BUSM40005 Foundations of Management là môn năm nhất trông dễ mà chấm khó. Nội dung rộng và quen thuộc, các lý thuyết quản trị, cơ cấu, đạo đức, thay đổi, nên sinh viên tưởng bài chấm theo độ phủ. Không phải vậy.
BUSM40005 Foundations of Management là môn năm nhất trông dễ mà chấm khó. Nội dung rộng và quen thuộc, các lý thuyết quản trị, cơ cấu, đạo đức, thay đổi, nên sinh viên tưởng bài chấm theo độ phủ. Không phải vậy. Bài chấm theo khả năng lấy MỘT khái niệm quản trị và dùng nó để giải thích hoặc cải thiện một tổ chức có thật, qua một bài thuyết trình nhóm 15 phút và một báo cáo cá nhân 1500 từ. Bài viết này trả lời bảy câu hỏi sinh viên Việt Nam thường hỏi các mentor của MAAS nhất trước khi bắt tay vào BUSM40005.
Tác giả: Đội ngũ Biên tập MAAS · Hiệu đính bởi mentor Quản trị cao cấp (hành vi tổ chức và quản trị thay đổi)
Cập nhật: 24/07/2026
Chuyên mục: writing-tips
Môn BUSM40005 Foundations of Management học về điều gì?
Trả lời trực tiếp: BUSM40005 Foundations of Management là môn bậc cử nhân Level 4 (năm nhất) của University of Staffordshire, giảng dạy tại các cơ sở đối tác trong đó có British University Vietnam. Đây là môn khảo sát nhập môn về lĩnh vực quản trị: quá trình phát triển của lý thuyết quản trị, nguyên tắc và chức năng quản trị, cơ cấu và văn hóa tổ chức, quản lý con người, đội nhóm và sự đa dạng, quản lý nguồn lực và vận hành, tạo động lực và ảnh hưởng, giao tiếp, đạo đức và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, cùng quản trị thay đổi. Điểm cốt lõi của môn không phải học thuộc danh sách này mà là học cách vận dụng MỘT phần trong đó vào một tổ chức đủ tốt để đưa ra lời khuyên mang tính xây dựng.
Dẫn chứng: Chuẩn đầu ra của chính module nói rõ tiến trình này. Chuẩn 1 yêu cầu bạn thể hiện hiểu biết về khái niệm quản trị và mối liên hệ với đạo đức; chuẩn 2 yêu cầu bạn cho thấy cách quản lý thay đổi; và chuẩn 3 yêu cầu bạn vận dụng kiến thức quản trị vào một tổ chức để đưa ra lời khuyên xây dựng nhằm cải thiện hiệu quả. Chú ý rằng chỉ chuẩn đầu tiên là về việc biết; phần công việc có trọng số cao hơn là về việc vận dụng và tư vấn.
Ví dụ: Một bạn sinh viên người Việt tới MAAS với hàng trang ghi chú về mọi lý thuyết quản trị trong môn. Mentor hỏi bạn sẽ tư vấn cho MỘT tổ chức nào, và về việc gì. Bạn không trả lời được. Khi bạn chọn một công ty duy nhất và một vấn đề duy nhất, rồi lấy hai lý thuyết thật sự nói được về nó, bài không còn là bài kiểm tra trí nhớ mà trở thành một lập luận.
Bài assignment BUSM40005 thường gồm những gì?
Trả lời trực tiếp: BUSM40005 được chấm qua hai bài liên kết: một bài thuyết trình nhóm khoảng 15 phút chiếm 40%, và một báo cáo cá nhân 1500 từ chiếm 60%. Bài thuyết trình thường bàn về khái niệm và lý thuyết quản trị cùng mối liên hệ giữa thực hành quản trị và đạo đức. Báo cáo cá nhân là nơi phần lớn điểm nằm và thường tập trung vào quản trị thay đổi trong một tổ chức cùng tác động của nó lên việc cải thiện hiệu quả. Luôn xác nhận lại đề bài, chủ đề và trọng số trên trang môn học của chính bạn, vì cơ sở đối tác và học kỳ có khác nhau.
Dẫn chứng: Vì báo cáo chiếm 60% và nhắm chuẩn đầu ra 2 và 3, bài đánh giá nghiêng về vận dụng chứ không phải mô tả. Giới hạn 1500 từ được đặt ra chật một cách có chủ đích; nó buộc bạn chọn một tổ chức, một thay đổi, và một hoặc hai khung, và dồn số chữ vào phân tích thay vì tóm tắt lý thuyết mà người chấm đã biết.
