Sinh viên ghi danh một môn kinh tế với hình dung về đồ thị cung cầu, còn kế hoạch đánh giá của môn này lại đặt sáu mươi phần trăm điểm vào hai bài nhật ký phản tư.
Sinh viên ghi danh một môn kinh tế với hình dung về đồ thị cung cầu, còn kế hoạch đánh giá của môn này lại đặt sáu mươi phần trăm điểm vào hai bài nhật ký phản tư. Đó không phải yêu cầu nhẹ nhàng hơn một bài tính toán, mà là một yêu cầu khác hẳn, và nó vẫn hạ gục những sinh viên giỏi chưa từng được dạy thể loại viết này. Hai bài nhật ký cũng chính là nơi hai chuẩn đầu ra đầu tiên của môn được kiểm tra, nghĩa là ở môn này bạn làm phần kinh tế học thông qua việc phản tư, chứ phản tư không phải quãng nghỉ giữa các phần kinh tế học.
Ghi chú về mã môn: bài này viết về môn của Auckland University of Technology. Một số trường Bắc Mỹ có môn BUS 508 về kinh doanh đương đại, hoàn toàn khác, nên bạn hãy đối chiếu tên môn trong hồ sơ đăng ký của mình trước.
Tác giả: Đội ngũ biên tập MAAS · Hiệu đính bởi cố vấn cấp cao ngành Kinh tế (Tiến sĩ, Kinh tế học)
Cập nhật lần cuối: 14/08/2026
Chuyên mục: mẹo viết bài
Môn học được cấu trúc thế nào?
Trả lời trực tiếp: BUSS508 Economics and International Business là môn 15 điểm tín chỉ bậc trình độ 5 thuộc Khoa Kinh doanh, Kinh tế và Luật của AUT, không có môn tiên quyết, tổng thời lượng học tập là 150 giờ. Bản mô tả môn của trường ghi rõ ba bài đánh giá: Nhật ký phản tư 1 chiếm 30%, Nhật ký phản tư 2 chiếm 30%, và bài phân tích tình huống tổng hợp chiếm 40%. Cả ba đều là bài cá nhân.
Bằng chứng: Bản mô tả môn học gắn từng bài đánh giá với chuẩn đầu ra cụ thể, và chính bảng gắn kết đó là thông tin lập kế hoạch hữu ích nhất bạn có. Nhật ký 1 kiểm chuẩn đầu ra một, tức vận dụng quy luật cung cầu trong chính sách môi trường và suy ngẫm về tác động của hoạt động kinh tế lên môi trường. Nhật ký 2 kiểm chuẩn đầu ra hai, tức suy ngẫm về bên được và bên mất trong dòng dịch chuyển xuyên biên giới của hàng hoá, dịch vụ, vốn và lao động suốt thế kỷ vừa qua. Bài tình huống kiểm cả bốn chuẩn đầu ra cùng lúc, bổ sung vai trò của cạnh tranh với phúc lợi người tiêu dùng cùng việc đánh giá chiến lược, đổi mới và nỗ lực của người lao động trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh. Môn này bị hạn chế đăng ký song song với BUSS504 và ECON501, nên bạn không tính được cả ba cùng lúc.
Ví dụ: Một bạn sinh viên từng học kinh tế ở bậc phổ thông thấy phần nội dung dễ chịu và bài nhật ký đầu tiên thì khó. Vấn đề chưa bao giờ nằm ở đường cầu. Vấn đề là chưa có gì trong quá trình học trước đó yêu cầu bạn viết về chuyện một đường cầu hàm ý điều gì cho một quyết định mà bạn đã tận mắt nhìn người ta đưa ra.
Bản mô tả môn có được sửa đổi giữa các kỳ giảng dạy, nên bạn hãy đối chiếu kế hoạch đánh giá hiện hành trên Canvas và bản mô tả của đúng khoá mình học.
Vì sao phần lớn điểm lại nằm ở bài phản tư?
