Skip to content
Quay lại BlogBusiness & Management

6BUS1035: quản trị tri thức khác business intelligence thế nào?

18 phút đọc3,450 từ

Người duyệt: MAAS-EXP-09, MBA Tài chính và Kinh doanh & Quản trị (Pháp)

Trả lời thẳng: Ở 6BUS1035, bạn phải viết quản trị tri thức và business intelligence như hai lĩnh vực đứng trên hai giả định khác nhau về tri thức: BI cho rằng phần có giá trị đã được ghi lại, còn quản trị tri thức bắt đầu từ chỗ phần giá trị nhất chưa từng được ghi lại. Một bài tốt chọn hai tới ba khung lý thuyết và dành hẳn một phần cho bằng chứng phản biện.

Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật lần cuối: 08/08/2026
Chuyên mục: business-management

Trong môn 6BUS1035, một chuẩn đầu ra yêu cầu sinh viên phân biệt hệ thống thông tin với hệ thống quản trị tri thức, nên quản trị tri thức (knowledge management, KM) và business intelligence (BI) không thể gộp làm một. Phần lớn bài nộp lại coi hai thứ này là một chủ đề mang hai cái tên. Tên môn đặt chúng cạnh nhau và danh mục tài liệu phủ cả hai, nên viết chung về "những hệ thống giúp tổ chức tận dụng điều nó đã biết" là phản xạ rất tự nhiên, và phản xạ đó lại là lỗi tốn điểm nhất của môn này.

Bài viết này sẽ giúp bạn tách được ranh giới giữa KM và BI trong bài coursework, chọn đúng hai tới ba khung lý thuyết thay vì điểm danh cả danh mục, dựng cấu trúc bài có chỗ cho bằng chứng phản biện, và phân biệt nguồn dùng được với nguồn rủi ro.

Môn 6BUS1035 thật ra học gì?

Trả lời thẳng: 6BUS1035 Knowledge Management and Business Intelligence là môn Level 6 của University of Hertfordshire, giá trị 15 tín chỉ, đánh giá 100% bằng coursework và giảng ở kỳ B. Môn nằm trong nhóm tự chọn của các chương trình thuộc Hertfordshire Business School, trong đó có BA (Hons) Finance và BA (Hons) Accounting, và xoay quanh cách một doanh nghiệp giữ, luân chuyển tri thức cũng như biến dữ liệu đã ghi nhận thành quyết định.

Những dữ kiện trên lấy từ programme specification, tức bản đặc tả chương trình mà Hertfordshire công bố công khai kèm trang giới thiệu khoá học. Tài liệu này liệt kê mã môn, số tín chỉ, học kỳ và tỷ lệ giữa coursework với thi, nên con số Level 6, 15 tín chỉ và phần coursework chiếm trọn 100% đều đối chiếu được ở đó. Nguồn ở đây quan trọng hơn bình thường: Hertfordshire để Definitive Module Document, tức bản mô tả môn chính thức, sau lớp đăng nhập của sinh viên, nên gần như mọi thứ đang lưu hành công khai dưới mã môn này đều do các trang bán bài đăng lại, thường sai năm học và đôi khi sai cả trường.

Một sinh viên từng kể với cố vấn MAAS rằng bạn ấy đã tìm được "đề bài 6BUS1035" và dựng dàn ý quanh một doanh nghiệp bán lẻ có tên cụ thể, vì bản trên mạng chỉ đích danh doanh nghiệp đó, trong khi handbook môn học của chính bạn ấy cho phép tự chọn tổ chức. Bạn ấy mất trọn một tuần nghiên cứu một công ty mình không bắt buộc phải nghiên cứu, chỉ vì tin vào một trang web tồn tại để bán bài cho mình.

Vì đây là môn tự chọn chứ không phải môn bắt buộc, lớp thường nhỏ và pha trộn, gồm sinh viên tài chính, kế toán chọn môn này ngồi cùng sinh viên kinh doanh. Cách chấm không vì thế mà nới tay. Một sinh viên kế toán không thể trông đợi được châm chước khi trình bày data warehousing, tức kho dữ liệu tập trung phục vụ phân tích, một cách sơ sài về kỹ thuật chỉ vì đó không phải chuyên ngành của mình.

Vì sao ranh giới giữa KM và BI lại gánh nhiều điểm đến vậy?

