Skip to content
Quay lại BlogPhD Admissions

Nghiên cứu sinh ở Singapore có được trả tiền, và phải đổi lại gì?

15 phút đọc2,816 từNEW

Chuyên mục: admissions

Cập nhật: 2026-09-19

Ứng viên tiến sĩ trao đổi kế hoạch với một cố vấn học thuật
Ảnh minh hoạ

Ngày 2026-09-19, chúng tôi hỏi hai trợ lý AI cùng một câu: nghiên cứu sinh ở NUS có được trả tiền không? Perplexity trả lời rằng nghiên cứu sinh quốc tế nhận học bổng NUS Research Scholarship được khoảng S$3.000 mỗi tháng. ChatGPT dẫn một trang khoa cũ và nói S$2.000. Hai bên cùng dùng chữ "được trả", nhưng không bên nào giải thích học bổng đòi lại những gì. Mức tiền hiện hành, các điều kiện đi kèm và khoản cam kết làm việc áp cho người tự túc học phí đều nằm trong tài liệu của NUS và Bộ Giáo dục Singapore, và khi đặt chúng cạnh nhau, ta có câu trả lời rõ hơn bất kỳ con số hằng tháng nào.

Trả lời thẳng: Có, theo nghĩa nghiên cứu sinh có tài trợ ở NUS nhận trợ cấp hằng tháng và được miễn toàn bộ học phí, nhưng đó là học bổng chứ không phải lương. Nghiên cứu sinh quốc tế nhận NUS Research Scholarship được S$3.000 mỗi tháng, xét gia hạn từng học kỳ theo tiến độ, và phải làm 416 giờ trợ giảng không lương (National University of Singapore, Faculty of Arts and Social Sciences, 2025).

Trợ cấp tiến sĩ ở Singapore có phải là lương không?

Trả lời thẳng: Không. NUS Research Scholarship là một khoản học bổng gồm trợ cấp hằng tháng và toàn bộ phần hỗ trợ học phí, cấp một năm trước rồi xét gia hạn từng học kỳ theo quyết định của trường. Phòng Tài chính NUS ghi rõ khoản trợ cấp không chịu thuế thu nhập, một dấu hiệu dễ thấy rằng nó không được coi là thu nhập từ việc làm.

Hướng dẫn năm 2025 của Faculty of Arts and Social Sciences (FASS) viết rằng học bổng "carries a monthly stipend plus tuition fee subsidy" (tr. 24), tức gồm trợ cấp hằng tháng và phần hỗ trợ học phí, rồi mô tả cách học bổng được duy trì: cấp một năm trước, sau đó gia hạn từng học kỳ nếu tiến độ đạt yêu cầu, thường kéo dài bốn năm với bậc tiến sĩ. Việc gia hạn gắn với báo cáo tiến độ mỗi học kỳ, do người hướng dẫn, trưởng bộ môn và khoa đánh giá vào đầu tháng Tư và cuối tháng Mười, và nộp báo cáo trễ hạn thì học bổng bị giữ lại. Phòng Tài chính NUS (National University of Singapore Office of Finance, n.d.) cho biết thêm rằng trợ cấp được chuyển vào ngày 18 hằng tháng, tháng đầu tính theo số ngày làm việc, và trợ cấp cùng các khoản cộng thêm không chịu thuế thu nhập, trong khi tiền dạy bán thời gian thì có chịu thuế. Một vị trí tiến sĩ ăn lương là kiểu sắp xếp khác hẳn. Wichmann-Hansen và Herrmann (2017) mô tả hệ Đan Mạch, nơi suất tiến sĩ là vị trí toàn thời gian ba năm kèm nghĩa vụ giảng dạy, và khoa phải trình được kế hoạch tài chính đầy đủ trước khi nhận nghiên cứu sinh. Singapore gần với mô hình học bổng hơn, và khác biệt thực tế hiện ra ở các điều kiện bên dưới.

Học bổng NUS Research Scholarship trả bao nhiêu mỗi tháng?

Trả lời thẳng: Mức trợ cấp tiến sĩ của NUS Research Scholarship tuỳ quốc tịch: người mang quốc tịch Singapore nhận S$3.800, người có thẻ thường trú nhận S$3.400, người nước ngoài nhận S$3.000 mỗi tháng, cộng toàn bộ học phí (National University of Singapore, Faculty of Arts and Social Sciences, 2025). Qua kỳ thi đánh giá năng lực thì cộng S$500 mỗi tháng, công dân còn có CPF.

