Skip to content

← Blog

◆ Kinh doanh và quản trị

BUSS508: vì sao 60% điểm môn kinh tế lại chấm bài phản tư?

+7 câu hỏi+1 hình+18 phút đọc

Trả lời thẳng: BUSS508 đặt 60% điểm vào hai bài reflective journal (nhật ký phản tư) vì hai chuẩn đầu ra đầu tiên của môn được viết bằng những động từ như vận dụng và suy ngẫm, và một bài tính toán không kiểm được hai việc đó. Phản tư là một thể loại viết khác hẳn, nên nó vẫn làm khó cả những sinh viên giỏi chưa từng được dạy thể loại này.

Sinh viên thường vào môn này với hình dung về đồ thị cung cầu, nên dễ coi phản tư là phần nhẹ. Bài viết này giúp bạn đọc đúng kế hoạch đánh giá của BUSS508, viết hai bài journal lên được tới bậc lập luận thay vì dừng ở kể lại, và dựng bài case study (phân tích tình huống) thành một bài phân tích liền mạch. Các nguồn học thuật dùng trong bài nằm ở mục References cuối bài để bạn tự đối chiếu.

Ghi chú về mã môn: bài này viết về môn của Auckland University of Technology (AUT), trường được công nhận là đại học từ năm 2000 và giảng dạy BUSS508 qua Khoa Kinh doanh, Kinh tế và Luật. Một số trường Bắc Mỹ có môn BUS 508 về kinh doanh đương đại, hoàn toàn không liên quan, nên bạn hãy đối chiếu tên môn trong hồ sơ đăng ký của mình trước.

Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật lần cuối: 14/08/2026
Chuyên mục: business-management


Câu hỏi1

◆ Câu hỏi 1 / 7 · Cấu trúc môn

Môn BUSS508 được cấu trúc thế nào?

Trả lời thẳng: BUSS508 Economics and International Business là môn 15 điểm tín chỉ ở bậc 5 trên khung trình độ quốc gia New Zealand (NZQF) do NZQA quản lý, thuộc Khoa Kinh doanh, Kinh tế và Luật của AUT, với khối lượng học tập 150 giờ. Bản mô tả môn ghi ba bài đánh giá cá nhân: Reflective Journal 1 chiếm 30%, Reflective Journal 2 chiếm 30%, và một bài case study tổng hợp chiếm 40%.

Bản mô tả môn học gắn từng bài đánh giá với những chuẩn đầu ra cụ thể, và bảng gắn kết này là thông tin hữu ích nhất để bạn lập kế hoạch học. Journal 1, chiếm 30% điểm môn, kiểm chuẩn đầu ra thứ nhất, tức vận dụng quy luật cung cầu vào chính sách môi trường và suy ngẫm về tác động của hoạt động kinh tế lên môi trường. Journal 2, cũng chiếm 30%, kiểm chuẩn đầu ra thứ hai, tức suy ngẫm về bên được và bên mất khi hàng hoá, dịch vụ, vốn và lao động dịch chuyển qua biên giới trong thế kỷ vừa qua. Bài case study kiểm cả bốn chuẩn đầu ra cùng lúc, bổ sung vai trò của cạnh tranh đối với phúc lợi người tiêu dùng, và việc đánh giá chiến lược, đổi mới cùng nỗ lực của người lao động trong quá trình tạo ra lợi thế cạnh tranh. Môn này bị hạn chế đăng ký song song với BUSS504 và ECON501, nghĩa là bạn không tính được nó cùng với hai môn kia trong chương trình học.

Một sinh viên từng học kinh tế 2 năm ở bậc phổ thông thấy phần nội dung khá dễ, còn bài journal đầu tiên thì khó. Chỗ khó của bạn ấy chưa bao giờ nằm ở đường cầu. Chỗ khó nằm ở chỗ chưa có môn học nào trước đó yêu cầu bạn ấy viết về điều mà một đường cầu hàm ý cho một quyết định bạn ấy đã tận mắt thấy người ta đưa ra.

