Lưu ý về mã môn: bài này viết về môn của University of Sydney. Đến một lúc nào đó trong môn lãnh đạo năm hai, gần như bạn nào cũng với tay tới một bộ công cụ đo.
Lưu ý về mã môn: bài này viết về môn của University of Sydney.
Đến một lúc nào đó trong môn lãnh đạo năm hai, gần như bạn nào cũng với tay tới một bộ công cụ đo. Một kiểu tính cách, một hồ sơ điểm mạnh, một bảng hỏi về phong cách lãnh đạo, thường là thứ bạn gặp từ hồi phổ thông hoặc trong một buổi workshop. Nó cho một cái nhãn gọn gàng kèm một đoạn mô tả, và cảm giác đúng là thứ tự hiểu bản thân mà đề bài đang đòi. Cái khó là môn này còn yêu cầu bạn đánh giá bằng chứng một cách phản biện, mà nhiều bộ công cụ phổ biến nhất lại không trụ được khi chính tiêu chuẩn đó soi vào chúng.
Tác giả: Ban biên tập MAAS · Cố vấn chuyên môn MAAS thẩm định
Cập nhật: 26/08/2026
Chuyên mục: business-management
Môn nằm ở đâu, và điều kiện đầu vào nói lên điều gì
Trả lời trực tiếp: BUSS2000 Leading and Influencing in Business là môn 6 credit points thuộc University of Sydney Business School, do bộ môn Work and Organisational Studies phụ trách, mở ở học kỳ 1 và học kỳ 2, với điều kiện tiên quyết là đã hoàn thành ít nhất 48 credit points trong đó có BUSS1000 hoặc BUSS1001.
Bằng chứng: Trang môn học chính thức giới thiệu môn bao trùm kiến thức và kỹ năng cần thiết "to successfully lead and influence people in an increasingly global and diverse workplace", với nội dung trải từ phản tư về giá trị cá nhân, giao tiếp, làm việc nhóm, trách nhiệm đạo đức, lãnh đạo bao trùm cho tới nhận thức văn hoá. Trang không ghi môn cấm song song nào và không ghi kiến thức giả định nào.
Gom lại, hồ sơ công bố của môn đọc như sau: mã BUSS2000, 6 credit points, University of Sydney Business School, bộ môn Work and Organisational Studies, mở học kỳ 1 và học kỳ 2, tiên quyết 48 credit points gồm BUSS1000 hoặc BUSS1001, không cấm song song, 6 chuẩn đầu ra công bố.
Điều kiện tiên quyết đáng đọc kỹ, vì nó chặn theo KHỐI LƯỢNG chứ không chặn theo nội dung. Con số 48 credit points là trọn một năm học, nên môn giả định bạn từng làm việc ở mức đại học rồi, chứ không giả định bạn từng học về lãnh đạo. Sự kết hợp đó tạo ra một lớp học rất đặc thù, gồm những bạn đã tự tin phân tích tổ chức và phần lớn chưa được rèn để phân tích chính mình ở cùng chuẩn mực ấy.
Vì sao đánh giá phản biện lại đứng cạnh phản tư bản thân?
Trả lời trực tiếp: Vì hai việc đó được thiết kế để thao tác trên cùng một chất liệu. Một chuẩn đầu ra ghép việc nhận diện thực hành thành công với việc đánh giá bằng chứng một cách phản biện và việc tự phản tư, nghĩa là một khẳng định bạn đưa ra về chính mình cũng phải đạt một chuẩn bằng chứng, không phải chỉ cần nghe cho thành thật.
Sinh viên tách đôi hai việc này theo bản năng. Phần phân tích được dồn vào các mục nói về tổ chức và lý thuyết, còn phần phản tư biến thành một giọng ấm hơn, lỏng hơn, nơi các khẳng định xuất hiện mà không có gì làm căn cứ. Một câu kiểu tôi nhận ra mình vốn là người biết hợp tác sẽ không bao giờ trụ nổi trong một đoạn viết về doanh nghiệp, nơi nó cần bằng chứng, cần giới hạn lại và cần nguồn. Vẫn là một câu như vậy thôi.