Trả lời trực tiếp: Bởi các chuẩn đầu ra được viết bằng những động từ mang tính vận dụng. Chuẩn đầu ra một yêu cầu bạn vận dụng cung cầu vào chính sách môi trường đồng thời suy ngẫm về tác động, còn chuẩn đầu ra hai yêu cầu bạn suy ngẫm về bên được và bên mất. Một bài kiểm tra xem bạn có dịch chuyển được đường cầu hay không sẽ chẳng kiểm được chuẩn nào trong hai chuẩn ấy, nó chỉ kiểm một bước nằm trước đó.
Bằng chứng: Viết phản tư có cấu trúc mà người chấm đánh giá được, và đó là lý do nó xuất hiện trong các kế hoạch đánh giá. Ryan (2011) lập luận rằng viết phản tư là một thể loại gắn với từng ngành, có những đặc trưng ngôn ngữ nhận diện được, và sinh viên tiến bộ khi các đặc trưng ấy được nói rõ ra thay vì để ngầm sau mệnh lệnh "hãy suy ngẫm". Ryan và Ryan (2013) phát triển tiếp thành một mô hình dạy và đánh giá học tập phản tư xuyên suốt chương trình, và điều đó quan trọng với cách bạn đọc đề bài: có một thang từ tường thuật chuyện đã xảy ra, qua liên hệ nó với kiến thức mình có, tới lập luận về nguyên nhân và dựng lại xem lần sau mình sẽ làm khác thế nào. Một bài nhật ký dừng ở hai bậc đầu đọc lên như nhật ký cá nhân. Chính phần nội dung kinh tế mới cho phép bạn bước lên bậc thứ ba.
| Bậc trong bài nhật ký | Ở môn này thì trông ra sao |
|---|---|
| Tường thuật | Giá xăng tăng và đường sá có vẻ vắng xe hơn |
| Liên hệ | Điều này trông giống phản ứng của cầu mà lớp đã học |
| Lập luận | Cầu về nhiên liệu ít co giãn trong ngắn hạn, nên mức tăng giá đó lẽ ra làm sản lượng đổi ít hơn nhiều so với những gì tôi thấy, tức là còn thứ khác đang xảy ra |
| Dựng lại cách làm | Nếu tự đánh giá chính sách này, tôi sẽ xem hiệu ứng trên một khung thời gian dài hơn và đối chiếu với một vùng so sánh |
Ví dụ: Hai bài nhật ký cùng viết về một lần điều chỉnh thuế tiêu thụ xăng dầu. Bài thứ nhất ghi lại nỗi bực bội của người viết về chi phí và kết luận rằng thuế làm khổ các hộ gia đình. Bài thứ hai xuất phát từ đúng quan sát ấy, rồi đặt câu hỏi rằng độ co giãn hàm ý ai mới là người thực sự gánh chi phí. Chỉ bài thứ hai đang trả lời chuẩn đầu ra.
Ở môn này thì thế nào mới gọi là phản biện?
Trả lời trực tiếp: Là gọi tên được một bất đồng có thật trong bằng chứng rồi giải thích nguyên nhân của nó, thay vì báo cáo một con số như thể câu hỏi đã ngã ngũ.
Bằng chứng: Định giá carbon là ví dụ rõ ràng nhất, và nó nằm đúng trên chuẩn đầu ra một. Green (2021) rà soát các đánh giá định lượng hậu kiểm về chính sách định giá carbon trên toàn cầu và thấy phần lớn cho ra mức giảm phát thải tổng hợp nằm trong khoảng 0 đến 2 phần trăm mỗi năm, đồng thời lưu ý rằng chỉ có 37 nghiên cứu thực sự đánh giá tác động của chính sách. Sau đó Döbbeling-Hildebrandt và cộng sự (2024) tổng hợp 80 đánh giá hậu kiểm mang tính nhân quả trên 21 cơ chế định giá carbon, dựa trên 483 độ lớn hiệu ứng, và báo cáo mức giảm có ý nghĩa thống kê trải từ 5 tới 21 phần trăm tuỳ cơ chế, hoặc 4 tới 15 phần trăm sau khi hiệu chỉnh thiên lệch công bố. Nhóm này cũng thấy độ lớn hiệu ứng dao động đáng kể giữa các cơ chế.