Bản mô tả môn có thể được sửa đổi giữa các kỳ giảng dạy, nên bạn hãy đối chiếu kế hoạch đánh giá hiện hành trên Canvas và bản mô tả của đúng khoá mình học.


Câu hỏi2

◆ Câu hỏi 2 / 7 · Phản tư

Vì sao phần lớn điểm lại nằm ở bài phản tư?

Trả lời thẳng: Vì các chuẩn đầu ra được viết bằng động từ vận dụng, và mức 60% cho 2 bài journal phản ánh thiết kế đó. Chuẩn thứ nhất yêu cầu bạn vận dụng cung cầu vào chính sách môi trường đồng thời suy ngẫm về tác động, chuẩn thứ hai yêu cầu bạn suy ngẫm về bên được và bên mất. Một bài kiểm tra dịch chuyển đường cầu chỉ kiểm được bước nằm trước hai yêu cầu ấy.

Bốn bậc của một bài journal phản tư trong BUSS508

Mỗi hàng đặt một bậc của bài journal cạnh điều bậc đó trông ra sao ở môn này, với ví dụ lấy từ bảng trong bài này.

Bậc trong bài journal

Ở môn này thì trông ra sao

Tường thuật

Giá xăng tăng và đường sá có vẻ vắng xe hơn

Liên hệ

Hiện tượng này trông giống phản ứng của cầu mà lớp đã học

Lập luận

Cầu về nhiên liệu ít co giãn trong ngắn hạn, nên mức tăng giá đó lẽ ra làm lượng tiêu thụ đổi ít hơn nhiều so với những gì tôi thấy, tức là còn một yếu tố khác đang tác động

Dựng lại cách làm

Nếu tự đánh giá chính sách này, tôi sẽ xem hiệu ứng trên một khung thời gian dài hơn và đối chiếu với một vùng làm đối chứng

Bảng trong bài viết này.
Lưu hình nàyBốn bậc của bài journal phản tư BUSS508 và ở môn này mỗi bậc trông ra sao: tường thuật, liên hệ, lập luận, dựng lại cách làm

Viết phản tư có một cấu trúc mà người chấm (marker) đánh giá được, và đó là lý do nó có mặt trong kế hoạch đánh giá. Ryan (2011), trên tạp chí Teaching in Higher Education, lập luận rằng viết phản tư là một thể loại gắn với từng ngành, có những đặc trưng ngôn ngữ nhận diện được, và sinh viên tiến bộ khi các đặc trưng ấy được nói rõ ra thay vì để ngầm sau một mệnh lệnh chung chung là "hãy phản tư". Ryan và Ryan (2013), trên tạp chí Higher Education Research & Development, phát triển tiếp thành một mô hình dạy và đánh giá học tập phản tư xuyên suốt chương trình. Mô hình này quan trọng với cách bạn đọc đề bài, vì nó đặt ra một thang đi từ tường thuật chuyện đã xảy ra, qua liên hệ chuyện đó với kiến thức mình có, tới lập luận về nguyên nhân, rồi dựng lại xem lần sau mình sẽ làm khác thế nào. Một bài journal dừng ở hai bậc đầu sẽ đọc lên như nhật ký cá nhân, và chính phần nội dung kinh tế mới đưa bạn lên được bậc thứ ba.