| Khẳng định về một doanh nghiệp | Khẳng định tương đương về chính bạn |
|---|---|
| Công ty có văn hoá an toàn lao động tốt | Tôi là người giao tiếp tốt |
| Cần số liệu sự cố, cần so sánh, cần mốc thời gian | Cần một tình huống cụ thể, cần việc bạn thật sự đã làm, và cần căn cứ để biết nó hiệu quả |
| Một giai thoại đơn lẻ sẽ chỉ được coi là minh hoạ | Một giai thoại đơn lẻ ở đây cũng là minh hoạ, không phải bằng chứng |
Bằng chứng: Boud, Keogh và Walker (1985), trong cuốn Reflection do Kogan Page xuất bản, mô tả phản tư như một quá trình có chủ đích gồm quay lại với trải nghiệm, chú ý tới những cảm xúc mà nó tạo ra, rồi đánh giá lại trải nghiệm ấy, chứ không phải là việc kể lại. Bước đánh giá lại chính là bước sinh viên hay bỏ qua, và đó lại là chỗ có điểm. Phần mô tả chuyện đã xảy ra là ĐẦU VÀO của phản tư, không phải đầu ra.
Bộ công cụ bạn định trích dẫn có vấn đề gì?
Trả lời trực tiếp: Một số bộ công cụ phổ biến có bằng chứng khá yếu cho những điều người ta khẳng định về chúng, nên trích dẫn một bộ như vậy mà không phản biện đúng là lỗi mà chuẩn đầu ra về đánh giá phản biện sinh ra để phát hiện. Nước đi an toàn hơn là vừa trích dẫn vừa thẩm định nó.
Bằng chứng: Pittenger (2005), đăng trên Consulting Psychology Journal tập 57 số 3, rà soát bộ công cụ Myers-Briggs Type Indicator và nêu những quan ngại kéo dài về đặc tính đo lường của nó, trong đó có độ ổn định của việc phân loại kiểu khi cùng một người làm lại bài, cùng sự yếu ớt của bằng chứng cho các khẳng định thực tiễn thường được gắn kèm. Pashler, McDaniel, Rohrer và Bjork (2008), đăng trên Psychological Science in the Public Interest tập 9, xem xét ý tưởng về phong cách học tập và thấy rằng những nghiên cứu đủ sức kiểm định nó một cách nghiêm túc phần lớn không ủng hộ ý tưởng đó, dù nó rất phổ biến trong giáo dục và đào tạo.
Đây không phải lời khuyên tránh xa các bộ công cụ. Đây là lời khuyên hãy dùng chúng theo đúng cách môn học đòi hỏi. Một bạn viết rằng bảng hỏi xếp mình vào một kiểu nào đó, ghi nhận rằng bộ công cụ này từng bị phê phán về độ ổn định, rồi coi kết quả ấy như một giả thuyết đem đối chiếu với hành vi mình đã ghi lại được, là bạn đã thể hiện đúng chuẩn đầu ra. Một bạn nêu cái nhãn rồi dựng ba đoạn văn lên trên nó thì thể hiện điều ngược lại.
Ví dụ: Một bạn mở bài bằng cách gọi tên một kiểu tính cách rồi mô tả hành vi nhóm của mình theo đúng ngôn ngữ của kiểu đó suốt cả bài. Bản mạnh hơn dùng chính kết quả ấy làm câu hỏi khởi đầu, sau đó thuật lại rằng trong 2 trên 3 dự án nhóm của học kỳ đó mình lại đảm nhận đúng vai điều phối mà kiểu tính cách kia bảo là mình né tránh, rồi đặt câu hỏi rằng sự vênh này có ý nghĩa gì. Bản thứ hai ngắn hơn, nhiều bất định hơn, và đáng điểm hơn.
Vậy có bằng chứng nào đứng sau phần nào không?
Trả lời trực tiếp: Có, và biết được chỗ nào bằng chứng vững hơn tự nó đã là một cách thể hiện năng lực đánh giá phản biện. Tính cách có liên hệ với việc một người nổi lên thành lãnh đạo và với hiệu quả lãnh đạo, và phiên bản chính xác của phát hiện đó hữu ích cho bài viết hơn hẳn thái độ tung hô hay thái độ bác bỏ sạch trơn.
Bằng chứng: Judge, Bono, Ilies và Gerhardt (2002), đăng trên Journal of Applied Psychology tập 87 số 4, thực hiện một phân tích tổng hợp về tính cách và lãnh đạo dựng quanh mô hình năm nhân tố, và báo cáo hệ số tương quan bội .48 giữa cả năm đặc điểm gộp lại với năng lực lãnh đạo, mức mà nhóm tác giả mô tả là bằng chứng mạnh cho hướng tiếp cận đặc điểm, trong khi tương quan của từng đặc điểm riêng lẻ thì nhỏ hơn nhiều. Hãy để ý điều bài báo KHÔNG làm, đó là nó không so sánh mô hình năm nhân tố với các bộ công cụ phân kiểu phổ biến trong các buổi workshop, nên không thể trích nó làm bằng chứng chống lại các bộ công cụ ấy.