Trợ cấp tiến sĩ mỗi tháng của NUS Research Scholarship: S$3.800 cho công dân Singapore, S$3.400 cho thường trú nhân và S$3.000 cho sinh viên quốc tế, cộng S$500 sau kỳ thi đánh giá năng lực
National University of Singapore, hướng dẫn FASS cho nghiên cứu sinh (2025), tr. 24, kiểm ngày 2026-09-19.

Bảng mức tiền nằm ở trang 24 của hướng dẫn FASS năm 2025, và trang học bổng của NUS Chongqing Research Institute trên cổng NUS Graduate School ghi đúng ba mức S$3.800, S$3.400 và S$3.000, kèm ghi chú rằng các mức này áp dụng từ khoá nhập học tháng Một năm 2026 trở đi. Con số S$2.000 trong câu trả lời AI thứ hai có vẻ lấy từ một biểu mức cũ chứ không phải biểu hiện hành. Khoản cộng thêm cũng có điều kiện riêng. Nghiên cứu sinh qua kỳ thi đánh giá năng lực được cộng S$500 mỗi tháng, nhưng không quá tháng thứ 48 của thời gian học hoặc lúc học bổng hết hạn, và với người nhập học từ tháng Tám năm 2021 thì mức trần 24 tháng trước đây đã được bỏ (National University of Singapore, Faculty of Arts and Social Sciences, 2025, tr. 28). Một số khoản phí bị trừ thẳng vào trợ cấp, như phí dịch vụ sinh viên và phí y tế mỗi học kỳ. Học bổng cao cấp nhất là President's Graduate Fellowship trả nhiều hơn, S$3.900 mỗi tháng cho sinh viên quốc tế, và có ngưỡng gia hạn riêng, trong đó điểm trung bình phần học phần phải từ 4.00 trở lên.

Học bổng đòi lại những gì?

Trả lời thẳng: Học bổng đòi tiến độ, đòi thời gian làm việc và đòi bạn sống ở Singapore. Nghiên cứu sinh phải học hai học phần có điểm mỗi học kỳ với điểm trung bình từ 3.50 và phải qua kỳ thi đánh giá năng lực, còn nghiên cứu sinh quốc tế phải hoàn thành 416 giờ không lương theo Graduate Assistantship Programme trước khi nộp luận án (National University of Singapore, Faculty of Arts and Social Sciences, 2025).

Graduate Assistantship Programme, gọi tắt là GAP, là phần mà con số trợ cấp che mất. Điều khoản học bổng của NUS Graduate School (n.d.-a) ghi rằng nghiên cứu sinh "will not be paid any remuneration for the hours clocked under the Graduate Assistantship Programme" (Annex B, note 1), tức không được trả thù lao cho số giờ làm theo chương trình này. Việc gia hạn còn đòi điểm trung bình từ 3.50 ở các học phần có điểm mỗi học kỳ. Số 416 giờ của nghiên cứu sinh quốc tế chia theo loại việc: tối thiểu 20% là dạy hoặc giám sát phòng thí nghiệm, tối đa 60% là trợ lý nghiên cứu ngoài dự án của chính mình, và tối đa 20% là các việc phát triển khác. Công dân và thường trú nhân nhận cùng học bổng có thể được yêu cầu làm tối đa một nửa số giờ đó. Tổng giờ GAP và mọi việc làm khác, có lương hay không, không được vượt 16 giờ mỗi tuần, và nếu không đủ giờ thì khoa có thể cắt trợ cấp hoặc giữ bảng điểm cho tới khi làm đủ. Nghĩa vụ giảng dạy cũng tác động tới chính quá trình làm tiến sĩ. Feizi và Elgar (2023) dùng 18.822 phiếu trả lời của khảo sát Canadian Graduate and Professional Student Survey và thấy việc làm trợ giảng gắn với mức hài lòng thấp hơn về chương trình, trong khi làm trợ lý nghiên cứu gắn với tiến độ tốt hơn. Hướng dẫn FASS cũng yêu cầu người nhận học bổng cư trú tại Singapore trong suốt thời gian nhận.

Làm tiến sĩ ở Singapore có phải ký cam kết làm việc sau khi tốt nghiệp không?

Trả lời thẳng: Các tài liệu học bổng NUS mà chúng tôi đọc không gắn cam kết làm việc nào với Research Scholarship. Cam kết làm việc nằm ở Service Obligation, một chương trình khác cho phép nghiên cứu sinh quốc tế tự túc đóng học phí đã trợ giá để đổi lấy 3 năm làm việc cho một đơn vị ở Singapore sau khi tốt nghiệp (Ministry of Education Singapore, n.d.). Người nhận học bổng có GAP không được ký.

