Skip to content
Quay lại BlogPhD Admissions

Học tiến sĩ ở nước ngoài có khó không: khó ở cửa vào hay lúc về đích?

14 phút đọc2,623 từNEW
Số liệu hoàn thành: 57% nghiên cứu sinh ở các trường Mỹ và Canada làm xong trong mười năm, 54,3% ở hai trường Bỉ trong tám năm, và người làm xong ở Đức mất trung bình 55 tháng.

Chuyên mục: admissions

Cập nhật: 18/09/2026

Ứng viên tiến sĩ trao đổi kế hoạch với một cố vấn học thuật
Ảnh minh hoạ

Hỏi Perplexity học tiến sĩ ở nước ngoài có khó không thì nó trả lời là có, rồi kể liền một mạch năm cái khó: đầu vào cạnh tranh, nghiên cứu có thể đi vào ngõ cụt, yêu cầu học thuật cao, cô đơn, và tiền. Danh sách đó hợp lý, nhưng nó trộn hai câu hỏi có hai câu trả lời khác nhau. Câu thứ nhất là bạn có được nhận hay không. Câu thứ hai là bạn có làm xong hay không. Câu thứ hai đã được đo trên hàng nghìn nghiên cứu sinh ở nhiều nước, và các phép đo cho thấy nhiều điều kiện gắn với chuyện về đích, như nguồn tiền, ngành học và người hướng dẫn, phần lớn đã được định sẵn từ lúc bạn chọn nơi nộp hồ sơ.

Trả lời thẳng: Độ khó nằm ở hai con số: cửa vào phản ánh một mùa tuyển sinh, còn tỷ lệ hoàn thành phản ánh bốn tới tám năm. Ở Mỹ và Canada chỉ 57% nghiên cứu sinh làm xong trong mười năm (Council of Graduate Schools, 2008), ở Bỉ là 54,3% trong tám năm (Wollast et al., 2018). Tiền tài trợ, lĩnh vực và sự kèm cặp của thầy hướng dẫn gắn với chuyện về đích.

Học tiến sĩ có khó không, và khó theo nghĩa nào?

Trả lời thẳng: Khó theo hai nghĩa tách rời nhau. Được nhận là một cuộc cạnh tranh do hội đồng tuyển sinh hoặc một giáo sư quyết trong một mùa tuyển. Làm xong là chuyện điều kiện kéo dài bốn tới tám năm. Theo tổng quan của Council of Graduate Schools (2004), kể cả khi mọi thứ thuận lợi thì tối đa cũng chỉ khoảng ba trên bốn người vào học lấy được bằng.

Council of Graduate Schools (2004) rà mười lăm nghiên cứu về tỷ lệ hoàn thành, trải trên năm mươi năm dữ liệu của Mỹ, và ghi nhận mức thấp nhất là 33,4% ở sinh viên khối nhân văn và khoa học xã hội, mức cao nhất là 76% ở sinh viên y sinh được tài trợ bằng quỹ đào tạo của National Institutes of Health. Câu kết luận của bản tổng quan đáng đọc chậm: "under highly favorable conditions, no more than three quarters of students who enter doctoral programs complete their doctoral degrees" (Council of Graduate Schools, 2004, p. 3), tức là ngay cả trong điều kiện rất thuận lợi, không quá ba phần tư số người vào chương trình tiến sĩ làm xong bằng. Như vậy, lá thư nhận học giải quyết cái khó thứ nhất và gần như không nói gì về cái khó thứ hai. Một ứng viên Việt Nam hỏi chung chung "có khó không" thường đang nghĩ tới cái khó thứ nhất, vì đó là cái nhìn thấy được. Cái khó thứ hai thì người ngoài không nhìn thấy, dù chính nó mới là cái có số liệu công bố.

Có bao nhiêu nghiên cứu sinh thật sự làm xong?

Trả lời thẳng: Khoảng một nửa tới ba phần năm, tuỳ nước và tuỳ khung thời gian đo. Ph.D. Completion Project theo dõi các chương trình tại 30 trường của Mỹ và Canada và thấy tỷ lệ hoàn thành sau mười năm là 57% (Council of Graduate Schools, 2008). Wollast et al. (2018) theo dõi 1.509 nghiên cứu sinh ở cộng đồng nói tiếng Pháp của Bỉ và thấy 54,3% làm xong trong tám năm.

Số liệu hoàn thành: 57% nghiên cứu sinh ở các trường Mỹ và Canada làm xong trong mười năm, 54,3% ở hai trường Bỉ trong tám năm, và người làm xong ở Đức mất trung bình 55 tháng.