Ví dụ: Một bạn chia đều 1500 từ cho năm lý thuyết và hết chỗ trước khi nói được gì về công ty thực. Mentor không thêm nội dung; chị cắt bớt ba lý thuyết. Bản báo cáo dùng hai khung một cách sâu, về một thay đổi có thật, được chấm cao hơn hẳn so với chuyến dạo qua năm lý thuyết.
BUSM40005 được chấm thế nào, rubric thật sự tưởng thưởng điều gì?
Trả lời trực tiếp: BUSM40005 tưởng thưởng bốn thứ, đại thể theo thứ tự này: (1) phân tích có vận dụng, bạn có dùng lý thuyết để giải thích một tổ chức thật thay vì mô tả lý thuyết; (2) lời khuyên xây dựng, các khuyến nghị của bạn có bám theo phân tích và có khả thi; (3) dùng nguồn có phản biện, bạn có chất vấn các mô hình thay vì lặp lại; và (4) cấu trúc và trích dẫn, lập luận có dễ theo dõi và trích dẫn đúng chuẩn. Bước từ mức đạt lên mức cao gần như luôn là sự chuyển từ "đây là một lý thuyết" sang "đây là điều lý thuyết này hé lộ về công ty này, và họ nên làm gì tiếp".
Dẫn chứng: Tiêu chí chấm Level 4 của Anh dành các bậc cao cho vận dụng, phân tích và đánh giá chứ không phải nhớ lại. Vì chuẩn 3 nêu đích danh "đưa ra lời khuyên xây dựng để cải thiện hiệu quả tổ chức", một báo cáo phân tích nhưng không tư vấn đã bỏ điểm lại, còn một báo cáo tư vấn mà không neo lời khuyên vào phân tích thì đã bỏ qua bước làm ra điểm ấy.
| Trọng tâm rubric | Mô tả (bậc thấp) | Vận dụng và tư vấn (bậc cao) |
|---|---|---|
| Lý thuyết quản trị | Tóm tắt lý thuyết nói gì | Dùng lý thuyết giải thích hành vi của một tổ chức cụ thể |
| Thay đổi | Liệt kê các bước của một mô hình thay đổi | Đánh giá mô hình có hợp với thay đổi và bối cảnh này không |
| Đạo đức và CSR | Nói rằng đạo đức quan trọng | Chỉ ra nơi một căng thẳng đạo đức thực sự nảy sinh và cái giá của nó |
| Khuyến nghị | Đưa lời khuyên tốt chung chung | Đưa lời khuyên bám theo phân tích và khả thi ở đây |
| Nguồn | Trích tác giả gốc của mô hình | Trích cả phê phán và giới hạn của mô hình, không chỉ mô hình |
Ví dụ: Một mentor của MAAS chấm bản nháp của bạn sinh viên theo bảng này và thấy mọi dòng đều nằm ở cột trái. Bạn không viết lại gì về công ty; bạn thêm, cho mỗi lý thuyết, một câu về điều nó hé lộ và một câu về điều công ty nên làm. Hai bậc.
Nên dùng khung và khái niệm nào trong BUSM40005?
Trả lời trực tiếp: Hãy dùng một tập nhỏ được chọn kỹ thay vì cả đề cương. Cho phần thuyết trình về quản trị và đạo đức, các neo bền là các chức năng quản trị kinh điển (hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát), các vai trò quản lý của Mintzberg, và một khung đạo đức được thừa nhận như kim tự tháp CSR của Carroll. Cho báo cáo quản trị thay đổi, dùng một mô hình đã được thừa nhận, phần lớn sinh viên dùng tám bước của Kotter hoặc rã đông–thay đổi–đông lại của Lewin, nhưng hãy coi nó là thứ để thử với tình huống chứ không phải mẫu để điền. Chọn các khung mà tổ chức bạn chọn thật sự cần và vận dụng chúng.