Dễ nhầm là phải, vì cả hai đường đều dùng tiền của Bộ Giáo dục Singapore. Theo trang Service Obligation của NUS Graduate School (n.d.-b), nghiên cứu sinh quốc tế học chương trình có trợ giá có thể đăng ký đóng mức học phí thấp hơn và ký cam kết làm việc toàn thời gian 3 năm cho một đơn vị đặt tại Singapore, với giấy phép lao động hợp lệ. Với khoá nhập học 2026/2027 ở FASS, mức học phí trợ giá này là S$21.900 mỗi năm, so với S$41.800 nếu không có trợ giá (National University of Singapore, Faculty of Arts and Social Sciences, n.d.). Phá cam kết thì rất tốn: Phòng Đào tạo NUS (National University of Singapore Registrar's Office, n.d.) ghi rằng người học phải hoàn lại toàn bộ khoản trợ giá cộng lãi 10% tính gộp vào cuối mỗi năm học. Từ đó có hai hệ quả cho người nộp hồ sơ. Sinh viên quốc tế nhận NUS Research Scholarship, President's Graduate Fellowship và các học bổng tương tự có yêu cầu GAP thì không được ký Service Obligation. Và người đang theo Service Obligation mà sau đó giành được học bổng thì phải rút khỏi chương trình và bồi hoàn phần trợ giá đã nhận, theo hướng dẫn FASS.

Học bổng hết trước khi nộp luận án thì sao?

Trả lời thẳng: Tiền dừng, còn thời gian học vẫn tiếp tục. NUS Research Scholarship thường kéo dài bốn năm, trong khi thời gian học tiến sĩ tối đa là năm năm, nên luận án chưa nộp khi học bổng hết thì phải làm tiếp mà không có tài trợ của trường. Nghỉ phép cũng không tự động kéo dài học bổng (National University of Singapore, Faculty of Arts and Social Sciences, 2025).

Hướng dẫn FASS viết thẳng rằng học bổng "will end before the maximum period of your candidature" (National University of Singapore, Faculty of Arts and Social Sciences, 2025, tr. 24), tức sẽ kết thúc trước thời hạn học tối đa, và người chưa nộp kịp "will have to work on your thesis without any financial support from the University". Học phí cũng đổi. Học phí trợ giá của Bộ Giáo dục áp dụng tới thời hạn tối đa năm năm với bậc tiến sĩ, NUS trợ giá thêm một năm, và từ năm học 2024/2025, nghiên cứu sinh ở năm thứ 7 trở đi phải đóng toàn bộ học phí không trợ giá. Các quy định đó quan trọng vì luận án tiến sĩ hay kéo dài quá thời gian được tài trợ. Council of Graduate Schools (2004) rà năm mươi năm nghiên cứu về tỷ lệ hoàn thành ở Mỹ và kết luận rằng "under highly favorable conditions, no more than three quarters of students who enter doctoral programs complete their doctoral degrees" (tr. 3), tức ngay cả trong điều kiện rất thuận lợi, không quá ba phần tư số người vào chương trình tiến sĩ làm xong bằng. Khoảng cách giữa được nhận và làm xong được bàn kỹ trong bài học tiến sĩ ở nước ngoài khó ở cửa vào hay lúc về đích, còn ba mốc thời gian khác nhau mà một trường công bố nằm trong bài học tiến sĩ mất bao lâu.

Đọc một thư mời có học bổng tiến sĩ ở Singapore thế nào?

Trả lời thẳng: Đọc bốn dòng chứ không đọc một. Xem đó là học bổng nào và mức tiền thuộc khoá nhập học nào, bạn nợ bao nhiêu giờ GAP và ở loại việc nào, học bổng kết thúc lúc nào so với thời hạn học tối đa, và bạn đang nhận học bổng hay theo Service Obligation, vì hai thứ này không đi cùng nhau được.

Con số hằng tháng là dòng người nộp hồ sơ đọc đầu tiên, nhưng lại ít thông tin nhất, vì nó do quốc tịch và khoá nhập học quyết định chứ không phải thứ bạn thương lượng được. Những câu hỏi đáng giá hơn đều xoay quanh thời gian. Nếu bạn nợ 416 giờ GAP trong bốn năm học bổng thì đó là khoảng 52 giờ mỗi học kỳ, đúng cách hướng dẫn FASS dùng để chia giờ cho học bổng ngắn hơn. Nếu học bổng dừng ở tháng thứ 48 mà đề tài trong ngành bạn thường kéo dài hơn thế, thì những tháng cuối cần có kế hoạch trước khi ký. Câu hỏi rộng hơn là ai cầm tiền trong một suất tiến sĩ và vì sao điều đó đổi người bạn cần viết thư, được bàn trong bài ai quyết định học bổng tiến sĩ. Bài này chỉ đọc tài liệu của NUS. NTU có điều khoản học bổng riêng, và chúng tôi chưa kiểm các con số của NTU cho bài này.