Trả lời thẳng: Vì hai lĩnh vực này đứng trên hai giả định không tương thích về bản chất của tri thức, và cả môn học được dựng trên đúng sự căng thẳng đó. Business intelligence giả định phần có giá trị đã được ghi lại rồi, dưới dạng giao dịch, nhật ký hệ thống, số đo cảm biến hay bất cứ thứ gì lưu trữ, truy vấn và tổng hợp được.

Quản trị tri thức bắt đầu từ nhận xét rằng phần giá trị nhất chưa từng được ghi lại và nhiều khi không thể ghi lại, bởi nó nằm trong óc phán đoán, trong kinh nghiệm và trực giác nghề nghiệp. Một bài viết rằng "hệ thống KM và BI đều giúp tổ chức ra quyết định tốt hơn" đã nói một điều đúng nhưng rỗng về mặt phân tích. Bài chỉ lên được band cao hơn khi chỉ ra mỗi bên hỗ trợ được loại quyết định nào, và mỗi bên thất bại ở đâu.

Polanyi (1966) đặt nền cho luận điểm rằng con người biết nhiều hơn những gì họ nói ra được, và đó là lý do quản trị tri thức không thể quy về một bài toán cơ sở dữ liệu. Nonaka và Takeuchi (1995) dựng mô hình sáng tạo tri thức tổ chức trên sự chuyển hoá qua lại giữa tri thức ẩn (tacit) và tri thức hiện (explicit), coi phần tri thức ẩn là nguồn lợi thế cạnh tranh chính vì nó khó bị mã hoá. Từ đó, Alavi và Leidner (2001) lập luận vì sao hệ thống quản trị tri thức là một lớp hệ thống thông tin riêng chứ không phải một biến thể, bởi mục đích của nó là hỗ trợ các quá trình xã hội quanh tri thức chứ không phải lưu trữ bản thân tri thức. Chen và cộng sự (2012), đứng từ phía bên kia, truy lại dòng phát triển của business intelligence và analytics từ gốc data warehousing tới phân tích dữ liệu phi cấu trúc quy mô lớn, một mạch mà đối tượng phân tích luôn là dữ liệu đã ghi nhận.

Một sinh viên đã viết về một ngân hàng triển khai "nền tảng KM và BI" để giảm tổn thất tín dụng. Cố vấn đề nghị bạn ấy tách luận điểm đó làm đôi. Bảng điều khiển (dashboard) cảnh báo mẫu trả nợ bất thường là business intelligence, vì nó chạy trên dữ liệu đã ghi nhận. Còn lý do các cán bộ tín dụng lâu năm gạt cảnh báo đó ở vài địa bàn lại là tri thức ẩn về điều kiện buôn bán ở địa phương, thứ không dashboard nào chứa. Khi tách được hai lớp ra, bạn ấy mới có một luận điểm thật, rằng vấn đề của ngân hàng nằm ở chỗ hai năng lực ấy không nói chuyện với nhau, và đó chính là phần phân tích bản nháp còn thiếu.

Khung lý thuyết nào làm việc thật, khung nào chỉ để trang trí?

Trả lời thẳng: Hãy dùng hai tới ba khung thật chính xác thay vì điểm danh cả danh mục tài liệu. Cách ghép hiệu quả là đặt một khung giải thích tri thức đang làm gì, chẳng hạn mô hình SECI của Nonaka và Takeuchi (1995), cạnh một khung giải thích công nghệ đang làm gì, chẳng hạn nghiên cứu về thành công của data warehousing của Wixom và Watson (2001), rồi xem chỗ hai khung gặp nhau.

Khung lý thuyết Câu hỏi mà nó trả lời Chỗ sinh viên hay hỏng
Tri thức ẩn và tri thức hiện (Polanyi · Nonaka & Takeuchi) Vì sao có loại tri thức lưu trữ được, có loại thì không? Trình bày như một bảng phân loại hai ô, trong khi những ca đáng bàn nằm đúng ở ranh giới
Mô hình chuyển hoá SECI Tri thức di chuyển thế nào giữa cá nhân và tổ chức? Liệt kê đủ bốn phương thức mà không áp phương thức nào vào tình huống
Hệ thống KM như hạ tầng xã hội (Alavi & Leidner) Vì sao hệ thống KM thất bại ngay cả khi công nghệ chạy tốt? Quy việc không ai dùng hệ thống về chuyện thiếu đào tạo, thay vì về cơ chế khuyến khích và văn hoá
Độ trưởng thành của BI và analytics (Chen và cộng sự · Wixom & Watson) Cần có sẵn những gì trước khi analytics làm đổi được một quyết định? Mặc định cứ cài dashboard là sinh ra giá trị, không nói gì tới chất lượng dữ liệu hay quản trị dữ liệu