Cả hai bản rà soát đều chính đáng. Khoảng cách giữa chúng mới là phần thú vị, và giải thích được khoảng cách ấy đúng là nước đi tách một bài nhật ký mức trung bình khỏi một bài mức xuất sắc: bản rà soát sau có trong tay số lượng đánh giá nhiều hơn gấp đôi, và nó hiệu chỉnh thiên lệch công bố, tức xu hướng các nghiên cứu tìm ra hiệu ứng lớn thì dễ được đăng hơn. Một sinh viên chỉ nêu con số đầu trông như đọc chưa đủ, còn người chỉ nêu con số sau thì trông như chưa buồn hỏi vì sao trước đó người ta lại đo ra kết quả khác. Người nêu cả hai, rồi nói khoảng cách ấy cho ta biết gì về cách đọc bằng chứng chính sách, mới là người đang làm kinh tế học.
Ví dụ: Một bài nhật ký mở đầu bằng một câu khẳng định chắc nịch rằng thuế carbon không hiệu quả thì đúng với một nguồn và sai về hiện trạng tri thức. Thêm bốn câu về bản rà soát thứ hai cùng lý do các ước lượng lệch nhau đã biến một lời khẳng định thành một lập luận.
Bên được và bên mất mà bài nhật ký thứ hai phải gọi tên là ai?
Trả lời trực tiếp: Là những nhóm cụ thể, ở những nơi cụ thể, trong một giai đoạn cụ thể, bởi chuẩn đầu ra thứ hai hỏi về thế kỷ vừa qua chứ không hỏi về thương mại nói chung. Một bài kết luận rằng thương mại tính trung bình có lợi cho tất cả mọi người là đã né mất câu hỏi mà chuẩn đầu ra đặt ra.
Bằng chứng: Autor, Dorn và Hanson (2016) xem xét cách các thị trường lao động điều chỉnh trước đà tăng nhanh của hàng chế tạo xuất khẩu từ Trung Quốc, và thấy quá trình điều chỉnh diễn ra chậm hơn cùng tập trung về mặt địa lý hơn so với giả định của các mô hình thương mại tiêu chuẩn, với tác động kéo dài ở những thị trường lao động địa phương chịu ảnh hưởng. Phát hiện này không lật đổ lập luận ủng hộ thương mại. Cái nó làm được là cho thấy hình hài của những mất mát mà các con số tổng hợp che đi, và đó đúng là điều chuẩn đầu ra yêu cầu bạn suy ngẫm. Lợi ích tổng thể và mất mát tập trung có thể cùng tồn tại, còn một bài nhật ký trung thực thì nói ra điều đó thay vì chọn lấy nửa nào hợp với kết luận mình đã muốn sẵn.
Ví dụ: Một bạn sinh viên viết về trải nghiệm của gia đình mình với một ngành đã chuyển ra nước ngoài có thứ chất liệu mà phần lớn bạn cùng lớp không có. Bản nháp đầu tiên là một câu chuyện. Bản được điểm cao dùng đúng câu chuyện ấy và đặt câu hỏi rằng lợi ích của bên nào đang được tài trợ bằng chính mất mát bạn đang mô tả, và quá trình điều chỉnh lẽ ra phải diễn ra trong bao lâu.
Bài phân tích tình huống tổng hợp khác hai bài nhật ký ở chỗ nào?
Trả lời trực tiếp: Nó được chấm trên cả bốn chuẩn đầu ra cùng lúc, nên phải đứng vững như một bài phân tích duy nhất chứ không phải bốn câu trả lời rời. Với 40 phần trăm, nó cũng là bài lớn nhất của môn.