Dẫn chứng: Các khung này được người chấm công nhận vì chúng biến quan sát thành phân tích. Nhưng các bậc cao thưởng cho việc dùng chúng có phản biện, và quản trị thay đổi là nơi rõ nhất để thể hiện điều đó. Câu được lặp đi lặp lại rằng "70% nỗ lực thay đổi thất bại" không được bằng chứng thực nghiệm vững chắc nào chống lưng. Hughes (2011) truy con số này qua năm nguồn và không thấy nguồn nào có dữ liệu đủ chắc; một tổng quan hệ thống năm 2013 trên Journal of Applied Behavioral Science soi 563 nghiên cứu về thay đổi thấy chỉ 2% có độ giá trị nội tại mạnh; và một tổng hợp bằng chứng năm 2026 kết luận rằng mức thất bại là một phân phối tùy cách định nghĩa "thất bại", không phải một con số 70% cố định.
Ví dụ: Một bạn sinh viên người Việt mở báo cáo bằng "vì 70% thay đổi thất bại". Mentor hỏi con số đó lấy từ đâu. Bạn không nói được. Viết lại theo hướng ghi chú rằng con số này phổ biến nhưng thiếu bằng chứng, và lập luận thay vào đó từ những gì thật sự đã xảy ra trong công ty bạn chọn, cùng một báo cáo chuyển từ tường thuật sang phản biện, đúng điều tiêu chí chấm tưởng thưởng.
Chọn và phân tích tổ chức cho báo cáo thế nào?
Trả lời trực tiếp: Chọn một tổ chức bạn tìm được thông tin thật, lý tưởng là một tổ chức đã trải qua một thay đổi được ghi chép (tái cấu trúc, sáp nhập, chuyển đổi số, đổi lãnh đạo). Rồi thu hẹp về một thay đổi duy nhất và một câu hỏi duy nhất: họ đã thay đổi gì, vì sao, và nó có cải thiện hiệu quả không? Phân tích bằng khung bạn chọn, đánh giá trung thực xem thay đổi có hiệu quả và vì sao, và để các khuyến nghị mọc ra từ đánh giá đó. Một công ty nổi tiếng có báo cáo công khai hơn hẳn một công ty bạn ngưỡng mộ nhưng không có bằng chứng.
Dẫn chứng: Chuẩn 3 đòi lời khuyên cải thiện hiệu quả tổ chức, điều không thể làm tốt về một công ty bạn không nhìn rõ. Sự cụ thể cũng là thứ tách các bậc: "công ty nên giao tiếp tốt hơn" là chung chung; "công ty bỏ qua bước xây dựng liên minh dẫn dắt của Kotter, đó là lý do cấp quản lý trung gian phản kháng, nên đáng ra phải tranh thủ họ trước khi công bố tái cấu trúc" là phân tích có lời khuyên đi kèm.
Ví dụ: Một bạn chọn một thương hiệu toàn cầu vì nó ấn tượng, rồi thấy gần như không có bằng chứng gì về thay đổi nội bộ của nó. Mentor cho bạn chuyển sang một công ty Việt Nam có tin tức công khai về một đợt tái cấu trúc. Phân tích sắc lên ngay, vì bạn cuối cùng đã chỉ ra được điều thật sự đã xảy ra.
Nên xử lý AI tạo sinh và liêm chính học thuật trong BUSM40005 ra sao?
Trả lời trực tiếp: Kiểm tra thông báo riêng của module về AI trước khi dùng bất kỳ công cụ nào, vì các môn nền thường đặt giới hạn rõ, và tuân theo quy định của trường là ghi nhận và trích dẫn mọi cách dùng được phép. Cách an toàn cũng là cách nghiên cứu khuyến nghị: chỉ dùng công cụ cho phần hỗ trợ nếu được phép, kiểm chứng mọi thứ chúng tạo ra, và khai báo rõ ràng. Mô hình quản trị và dữ kiện công ty đúng là loại nội dung mà một đầu ra AI chưa kiểm chứng có thể sai một cách rất tự tin.
Dẫn chứng: Không khai báo mới là kiểu hỏng đã được ghi nhận, và nguyên nhân thường là sợ chứ không phải ý định gian dối. Một nghiên cứu tại King's Business School cho thấy có tới 74% sinh viên bỏ trống ô khai báo AI trên phiếu bìa, chủ yếu vì sợ bị phạt và hướng dẫn không rõ, dù các mục khác trên cùng tờ phiếu vẫn được điền. Với một môn chấm khả năng trích phê phán và chứng minh luận điểm, bê một bản tóm tắt AI chưa kiểm chứng, không nguồn vào làm phân tích là hỏng đúng ở tiêu chí bài được chấm.