Davenport và Prusak (1998) ghi nhận rằng các sáng kiến quản trị tri thức rất hay được triển khai như dự án công nghệ rồi thất bại vì những lý do thuộc về tổ chức, và các nghiên cứu sau này không lật ngược được mô thức ấy. Wixom và Watson (2001) kiểm định thực nghiệm các yếu tố đứng sau thành công của data warehousing và thấy các yếu tố tổ chức cùng yếu tố cấp dự án có trọng số đáng kể bên cạnh yếu tố kỹ thuật. Cả hai kết quả chỉ về cùng một hướng, nên ở môn này, câu trả lời dừng lại ở công nghệ là câu trả lời dừng quá sớm.

Một sinh viên đã mô tả kho tri thức của một doanh nghiệp là "ít được sử dụng" rồi khuyến nghị tăng cường đào tạo. Cố vấn hỏi lại ai được lợi khi đóng góp vào kho đó. Câu trả lời là không ai cả, vì công ty thăng tiến nhân viên theo số giờ tính phí cho khách, còn ngồi viết lại điều mình vừa học được thì không tính phí được. Khuyến nghị của bạn ấy chuyển từ đào tạo sang thiết kế cơ chế khuyến khích, và bài đi từ mô tả sang phân tích mà không cần thêm một nguồn mới nào.

Nên dựng cấu trúc bài coursework thế nào?

Trả lời thẳng: Hãy dựng bài như một lập luận có gắn một tổ chức vào, chứ không phải bản mô tả tổ chức có gắn lý thuyết vào. Một cấu trúc đứng vững ở Level 6 thường có năm phần, gồm mở bài nêu câu hỏi, khung lý thuyết kèm lý do chọn, phần soi tổ chức qua khung, phần điểm gãy nơi bằng chứng chống lại lập trường của bạn, và kết luận nói rõ điều còn chưa chắc.

Sơ đồ thang chia tỷ lệ số chữ khuyến nghị cho năm phần của bài 6BUS1035
Phần bằng chứng phản biện là phần sinh viên hay bỏ nhất và được thưởng điểm nhiều nhất.

Về tỷ lệ số chữ, mở bài nêu đúng một câu hỏi phân tích và tuyên bố lập trường của bạn, chiếm khoảng 10%. Phần khung lý thuyết, và quan trọng hơn cả là lời giải thích vì sao chọn những khái niệm này chứ không phải khái niệm khác, chiếm khoảng 25%. Phần soi tổ chức qua khung đó chiếm khoảng 30%. Phần điểm gãy, tức chỗ các khung bất đồng với nhau hoặc bằng chứng chống lại lập trường của bạn, chiếm khoảng 20%. Kết luận trả lời câu hỏi và gọi tên điều còn chưa chắc chắn chiếm khoảng 15%.

Phần thứ tư là phần mà đa số sinh viên bỏ đi, và cũng là phần mà bảng mô tả band năm cuối thưởng điểm trực tiếp nhất. Ở môn này, phần đó có sẵn một chỗ đứng rất rõ, là nơi tri thức ẩn mà tổ chức đang dựa vào lại không thể nạp vào hệ thống analytics mà tổ chức đã bỏ tiền đầu tư.

Bản mô tả trình độ cử nhân danh dự của Quality Assurance Agency for Higher Education, cơ quan bảo đảm chất lượng giáo dục đại học của Anh, đòi hỏi "an appreciation of the uncertainty, ambiguity and limits of knowledge" (QAA, 2024), tức ý thức được phần bất định, mơ hồ và giới hạn của tri thức, bên cạnh năng lực đánh giá phản biện lập luận và bằng chứng. Một bài không dành phần nào cho bằng chứng phản biện là bài đã tự gỡ mất về mặt cấu trúc chính tiêu chí nó cần đáp ứng nhất.