Bằng chứng: Hai bài nhật ký mỗi bài gắn với một chuẩn đầu ra, và điều đó cho phép chúng đi sâu vào một câu hỏi hẹp. Bài tình huống gắn với cả bốn chuẩn, bổ sung phần cạnh tranh với phúc lợi người tiêu dùng cùng nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh. Chữ tổng hợp trong tên bài mới là chữ quan trọng nhất: một bài phân tích bàn tác động môi trường, rồi tới thương mại, rồi tới cạnh tranh, rồi tới chiến lược, trong bốn phần đóng kín, thì đã phủ hết chuẩn đầu ra mà chưa tổng hợp được gì. Cấu trúc mạnh hơn là chạy một mạch xuyên suốt qua tình huống, và các khung lý thuyết bước vào đúng chỗ chúng làm thay đổi cách đọc bằng chứng.
Ví dụ: Hai bài phân tích cùng một doanh nghiệp phủ y hệt nhau về nội dung. Bài thứ nhất tổ chức theo từng khung lý thuyết nên đọc lên như một danh mục kiểm tra. Bài thứ hai tổ chức quanh lựa chọn trung tâm mà doanh nghiệp phải đưa ra, và mỗi khung lý thuyết xuất hiện đúng chỗ nó giải thích được vì sao lựa chọn ấy khó.
Du học sinh hay mất điểm ở đâu nhất?
Trả lời trực tiếp: Ở chỗ coi bài nhật ký phản tư là bài viết cá nhân nên là bài duy nhất không cần nguồn, và ở chỗ dùng ngôi thứ nhất như thể nó cho phép mình khẳng định mà không cần chứng cứ.
Bằng chứng: Viết phản tư trong một ngành vẫn mang theo chuẩn mực về bằng chứng của ngành đó. Viết rằng bạn nhận thấy một điều gì đó là điểm khởi đầu chính đáng, còn viết rằng điều đó chứng minh một chính sách đã thất bại thì không, trừ khi có thứ gì khác ngoài quan sát ấy chống đỡ cho nó. Đây là vấn đề về thể loại nhiều hơn là vấn đề về ngôn ngữ, và nó phổ biến ở những sinh viên mà nền giáo dục trước đó chấm môn kinh tế bằng tính toán và bài thi, nơi các thể loại phản tư gần như không xuất hiện. Cách chữa không hào nhoáng gì: giữ ngôi thứ nhất cho phần quan sát và phần phán đoán, còn phần khẳng định về thế giới nằm giữa hai cái đó thì trích nguồn.
Một điểm nhỏ hơn nữa là cách gọi tên thang điểm. Bảng quy đổi điểm của AUT cho môn này xếp A+ tới A- là đạt loại xuất sắc, B+ tới B- là đạt loại khá, C+ tới C- là đạt, và D là trượt, nên khi một thang tiêu chí nhắc tới loại xuất sắc thì đó là đang gọi tên đúng dải điểm ấy chứ không nói ước chừng.
Ví dụ: Một bài nhật ký không dùng nguồn nào với lý do rằng nó mô tả trải nghiệm cá nhân. Thêm hai trích dẫn vào đúng những chỗ bài khẳng định về nền kinh tế nói chung đã giữ nguyên phần trải nghiệm và kéo điểm lên.
Cố vấn MAAS thật sự làm gì ở một môn như thế này?
Cái khó nằm chủ yếu ở thể loại, nên công việc bắt đầu từ đó. Ở giai đoạn sớm, cố vấn sẽ đọc lại cho bạn nghe một đoạn trong bản nháp nhật ký rồi hỏi đoạn đó đang ở bậc nào, bởi phần lớn sinh viên không tự nhìn ra ranh giới giữa liên hệ và lập luận trong chính bài mình cho tới khi có người chỉ vào. Về sau, các câu hỏi chuyển sang bằng chứng: câu này đang khẳng định một điều về nền kinh tế, vậy thứ gì đang chống đỡ cho nó. Với bài tình huống, cuộc trao đổi mang tính cấu trúc, bởi tính tổng hợp rất khó đạt được bằng cách chỉnh sửa và dễ đạt hơn nhiều khi lên kế hoạch từ đầu. Phần quan sát, phần đọc và phần viết đều là của bạn. Cố vấn là người nói cho bạn biết lúc nào một đoạn văn chỉ là nhật ký cá nhân khoác lên mình từ vựng kinh tế học.