Viết cho đúng chỗ này chỉ tốn một câu cẩn thận có kèm số. Nói rằng một phân tích tổng hợp báo cáo hệ số tương quan bội .48 cho năm đặc điểm gộp lại, trong khi từng đặc điểm riêng lẻ tương quan yếu hơn nhiều, là cách nói chính xác và kiểm được. Nói rằng nghiên cứu chứng minh người hướng ngoại lãnh đạo giỏi hơn thì không đạt cả hai.
Các phần phản tư nên dựng theo cấu trúc nào?
Trả lời trực tiếp: Dựng quanh một tình huống cụ thể chứ không dựng quanh một nét tính cách chung. Một tình huống có tên, việc bạn đã làm, chuyện đã xảy ra, và thứ bạn sẽ kiểm chứng ở lần sau. Những khẳng định chung về tính cách của bạn thì không có bằng chứng nào đi kèm và cũng không có cách nào để sai, nên người chấm không có gì để đánh giá.
Hãy chọn những tình huống có va chạm bên trong, và chọn trong 3 hoặc 4 tình huống chứ đừng chốt ngay tình huống đầu tiên nghĩ ra. Một dự án nhóm trôi chảy chỉ cho ra một đoạn văn nói rằng mọi thứ trôi chảy. Một dự án nhóm mà hai người muốn hai thứ không đi cùng nhau được, còn bạn đã làm một điều gì đó và nó có tác dụng một nửa, mới cho ra chất liệu thật. Người chấm không chấm xem bạn đã làm tốt tới đâu. Họ chấm xem bạn có phân tích được chuyện đã xảy ra hay không.
Ba câu gánh phần lớn các đoạn phản tư ở môn này. Tôi đã kỳ vọng điều gì. Thực tế đã diễn ra thế nào. Và giờ tôi cho rằng điều gì giải thích khoảng cách đó, cùng cách tôi sẽ kiểm chứng nó. Câu thứ ba mới là chỗ của lý thuyết, bởi một khung lý thuyết được dùng để giải thích một khoảng cách cụ thể là khung đang làm việc, còn một khung được định nghĩa ở đầu mục thì chỉ là đồ trang trí.
Còn một điểm về cấu trúc nữa. Chuẩn đầu ra của môn có mục giao tiếp qua nhiều phương thức và với nhiều đối tượng khác nhau, nên nếu phần đánh giá có bài thuyết trình hoặc một văn bản chuyên môn, thì giọng văn cũng là một phần của bài. Một bài luận phản tư và một bản kế hoạch phát triển nghề nghiệp không viết cùng một giọng, và dùng chung một giọng cho cả hai là lỗi nhìn thấy được ngay.
Sinh viên quốc tế thường vướng nhất ở đâu?
Trả lời trực tiếp: Vướng ở chỗ viết phản biện về chính mình bằng một giọng không khoe khoang mà cũng không tự hạ thấp. Nhiều bạn tới từ những nền văn hoá mà viết về điểm mạnh của bản thân bị coi là thiếu khiêm tốn, rồi phương án an toàn mà các bạn chọn là kể dài về điểm yếu, và người chấm đọc ra đó là thiếu phân tích chứ không đọc ra đó là khiêm tốn.
Lối ra nằm ở bằng chứng chứ không nằm ở giọng điệu. Đừng khẳng định một điểm mạnh mà cũng đừng chối bỏ nó. Hãy thuật lại việc bạn đã làm trong một tình huống cụ thể và điều gì diễn ra sau đó. Câu sang tuần thứ hai tôi thấy tiến độ của nhóm không chừa khoảng dự phòng nào, tôi nêu ra, và nhóm dời hai hạn chót lên sớm hơn đưa ra một khẳng định về óc phán đoán của bạn mà không hề tự khẳng định câu nào, và người chấm có căn cứ để đánh giá.
