịch vụ gia sư của MAAS là hai chỗ để bắt đầu.


References

Blanchard, O. (2018). On the future of macroeconomic models. Oxford Review of Economic Policy, 34(1–2), 43–54. https://doi.org/10.1093/oxrep/grx045

Colander, D. (2005). What economists teach and what economists do. Journal of Economic Education, 36(3), 249–260. https://doi.org/10.3200/JECE.36.3.249-260

Card, D., & Krueger, A. B. (1994). Minimum wages and employment: A case study of the fast-food industry in New Jersey and Pennsylvania. American Economic Review, 84(4), 772–793.

Hicks, J. R. (1937). Mr. Keynes and the "Classics": A suggested interpretation. Econometrica, 5(2), 147–159. https://doi.org/10.2307/1907242

Phillips, A. W. (1958). The relation between unemployment and the rate of change of money wage rates in the United Kingdom, 1861–1957. Economica, 25(100), 283–299. https://doi.org/10.1111/j.1468-0335.1958.tb00003.x

Taylor, J. B. (1993). Discretion versus policy rules in practice. Carnegie-Rochester Conference Series on Public Policy, 39, 195–214. https://doi.org/10.1016/0167-2231(93)90009-L

Tools & resources

UNSW Sydney. (2026). ECON1102: Macroeconomics 1. https://www.handbook.unsw.edu.au/undergraduate/courses/2026/ECON1102

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.