Nếu bạn cần một người đọc thứ hai trong lúc so sánh các thư mời và chuẩn bị đề cương, MAAS làm việc với ứng viên trong vai trò cố vấn học thuật. Bạn chọn chương trình và giáo sư, tự viết đề cương và mọi email, tự dự phỏng vấn và tự ra từng quyết định, còn chuyên gia của MAAS phản biện độ phù hợp, lịch tài trợ và bằng chứng đằng sau từng lựa chọn. Không ai hứa trước được chuyện trúng tuyển hay có học bổng, vì quyết định đó thuộc về trường. Phạm vi công việc cố vấn được mô tả ở trang tìm giáo sư hướng dẫn và chiến lược ứng tuyển tiến sĩ, còn toàn bộ lộ trình nằm ở hướng dẫn ứng tuyển tiến sĩ.

Câu hỏi thường gặp

Nghiên cứu sinh quốc tế ở Singapore có phải đóng học phí không?
Nếu nhận NUS Research Scholarship thì không, vì học bổng chi trả toàn bộ phần hỗ trợ học phí. Nghiên cứu sinh quốc tế tự túc thì đóng mức không trợ giá, hoặc theo Service Obligation đóng mức trợ giá S$21.900 mỗi năm với khoá 2026/2027 ở FASS, đổi lại cam kết làm việc 3 năm.

Nhận học bổng NUS có được đi làm thêm không?
Có nhưng có giới hạn. Theo điều khoản học bổng, tổng giờ GAP và mọi việc làm khác, có lương hay không, không được vượt 16 giờ mỗi tuần (National University of Singapore Graduate School, n.d.-a), và tiền dạy bán thời gian thì chịu thuế còn trợ cấp thì không.

Khoản cộng S$500 có áp cho mọi người không?
Không. Khoản này chỉ dành cho người nhận NUS Research Scholarship đã qua kỳ thi đánh giá năng lực tiến sĩ, và dừng ở tháng thứ 48 của thời gian học hoặc khi học bổng hết hạn. Người nhận President's Graduate Fellowship không được hưởng khoản này.

Trợ cấp S$3.000 có đủ sống ở Singapore không?
Còn tuỳ chỗ ở và ngành học, và bài này không ước tính chi phí sinh hoạt. Điều tài liệu cho thấy là một số khoản phí và bảo hiểm bị trừ vào trợ cấp, nên số tiền thực nhận thấp hơn con số công bố.

Bài liên quan của MAAS

References

Council of Graduate Schools. (2004). Ph.D. completion and attrition: Policy, numbers, leadership, and next steps. https://cgsnet.org/wp-content/uploads/2022/01/phd_completion_and_attrition-2.pdf

Feizi, S., & Elgar, F. J. (2023). Satisfaction, research productivity, and socialization in doctoral students: Do teaching assistantship, research assistantship and the advisory relationship play a role? Heliyon, 9(9), e19332. https://doi.org/10.1016/j.heliyon.2023.e19332

Ministry of Education Singapore. (n.d.). Service Obligation scheme: Overview. Retrieved 2026-09-19, from https://www.moe.gov.sg/financial-matters/service-obligation-scheme/overview

National University of Singapore Graduate School. (n.d.-a). NUS Research Scholarship terms and conditions. Retrieved 2026-09-19, from https://nusgs.nus.edu.sg/nus-research-scholarship-terms-conditions

National University of Singapore Graduate School. (n.d.-b). Service Obligation (SO) scheme. Retrieved 2026-09-19, from https://nusgs.nus.edu.sg/service-obligation-scheme/

National University of Singapore, Faculty of Arts and Social Sciences. (2025). Guide for graduate research students. https://fass.nus.edu.sg/wp-content/uploads/2025/03/Student-Guide-for-FASS-RSH-students.pdf

National University of Singapore, Faculty of Arts and Social Sciences. (n.d.). Fees (graduate research). Retrieved 2026-09-19, from https://fass.nus.edu.sg/graduate/research/fees/

National University of Singapore Registrar's Office. (n.d.). Graduate fees. Retrieved 2026-09-19, from https://www.nus.edu.sg/registrar/administrative-policies-procedures/graduate/graduate-fees

National University of Singapore Office of Finance. (n.d.). Research scholar. Retrieved 2026-09-19, from https://www.nus.edu.sg/finance/students/student-finance-matters/research-scholar/

Wichmann-Hansen, G., & Herrmann, K. J. (2017). Does external funding push doctoral supervisors to be more directive? A large-scale Danish study. Higher Education, 74(2), 357-376. https://doi.org/10.1007/s10734-016-0052-6

Tools & resources

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.