Ở đây còn có một chiều nội dung thật sự mà môn học gọi tên trực tiếp, bởi nhận thức văn hoá và lãnh đạo bao trùm nằm trong danh mục chủ đề. Chính trải nghiệm làm việc xuyên văn hoá của bạn là chất liệu chính đáng cho môn này, chứ không phải một bất lợi. Một bạn từng điều phối nhóm bằng hai ngôn ngữ, giữa vài cách hiểu khác nhau về tôn ti, sẽ có những quan sát mà một bạn chỉ nói một thứ tiếng không tạo ra được, còn phần mô tả môn thì gọi tên nhận thức văn hoá trực tiếp, và một chuẩn đầu ra yêu cầu hiểu cùng trân trọng khác biệt cá nhân và khác biệt văn hoá.
Ai giúp được cho một bài viết bắt buộc phải nói về chính bạn?
Không ai viết hộ được phần phản tư của bạn, và ở một môn dựng trên trải nghiệm của chính bạn thì một bài phản tư đi thuê vừa vô giá trị vừa là điều không được phép. Phần việc hữu ích nằm ở khâu chọn và khâu chất vấn, tức chọn xem tình huống nào thật sự có thứ để phân tích, rồi đọc bản nháp để tìm những chỗ một khẳng định về bản thân bạn xuất hiện mà không kèm bằng chứng.
Nếu bạn đi theo hướng hỗ trợ học thuật, hãy mang theo đề bài kèm 3 hoặc 4 tình huống ứng viên ở dạng ghi chú. Phần lớn bài phản tư yếu là yếu vì chọn nhầm tình huống ngay trong giờ đầu tiên, và đó là cuộc trao đổi nhanh chứ không phải cuộc trao đổi dài.
Câu hỏi thường gặp
Phải học xong những gì trước đã?
Cần hoàn thành ít nhất 48 credit points, trong đó có BUSS1000 hoặc BUSS1001. Trang môn học không ghi môn cấm song song và không ghi kiến thức giả định. Hãy xác nhận quy định của đúng năm bạn nhập học.
Tôi có cần kinh nghiệm đi làm không?
Không. Dự án nhóm, việc làm thêm, hoạt động tình nguyện và câu lạc bộ sinh viên đều cho ra đúng loại tình huống mà môn cần. Điều quan trọng là tình huống đó có thật và có thứ gì đó trong đó đã không diễn ra như dự tính.
Tôi trích dẫn bài trắc nghiệm tính cách được không?
Được, nếu bạn thẩm định nó. Chuẩn đầu ra công bố yêu cầu đánh giá bằng chứng một cách phản biện, nên một bộ công cụ được nêu kèm phần thừa nhận giới hạn thì không sao, còn một bộ công cụ được nêu như sự thật là một chuẩn đầu ra bị bỏ lỡ.
Bài đánh giá là kiến thức hay là hành vi?
Cả hai. Chuẩn đầu ra vừa yêu cầu bạn áp dụng lý thuyết và nghiên cứu vào việc dẫn dắt và gây ảnh hưởng, vừa yêu cầu bạn giao tiếp, hợp tác và hoạch định phát triển nghề nghiệp, những thứ là hành vi chứ không phải kiến thức.
Phần phản tư nên riêng tư tới mức nào?
Nên cụ thể chứ không cần thân mật. Môn cần tình huống rõ ràng và phân tích trung thực, không cần bạn giãi bày. Một mô tả chi tiết về bất đồng nhóm rất đời thường vẫn là chất liệu tốt hơn một khó khăn riêng tư.
Đọc thêm
- BUSS1000: tương lai của kinh doanh
- BUSS1030: kế toán cho việc ra quyết định
- Hỗ trợ học thuật cùng cố vấn MAAS
Hỏi cố vấn MAAS về môn của bạn
References
Boud, D., Keogh, R., & Walker, D. (1985). Reflection: Turning experience into learning. Kogan Page.
Judge, T. A., Bono, J. E., Ilies, R., & Gerhardt, M. W. (2002). Personality and leadership: A qualitative and quantitative review. Journal of Applied Psychology, 87(4), 765–780. https://doi.org/10.1037/0021-9010.87.4.765
Pashler, H., McDaniel, M., Rohrer, D., & Bjork, R. (2008). Learning styles: Concepts and evidence. Psychological Science in the Public Interest, 9(3), 105–119. https://doi.org/10.1111/j.1539-6053.2009.01038.x
Pittenger, D. J. (2005). Cautionary comments regarding the Myers-Briggs Type Indicator. Consulting Psychology Journal: Practice and Research, 57(3), 210–221. https://doi.org/10.1037/1065-9293.57.3.210