Một sinh viên đã lập luận rằng một công ty logistics nên tập trung tri thức về tuyến đường vào một hệ thống BI. Cố vấn hỏi một điều phối viên hoài nghi sẽ nói gì. Bạn ấy phát hiện ra các tài xế lâu năm thường xuyên đi lệch khỏi tuyến tối ưu vì những lý do hệ thống không bao giờ ghi nhận, chẳng hạn một phiên chợ làm tắc đường. Ngoại lệ ấy không làm yếu lập luận mà giúp bạn ấy thu hẹp nó về một mệnh đề bảo vệ được, rằng cứ tập trung dữ liệu, nhưng phải thiết kế một kênh riêng cho phần phán đoán mà dữ liệu không chứa nổi.

Nguồn nào dùng được, nguồn nào rủi ro?

Trả lời thẳng: Hãy neo phần phân tích vào nghiên cứu bình duyệt trong ngành hệ thống thông tin, kiểu các bài trên tạp chí MIS Quarterly của Alavi và Leidner (2001) hay Chen và cộng sự (2012), cùng tài liệu nền của quản trị tri thức. Tài liệu của nhà cung cấp phần mềm và báo chí ngành chỉ nên dùng cho dữ kiện thời sự có ghi nguồn rõ, vì chúng thường mô tả tính năng thay vì đánh giá.

Rủi ro riêng của môn này là business intelligence là một thị trường thương mại, nên phần lớn kết quả tìm kiếm trả về là tài liệu tiếp thị do chính các công ty bán hệ thống viết ra, tức những hệ thống bạn được giao nhiệm vụ đánh giá. Loại tài liệu đó mô tả năng lực của sản phẩm rất tốt nhưng hoàn toàn không đánh giá nó.

Mô thức này dễ nhận ra khi đã biết mà tìm. White paper của nhà cung cấp báo cáo các ca triển khai thành công và hiếm khi báo cáo ca thất bại, trong khi ca thất bại lại đúng là loại bằng chứng một bài đánh giá phản biện cần. Nghiên cứu bình duyệt như Wixom và Watson (2001) báo cáo cả hai.

Một sinh viên đã trích case study của một công ty phần mềm để chứng minh analytics cải thiện chất lượng quyết định tại một chuỗi bán lẻ có tên. Cố vấn hỏi ai viết tài liệu đó, và một ca triển khai thất bại sẽ trông thế nào trong chính tài liệu ấy. Cả hai câu đều không có lời đáp, nên trích dẫn kia chuyển từ vai trò bằng chứng xuống vai trò minh hoạ, còn sức nặng phân tích dồn về phía các nghiên cứu bình duyệt.

Tóm tắt tài liệu nền đứng sau môn này:

  • Polanyi (1966) cho rằng con người có thể biết nhiều hơn những gì họ diễn đạt được, nên quản trị tri thức không thu gọn được thành chuyện cơ sở dữ liệu.
  • Nonaka và Takeuchi (1995) xây mô hình SECI về sáng tạo tri thức tổ chức trên sự chuyển đổi giữa tri thức ẩn và tri thức hiện, với bốn phương thức là xã hội hoá (socialisation), ngoại hiện (externalisation), kết hợp (combination) và nội hoá (internalisation).
  • Alavi và Leidner (2001) lập luận rằng hệ thống quản trị tri thức là một lớp hệ thống thông tin riêng, vì chúng nâng đỡ các quá trình xã hội thay vì cất giữ chính tri thức.
  • Chen và cộng sự (2012) lần theo lịch sử business intelligence và analytics, từ nguồn gốc kho dữ liệu cho tới phân tích quy mô lớn trên dữ liệu phi cấu trúc.
  • Davenport và Prusak (1998) cho thấy các sáng kiến quản trị tri thức thời kỳ đầu hay bị làm như dự án công nghệ và thất bại vì lý do tổ chức.
  • Wixom và Watson (2001) kiểm định bằng dữ liệu thực nghiệm những yếu tố làm nên thành công của kho dữ liệu, và thấy yếu tố tổ chức cùng yếu tố cấp dự án có sức nặng đáng kể bên cạnh yếu tố kỹ thuật.
  • Quality Assurance Agency for Higher Education (2024) kỳ vọng người tốt nghiệp cử nhân danh dự nhận thức được phần bất định và giới hạn của tri thức trong ngành mình, nên bài cần một phần dành cho bằng chứng phản biện.

Cố vấn MAAS thật sự làm gì ở môn này?