Bậc trong bài journal Ở môn này thì trông ra sao
Tường thuật Giá xăng tăng và đường sá có vẻ vắng xe hơn
Liên hệ Hiện tượng này trông giống phản ứng của cầu mà lớp đã học
Lập luận Cầu về nhiên liệu ít co giãn trong ngắn hạn, nên mức tăng giá đó lẽ ra làm lượng tiêu thụ đổi ít hơn nhiều so với những gì tôi thấy, tức là còn một yếu tố khác đang tác động
Dựng lại cách làm Nếu tự đánh giá chính sách này, tôi sẽ xem hiệu ứng trên một khung thời gian dài hơn và đối chiếu với một vùng làm đối chứng

Hai bài journal nộp cách nhau 1 tuần cùng viết về một lần điều chỉnh thuế tiêu thụ đặc biệt với nhiên liệu. Bài thứ nhất ghi lại nỗi bực bội của người viết về chi phí và kết luận rằng thuế làm khổ các hộ gia đình. Bài thứ hai xuất phát từ đúng quan sát ấy, rồi hỏi tiếp rằng độ co giãn của cầu hàm ý ai mới là người thực sự gánh khoản chi phí đó. Chỉ bài thứ hai đang trả lời chuẩn đầu ra.


Câu hỏi3

◆ Câu hỏi 3 / 7 · Phản biện

Ở BUSS508, thế nào mới gọi là phản biện?

Trả lời thẳng: Ở BUSS508, phản biện (critical) là gọi tên được một bất đồng có thật trong bằng chứng rồi giải thích điều gì gây ra bất đồng đó, thay vì báo cáo một con số như thể câu hỏi đã ngã ngũ. Với chủ đề định giá carbon, bạn nên đặt các bản rà soát cho ra kết quả khác nhau cạnh nhau, rồi chỉ ra khác biệt về dữ liệu và phương pháp đứng sau khoảng cách giữa chúng.

Định giá carbon là ví dụ rõ nhất, và chủ đề này nằm đúng trên chuẩn đầu ra thứ nhất. Green (2021), trên tạp chí Environmental Research Letters, rà soát các đánh giá định lượng hậu kiểm (ex-post, tức đo sau khi chính sách đã chạy) về chính sách định giá carbon trên toàn thế giới và thấy phần lớn cho ra mức giảm phát thải tổng hợp trong khoảng 0% đến 2% mỗi năm, đồng thời lưu ý chỉ có 37 nghiên cứu thực sự đánh giá tác động của chính sách. Phần tóm tắt của chính bài báo nói thẳng phát hiện đó: "the majority of studies suggest that the aggregate reductions from carbon pricing on emissions are limited" (Green, 2021). Sau đó Döbbeling-Hildebrandt và cộng sự (2024), trên tạp chí Nature Communications, tổng hợp 80 đánh giá hậu kiểm mang tính nhân quả trên 21 cơ chế định giá carbon, dựa trên 483 độ lớn hiệu ứng, và báo cáo mức giảm có ý nghĩa thống kê trải từ 5% tới 21% tuỳ cơ chế, hoặc từ 4% tới 15% sau khi hiệu chỉnh thiên lệch công bố. Nhóm tác giả này cũng thấy độ lớn hiệu ứng dao động đáng kể giữa các cơ chế.

Cả hai bản rà soát đều chính đáng, và khoảng cách giữa chúng mới là phần đáng viết. Giải thích được khoảng cách ấy là đúng bước tách một bài journal mức khá khỏi một bài mức xuất sắc. Bản rà soát sau có trong tay số đánh giá nhiều hơn gấp đôi, và nó hiệu chỉnh thiên lệch công bố, tức xu hướng các nghiên cứu tìm ra hiệu ứng lớn thì dễ được đăng hơn. Sinh viên chỉ nêu con số đầu trông như đọc chưa đủ. Người chỉ nêu con số sau trông như chưa buồn hỏi vì sao trước đó người ta đo ra kết quả khác. Người nêu cả hai, rồi nói khoảng cách ấy dạy ta điều gì về cách đọc bằng chứng chính sách, mới là người đang làm kinh tế học.

Một bài journal từng mở đầu bằng câu khẳng định chắc nịch rằng thuế carbon không hiệu quả, một câu đúng với một nguồn nhưng sai về hiện trạng tri thức. Sinh viên đó thêm 4 câu, khoảng 90 từ, về bản rà soát thứ hai và lý do các ước lượng lệch nhau, và chỉ chừng đó đã biến một lời khẳng định thành một lập luận.