Ví dụ: Một bạn hỏi mentor của MAAS rằng dùng công cụ để phác cấu trúc báo cáo có được không. Câu trả lời của mentor mang tính quy trình: xem thông báo của module, và nếu cho phép dùng hỗ trợ, ghi một dòng nói rõ. Bạn làm vậy, kiểm chứng mọi dữ kiện công cụ gợi ý với nguồn thật, và sự minh bạch ấy được đọc như thực hành tốt chứ không phải một rủi ro.
Sinh viên Việt Nam hay mắc lỗi gì nhất ở BUSM40005?
Trả lời trực tiếp: Các lỗi lặp lại là: mô tả lý thuyết thay vì vận dụng; cố phủ cả đề cương trong 1500 từ; chọn một tổ chức không có bằng chứng; trích con số "70% thay đổi thất bại" mà không phản biện; đưa khuyến nghị chung chung không bám theo phân tích; và coi bài thuyết trình nhóm tách rời khỏi báo cáo thay vì là nền của nó. Mỗi lỗi này đều làm mất điểm ngay cả khi bài viết sạch.
Dẫn chứng: Vì môn lấy vận dụng làm trục và giới hạn từ rất chặt, độ phủ bị phạt chủ động. Một báo cáo gọi tên năm khung thì không thể phân tích khung nào trong 1500 từ, nên theo mặc định nó ở lại các bậc thấp, mang tính mô tả. Sinh viên quen chứng minh độ phủ trong kỳ thi thường mang bản năng đó vào một báo cáo tưởng thưởng chiều sâu trên một tình huống.
Ví dụ: Báo cáo của một bạn sinh viên người Việt nhắc chín khái niệm và không phân tích cái nào. Mentor không thêm phân tích; chị đề nghị bạn xóa hết trừ hai khung công ty bạn thật sự cần. Phần còn lại có chỗ để thở, để tư vấn, và được chấm cao hơn trọn một bậc.
Mentor MAAS đồng hành cùng bạn ở BUSM40005 mà không vượt lằn ranh ra sao?
Trả lời trực tiếp: Mentor của MAAS làm việc cùng bạn, không làm thay bạn. Mentor giúp bạn giải mã đề bài, chọn một tổ chức và một thay đổi bạn có bằng chứng, chọn hai khung phù hợp, và kiểm tra xem phân tích của bạn có thật sự dẫn tới các khuyến nghị hay không. Bạn giữ quyền tác giả với từng slide và từng chữ của báo cáo; mentor nâng trần những gì bạn tự bảo vệ được.
Dẫn chứng: Vì BUSM40005 chấm trên phân tích có vận dụng và lời khuyên xây dựng chứ không phải độ phủ, phần lợi bền là thói quen dùng một khung cho tốt trên một tình huống thật. Thói quen ấy là cốt lõi của mọi vị trí quản trị bạn sẽ giữ, nơi bạn được yêu cầu chẩn đoán một tình huống và đề xuất hành động, không phải đọc lại lý thuyết. Sự đồng hành xây được lập luận ấy mới là thứ dịch chuyển điểm số và, quan trọng hơn, sống sót vào sự nghiệp của bạn.
Ví dụ: Một bạn sinh viên người Việt tới với khả năng đọc thuộc lý thuyết quản trị nhưng không vận dụng được gì. Qua vài buổi, mentor của MAAS không làm gì ngoài hỏi "điều này hé lộ gì về công ty của bạn, và họ nên làm gì" cho tới khi câu trả lời bật ra mà không cần nhắc. Bạn tự viết và tự thuyết trình mọi thứ. Điểm tăng, và sự tự tin của bạn cũng tăng ở kỳ thực tập đầu tiên, nơi chẩn đoán và tư vấn đúng là công việc.
Câu hỏi thường gặp
BUSM40005 có khó với sinh viên quốc tế không?
Nội dung thì vừa sức; cái khó là kỷ luật. Một báo cáo 1500 từ phạt độ phủ, nên sinh viên cố phô hết những gì đã học lại điểm thấp hơn người phân tích sâu một tình huống. Kỹ năng cần rèn là biết bỏ ra cái gì.
Báo cáo BUSM40005 thường về gì?