Nếu bạn có bản nháp nhật ký mà chưa chắc nó đang phản tư hay chỉ đang kể lại, gửi bên mình một đoạn thôi và bên mình sẽ chỉ cho bạn thấy khác biệt.
Câu hỏi thường gặp
Mình có cần học kinh tế trước khi vào BUSS508 không?
Bản mô tả môn ghi không có môn tiên quyết. Nó có ghi hạn chế đăng ký song song với BUSS504 và ECON501, nghĩa là bạn không tính được môn này cùng lúc với hai môn kia, nên hãy kiểm tra kế hoạch chương trình của mình trước khi đăng ký.
Bài nhật ký phản tư nên dài bao nhiêu?
Bản mô tả môn không công bố số từ, và yêu cầu này được đặt trên Canvas cho từng khoá. Bạn nên hỏi sớm thay vì đoán, vì kỳ vọng về độ dài của một bài nhật ký khác hẳn một bài tiểu luận.
Mình có được viết ở ngôi thứ nhất không?
Được, và ở một bài nhật ký phản tư thì thường là nên. Ngôi thứ nhất chi phối phần quan sát và phán đoán của bạn, nó không xoá bỏ yêu cầu phải chống đỡ cho các khẳng định về thế giới bên ngoài.
Nếu trải nghiệm cá nhân của mình chẳng liên quan gì tới chủ đề thì sao?
Phản tư không đòi bạn phải có một câu chuyện cá nhân kịch tính. Một điều bạn quan sát được, đọc được hay từng làm qua là đủ, và phần được chấm là mạch lập luận bạn dựng trên đó chứ không phải mức độ sinh động của trải nghiệm.
Bài tình huống có phải bài nhóm không?
Kế hoạch đánh giá công bố ghi cả ba bài đều là bài cá nhân. Bạn hãy đối chiếu với trang Canvas của khoá mình, vì kế hoạch đánh giá có được sửa đổi giữa các kỳ giảng dạy.
Bài liên quan
- Cách viết bài luận phản tư
- ECON1269: hướng dẫn bài tập kinh doanh trong nền kinh tế toàn cầu hoá
- ECON1001: hướng dẫn bài tập kinh tế học vi mô nhập môn
References
Autor, D. H., Dorn, D., & Hanson, G. H. (2016). The China shock: Learning from labor-market adjustment to large changes in trade. Annual Review of Economics, 8(1), 205–240. https://doi.org/10.1146/annurev-economics-080315-015041
Döbbeling-Hildebrandt, N., Miersch, K., Khanna, T. M., Bachelet, M., Bruns, S. B., Callaghan, M., Edenhofer, O., Flachsland, C., Forster, P. M., Kalkuhl, M., Koch, N., Lamb, W. F., Ohlendorf, N., Steckel, J. C., & Minx, J. C. (2024). Systematic review and meta-analysis of ex-post evaluations on the effectiveness of carbon pricing. Nature Communications, 15, 4147. https://doi.org/10.1038/s41467-024-48512-w
Green, J. F. (2021). Does carbon pricing reduce emissions? A review of ex-post analyses. Environmental Research Letters, 16(4), 043004. https://doi.org/10.1088/1748-9326/abdae9
Ryan, M. (2011). Improving reflective writing in higher education: A social semiotic perspective. Teaching in Higher Education, 16(1), 99–111. https://doi.org/10.1080/13562517.2010.507311
Ryan, M., & Ryan, M. (2013). Theorising a model for teaching and assessing reflective learning in higher education. Higher Education Research & Development, 32(2), 244–257. https://doi.org/10.1080/07294360.2012.661704