Câu hỏi4

◆ Câu hỏi 4 / 7 · Bên được và mất

Bài journal thứ hai phải gọi tên bên được và bên mất nào?

Trả lời thẳng: Bài journal thứ hai phải gọi tên những nhóm cụ thể, ở những nơi cụ thể, trong một giai đoạn cụ thể, vì chuẩn đầu ra thứ hai của BUSS508 hỏi về 100 năm qua chứ không hỏi về thương mại nói chung. Một bài kết luận rằng tính trung bình thì thương mại có lợi cho mọi người là đã né mất câu hỏi mà chuẩn đầu ra đặt ra.

Autor, Dorn và Hanson (2016), trên tạp chí Annual Review of Economics, xem xét cách các thị trường lao động điều chỉnh trước đà tăng nhanh của hàng chế tạo xuất khẩu từ Trung Quốc trong hơn một thập kỷ. Nhóm tác giả thấy quá trình điều chỉnh diễn ra chậm hơn và tập trung về địa lý hơn so với giả định của các mô hình thương mại tiêu chuẩn, với tác động kéo dài ở những thị trường lao động địa phương chịu ảnh hưởng. Phát hiện này không lật đổ lập luận ủng hộ thương mại. Giá trị của nó là cho thấy hình dạng của những mất mát mà các con số tổng hợp che đi, và đó đúng là điều chuẩn đầu ra yêu cầu bạn suy ngẫm. Lợi ích tổng thể và mất mát tập trung có thể cùng tồn tại, nên một bài journal trung thực nói ra điều đó thay vì chọn lấy nửa nào hợp với kết luận mình đã muốn sẵn.

Một sinh viên từng viết về trải nghiệm của gia đình mình với một ngành đã chuyển ra nước ngoài trong khoảng 3 năm, và bạn ấy có thứ chất liệu mà phần lớn bạn cùng lớp không có. Bản nháp đầu tiên chỉ là một câu chuyện. Bản được điểm cao dùng đúng câu chuyện ấy, rồi hỏi lợi ích của ai đang được trả bằng chính mất mát bạn ấy đang kể, và quá trình điều chỉnh lẽ ra phải diễn ra trong bao lâu.


Câu hỏi5

◆ Câu hỏi 5 / 7 · Case study

Bài case study tổng hợp khác hai bài journal ở chỗ nào?

Trả lời thẳng: Bài case study tổng hợp của BUSS508 được chấm trên cả bốn chuẩn đầu ra cùng lúc, nên nó phải đứng vững như một bài phân tích duy nhất chứ không phải bốn câu trả lời rời nhau. Với mức 40%, đây cũng là bài có trọng số lớn nhất trong môn, vì vậy bạn nên lên kế hoạch cấu trúc cho nó từ sớm thay vì để tới tuần cuối mới ghép các phần.

Mỗi bài journal gắn với một chuẩn đầu ra, và điều đó cho phép chúng đi sâu vào một câu hỏi hẹp. Bài case study gắn với cả bốn chuẩn, bổ sung phần cạnh tranh với phúc lợi người tiêu dùng và nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh. Chữ "integrated" (tổng hợp) trong tên bài mới là chữ quan trọng nhất. Một bài phân tích bàn tác động môi trường, rồi tới thương mại, rồi tới cạnh tranh, rồi tới chiến lược, trong bốn phần đóng kín, thì đã phủ đủ chuẩn đầu ra mà chưa tổng hợp được gì. Cấu trúc mạnh hơn là chạy một mạch xuyên suốt tình huống, và mỗi khung lý thuyết bước vào đúng chỗ nó làm thay đổi cách đọc bằng chứng.