Thường là một báo cáo cá nhân 1500 từ về quản trị thay đổi trong một tổ chức và tác động của nó lên hiệu quả, chiếm 60%. Bạn phân tích một thay đổi có thật bằng một khung đã chọn và đưa khuyến nghị dựa trên bằng chứng.
Nên dùng mô hình thay đổi nào, Kotter hay Lewin?
Cái nào cũng được. Điều quan trọng là bạn thử mô hình với tình huống chứ không điền vào nó. Ghi rõ chỗ nó hợp, chỗ nó không, và điều đó hé lộ gì về thay đổi.
MAAS có viết bài BUSM40005 hộ tôi không?
Không. MAAS cung cấp sự đồng hành và rà soát. Mentor giúp bạn giải mã đề bài, chọn tình huống, vận dụng các khung và kiểm tra lập luận, nhưng bạn vẫn là tác giả của từng slide và từng chữ bạn nộp.
Làm sao khuyến nghị của tôi mạnh?
Làm cho mỗi khuyến nghị bám theo phân tích và khả thi cho đúng tổ chức đó. "Giao tiếp tốt hơn" là yếu; "tranh thủ cấp quản lý trung gian trước khi công bố, vì đó là nơi phản kháng hình thành" là mạnh.
Tôi có được dùng công cụ AI trong BUSM40005 không?
Chỉ khi thông báo của module cho phép, và chỉ khi ghi nhận theo hướng dẫn của trường. Kiểm chứng mọi dữ kiện hay mô hình công cụ đưa ra, vì đầu ra AI chưa kiểm chứng đúng là thứ báo cáo này được thiết kế để bắt.
MAAS đồng hành với sinh viên BUSM40005 ra sao
Nếu bạn đang tiếp cận bài BUSM40005 Foundations of Management và muốn một lối đi rõ ràng hơn, MAAS có buổi tư vấn miễn phí 20 phút để cùng bạn xem đề bài và phác thảo hướng làm. Việc đồng hành của MAAS bám theo một chuẩn kết quả ba mức, hỗ trợ ở mức Pass, Merit hay Distinction tùy mục tiêu của bạn, kèm cửa sổ hỗ trợ 90 ngày sau buổi làm việc. Mang theo đề bài, MAAS sẽ ghép bạn với một mentor đúng chuyên môn trong vòng 48 giờ. Khoảng 23% chuyên gia của MAAS có bằng Tiến sĩ, và các mentor quản trị là những người hành nghề giàu kinh nghiệm, làm việc cùng bạn để nâng những gì bạn có thể tự bảo vệ, không bao giờ viết bài thay bạn.
Đọc thêm: xem hướng dẫn của MAAS về BUSM3312 Managing Change và BUSM2570 Business Decision Making, và dịch vụ học thuật để hiểu cách đồng hành vận hành từ đầu tới cuối.
References
Appelbaum, S. H., Habashy, S., Malo, J.-L., & Shafiq, H. (2012). Back to the future: Revisiting Kotter's 1996 change model. Journal of Management Development, 31(8), 764–782. https://doi.org/10.1108/02621711211253231
Barends, E., Janssen, B., ten Have, W., & ten Have, S. (2014). Effects of change interventions: What kind of evidence do we really have? The Journal of Applied Behavioral Science, 50(1), 5–27. https://doi.org/10.1177/0021886312473152
Carroll, A. B. (1991). The pyramid of corporate social responsibility: Toward the moral management of organizational stakeholders. Business Horizons, 34(4), 39–48. https://doi.org/10.1016/0007-6813(91)90005-G
Gonsalves, C. (2025). Addressing student non-compliance in AI use declarations: Implications for academic integrity and assessment in higher education. Assessment & Evaluation in Higher Education. Advance online publication. https://doi.org/10.1080/02602938.2024.2415654
Hughes, M. (2011). Do 70 per cent of all organizational change initiatives really fail? Journal of Change Management, 11(4), 451–464. https://doi.org/10.1080/14697017.2011.630506
Kotter, J. P. (1995). Leading change: Why transformation efforts fail. Harvard Business Review, 73(2), 59–67.
Mintzberg, H. (1989). Mintzberg on management: Inside our strange world of organizations. Free Press.
Tools & resources
University of Staffordshire. (2026). Foundations of Management (BUSM40005), module descriptor. https://evision.staffs.ac.uk