MAAS làm việc với vai trò cố vấn học thuật. Cố vấn đọc bản nháp của bạn đối chiếu với chuẩn đầu ra của môn, đặt những câu hỏi mà người chấm sẽ đặt, và chỉ ra chỗ lập luận đang dừng nửa chừng. Từng chữ trong bài nộp là do bạn viết. Trình tự thường gặp ở một môn như thế này đi từ làm rõ câu hỏi phân tích, sang rà soát lựa chọn khung lý thuyết của bạn, rồi tới một lượt đọc cấu trúc toàn bản nháp có đặt tiêu chí chấm bên cạnh. Phần trích dẫn được kiểm ngay trong lượt đọc đó chứ không tách thành một dịch vụ riêng.


Câu hỏi thường gặp

6BUS1035 có phải môn bắt buộc không?
Không. Các programme specification của University of Hertfordshire xếp môn này vào nhóm tự chọn Level 6 trong những chương trình thuộc Hertfordshire Business School như BA (Hons) Finance và BA (Hons) Accounting. Bạn nên xác nhận lại trạng thái môn trong chương trình của mình, vì danh mục môn tự chọn khác nhau giữa các chương trình và giữa các năm học.

Môn này đánh giá bằng hình thức gì?
Programme specification công bố của trường ghi môn đánh giá hoàn toàn bằng coursework, không có phần thi, và giảng trong kỳ B. Handbook môn học của chính bạn mới là căn cứ cho dạng bài, số từ và trọng số cụ thể của năm bạn học.

Có cần nền tảng kỹ thuật mới học được không?
Không, và cách chấm cũng không giả định bạn có. Điều cách chấm giả định là bạn mô tả hệ thống chính xác, bằng đúng những thuật ngữ mà Chen và cộng sự (2012) cùng Wixom và Watson (2001) dùng cho lĩnh vực này. Mô tả kỹ thuật mơ hồ bị trừ điểm vì thiếu chính xác, chứ không được miễn vì bạn học trái ngành.

Có viết về một tổ chức Việt Nam được không?
Thường là được, và nhiều khi còn cho ra bài mạnh hơn, vì bạn nắm được bối cảnh mà người chấm chưa đọc tới năm mươi lần. Bạn nên kiểm đề bài xem có ràng buộc nào không, và chú ý để các nguồn bạn dựa vào đều là nguồn người đọc kiểm chứng được.

Bài nên dùng bao nhiêu nguồn?
Không có con số cố định, và đếm nguồn vốn là thước đo sai. Một bài Level 6 dùng 8 nguồn thật chính xác, trong đó có ít nhất vài nghiên cứu bình duyệt được bàn tới nơi tới chốn, vẫn được đánh giá cao hơn một bài trích 30 nguồn kiểu lướt qua.


Đọc thêm

Trao đổi với cố vấn MAAS về môn của bạn


References

Alavi, M., & Leidner, D. E. (2001). Knowledge management and knowledge management systems: Conceptual foundations and research issues. MIS Quarterly, 25(1), 107–136. https://doi.org/10.2307/3250961

Chen, H., Chiang, R. H. L., & Storey, V. C. (2012). Business intelligence and analytics: From big data to big impact. MIS Quarterly, 36(4), 1165–1188. https://doi.org/10.2307/41703503

Davenport, T. H., & Prusak, L. (1998). Working knowledge: How organizations manage what they know. Harvard Business School Press.

Nonaka, I., & Takeuchi, H. (1995). The knowledge-creating company: How Japanese companies create the dynamics of innovation. Oxford University Press.

Polanyi, M. (1966). The tacit dimension. Doubleday.

Quality Assurance Agency for Higher Education. (2024). The frameworks for higher education qualifications of UK degree-awarding bodies. QAA. https://www.qaa.ac.uk/docs/qaa/quality-code/the-frameworks-for-higher-education-qualifications-of-uk-degree-awarding-bodies-2024.pdf

Wixom, B. H., & Watson, H. J. (2001). An empirical investigation of the factors affecting data warehousing success. MIS Quarterly, 25(1), 17–41. https://doi.org/10.2307/3250957

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Cần áp dụng vào bài của bạn?

Từ bài viết này
đến bài của bạn.

Trong một buổi tư vấn miễn phí 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS nghe đề bài hoặc đề tài của bạn cùng yêu cầu của người hướng dẫn, rồi gợi ý cách áp dụng nội dung bài này vào đúng trường hợp đó.