Hai bài phân tích cùng một doanh nghiệp, cùng dài khoảng 2.500 từ, phủ y hệt nhau về nội dung. Bài thứ nhất tổ chức theo từng khung lý thuyết nên đọc lên như một danh mục kiểm tra. Bài thứ hai tổ chức quanh lựa chọn trung tâm mà doanh nghiệp phải đưa ra, và mỗi khung lý thuyết xuất hiện đúng chỗ nó giải thích được vì sao lựa chọn ấy khó.


Câu hỏi6

◆ Câu hỏi 6 / 7 · Mất điểm

Du học sinh hay mất điểm ở đâu nhất trong BUSS508?

Trả lời thẳng: Du học sinh hay mất điểm ở hai chỗ. Chỗ thứ nhất là coi bài journal phản tư là bài viết cá nhân, rồi từ đó coi nó là bài duy nhất không cần trích nguồn. Chỗ thứ hai là dùng ngôi thứ nhất như thể nó cho phép mình khẳng định mà không cần chứng cứ, trong khi người chấm vẫn đòi bằng chứng cho mọi khẳng định vượt ra ngoài trải nghiệm của bạn.

Viết phản tư trong một ngành vẫn mang theo chuẩn mực về bằng chứng của ngành đó. Viết rằng bạn nhận thấy một điều là điểm khởi đầu chính đáng, còn viết rằng điều bạn nhận thấy chứng minh một chính sách đã thất bại thì không, trừ khi có thứ gì khác ngoài quan sát ấy chống đỡ cho nó. Ryan (2011) xem đây là vấn đề về thể loại nhiều hơn là vấn đề về ngôn ngữ, và nó thường gặp ở những sinh viên mà nền giáo dục trước đó đánh giá môn kinh tế bằng bài tính toán và bài thi, nơi các thể loại phản tư gần như không xuất hiện. Cách chữa không có gì hào nhoáng: giữ ngôi thứ nhất cho phần quan sát và phần phán đoán, còn phần khẳng định về thế giới nằm giữa hai phần đó thì trích nguồn.

Một điểm nhỏ hơn là cách gọi tên các dải điểm. Bảng quy đổi điểm của AUT cho môn này xếp A+ tới A- là đạt loại xuất sắc (pass with distinction), B+ tới B- là đạt loại khá (pass with merit), C+ tới C- là đạt, và D là trượt. Vì vậy khi rubric (bảng tiêu chí chấm) nhắc tới distinction, nó đang gọi tên đúng dải điểm ấy chứ không nói ước chừng.

Một bài journal từng không dùng nguồn nào, với lý do rằng nó chỉ mô tả trải nghiệm cá nhân. Sinh viên đó thêm 2 trích dẫn, khoảng 30 từ, vào đúng những chỗ bài khẳng định về nền kinh tế nói chung, và phần trải nghiệm vẫn giữ nguyên trong khi điểm được kéo lên.


Câu hỏi7

◆ Câu hỏi 7 / 7 · Cố vấn MAAS

Cố vấn MAAS thật sự làm gì ở một môn như thế này?

Trả lời thẳng: Ở BUSS508, cố vấn MAAS làm việc ở thể loại viết trước rồi mới tới nội dung. Cố vấn chỉ cho bạn thấy một đoạn journal đang nằm ở bậc tường thuật, liên hệ hay lập luận, hỏi về thứ đang chống đỡ cho từng khẳng định, và cùng bạn lên cấu trúc cho bài case study. Phần quan sát, phần đọc và phần viết đều do bạn làm.

Ở giai đoạn đầu, cố vấn sẽ đọc lại cho bạn nghe một đoạn khoảng 100 từ trong bản nháp journal rồi hỏi đoạn đó đang ở bậc nào, vì phần lớn sinh viên không tự nhìn ra ranh giới giữa liên hệ và lập luận trong chính bài của mình cho tới khi có người chỉ vào. Về sau, các câu hỏi chuyển sang bằng chứng, chẳng hạn câu này đang khẳng định một điều về nền kinh tế thì thứ gì đang chống đỡ cho nó. Với bài case study, cuộc trao đổi xoay quanh cấu trúc, vì tính tổng hợp rất khó đạt được bằng cách sửa câu chữ ở cuối và dễ đạt hơn nhiều khi lên kế hoạch từ đầu. Cố vấn là người cho bạn biết lúc nào một đoạn văn chỉ là nhật ký cá nhân khoác lên mình từ vựng kinh tế học.

Nếu bạn có bản nháp journal mà chưa chắc nó đang phản tư hay chỉ đang kể lại, gửi MAAS một đoạn và cố vấn sẽ chỉ cho bạn thấy khác biệt.


Câu hỏi thường gặp

Mình có cần học kinh tế trước khi vào BUSS508 không?

Bản mô tả môn không ghi môn tiên quyết nào. Nhưng bản đó có ghi hạn chế đăng ký song song với BUSS504 và ECON501, nghĩa là bạn không tính được môn này cùng với hai môn kia, nên hãy kiểm tra kế hoạch chương trình học của mình trước khi đăng ký.

Bài reflective journal nên dài bao nhiêu?

Bản mô tả môn không công bố số từ, và yêu cầu này được đặt trên Canvas cho từng khoá. Bạn nên hỏi sớm thay vì đoán, vì kỳ vọng về độ dài của một bài journal khác hẳn một bài essay.

Mình có được viết ở ngôi thứ nhất không?

Được, và trong một bài journal phản tư thì thường là nên. Ngôi thứ nhất dành cho phần quan sát và phán đoán của bạn, nhưng nó không xoá đi yêu cầu phải có chứng cứ cho các khẳng định về thế giới bên ngoài.

Nếu trải nghiệm cá nhân của mình chẳng liên quan gì tới chủ đề thì sao?

Phản tư không đòi một câu chuyện cá nhân kịch tính. Một điều bạn quan sát được, đọc được hay từng làm qua là đủ, và phần được chấm là mạch lập luận bạn dựng trên đó chứ không phải mức độ sinh động của trải nghiệm.

Bài case study có phải bài nhóm không?

Kế hoạch đánh giá đã công bố ghi cả ba bài đều là bài cá nhân. Bạn hãy đối chiếu với trang Canvas của khoá mình, vì kế hoạch đánh giá có thể được sửa đổi giữa các kỳ giảng dạy.


Bài liên quan

References

Autor, D. H., Dorn, D., & Hanson, G. H. (2016). The China shock: Learning from labor-market adjustment to large changes in trade. Annual Review of Economics, 8(1), 205–240. https://doi.org/10.1146/annurev-economics-080315-015041

Döbbeling-Hildebrandt, N., Miersch, K., Khanna, T. M., Bachelet, M., Bruns, S. B., Callaghan, M., Edenhofer, O., Flachsland, C., Forster, P. M., Kalkuhl, M., Koch, N., Lamb, W. F., Ohlendorf, N., Steckel, J. C., & Minx, J. C. (2024). Systematic review and meta-analysis of ex-post evaluations on the effectiveness of carbon pricing. Nature Communications, 15, 4147. https://doi.org/10.1038/s41467-024-48512-w

Green, J. F. (2021). Does carbon pricing reduce emissions? A review of ex-post analyses. Environmental Research Letters, 16(4), 043004. https://doi.org/10.1088/1748-9326/abdae9

Ryan, M. (2011). Improving reflective writing in higher education: A social semiotic perspective. Teaching in Higher Education, 16(1), 99–111. https://doi.org/10.1080/13562517.2010.507311

Ryan, M., & Ryan, M. (2013). Theorising a model for teaching and assessing reflective learning in higher education. Higher Education Research & Development, 32(2), 244–257. https://doi.org/10.1080/07294360.2012.661704

Tools & resources

Buổi tư vấn miễn phí 20 phút là một cuộc trao đổi về việc bạn đang ở đâu với BUSS508.

Đặt lịch tư vấn miễn phí ▸
Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Mục lục