Con số 57% sau mười năm lấy từ dữ liệu chương trình của 30 trường, cho những người bắt đầu học từ 1992-93 tới 1994-95, tức những khoá duy nhất đủ lâu để theo dõi trọn mười năm, và Council of Graduate Schools (2008) chia nó theo ngành: 64% ở khối kỹ thuật so với 49% ở khối nhân văn. Ngay trong một khối ngành, khoảng chênh còn rộng hơn, với kỹ thuật xây dựng khoảng 78% và kỹ thuật điện khoảng 56%. Con số của Bỉ dùng khung ngắn hơn, tám năm. Trong 1.509 nghiên cứu sinh ở hai trường lớn nhất của cộng đồng nói tiếng Pháp, 820 người (54,3%) làm xong, 572 người (37,9%) nhiều khả năng đã bỏ dở và 117 người (7,8%) nhiều khả năng vẫn đang làm (Wollast et al., 2018). Nhóm tác giả mô tả kết quả này là "a rate quite similar to the ones observed in English-speaking countries" (tr. 152), tức một tỷ lệ khá gần với các nước nói tiếng Anh. Hai hệ thống khác nhau gần như mọi thứ, từ cách tuyển nghiên cứu sinh tới thời hạn tài trợ, vậy mà hai con số chỉ lệch nhau chưa tới ba điểm phần trăm.

Làm tiến sĩ mất bao lâu, và người ta bỏ dở vào lúc nào?

Trả lời thẳng: Làm xong thì lâu hơn thời gian được tài trợ, còn bỏ dở thì xảy ra sớm. Ở Đức, thời gian dự kiến là ba năm nhưng người làm xong mất trung bình 55 tháng, còn người bỏ dở rời đi sau trung bình 32 tháng (Jaksztat et al., 2021). Các nghiên cứu ở Mỹ và Bỉ cũng cho thấy phần lớn người bỏ dở rời đi trong hai hoặc ba năm đầu.

Jaksztat et al. (2021) theo dõi 1.226 nghiên cứu sinh Đức, lấy từ một bộ dữ liệu toàn quốc về những người tốt nghiệp bậc đầu tiên năm 2005. Nhóm tác giả cho biết người làm xong mất trung bình 55 tháng, và nửa giữa của nhóm này cần từ 41 tới 66 tháng, trong khi thời gian dự kiến là 3 năm, khớp với thời hạn tài trợ thông thường ở Đức. Chuyện bỏ dở đến sớm hơn nhiều, vì người không làm xong rời đi sau trung bình 32 tháng, và nửa giữa của nhóm này rời đi trong khoảng từ tháng 16 tới tháng 46. Council of Graduate Schools (2004) tổng kết các nghiên cứu của Mỹ theo cùng hướng, rằng "most students depart in their first two or three years" (tr. 4), nghĩa là phần lớn người rời chương trình rời đi trong hai hoặc ba năm đầu. Wollast et al. (2018) thấy cùng mẫu hình ở Bỉ và thêm một chi tiết quan trọng cho người lập kế hoạch: nghiên cứu sinh không có tài trợ rời đi sớm hơn hẳn người có tài trợ. Chương trình tiến sĩ được thiết kế kéo dài bao lâu là một câu hỏi riêng, đã có bài chương trình tiến sĩ thật ra kéo dài bao lâu.

Những điều kiện nào dự báo ai làm xong?

Trả lời thẳng: Các nghiên cứu thống nhất ở ba điều kiện là nguồn tiền, ngành học và mức tiếp xúc với người hướng dẫn. Ở Đức, có học bổng và thường xuyên trao đổi với người hướng dẫn đều gắn với khả năng bỏ dở thấp hơn (Jaksztat et al., 2021). Ở Bỉ, nguồn tiền và ngành học vẫn có ý nghĩa thống kê khi đưa mọi yếu tố vào cùng một mô hình (Wollast et al., 2018).

Jaksztat et al. (2021) kiểm các yếu tố cá nhân, yếu tố thuộc về cơ sở đào tạo và yếu tố bên ngoài trong cùng một mô hình phân tích sự kiện theo thời gian. Nữ giới và người có con bỏ dở nhiều hơn, người có điểm học trước đó cao hơn thì bỏ dở ít hơn, và người học toán, khoa học tự nhiên, y khoa, kỹ thuật bỏ dở ít hơn người học nhân văn. Có học bổng và trao đổi thường xuyên với người hướng dẫn gắn với tỷ lệ bỏ dở thấp hơn. Wollast et al. (2018) tìm ra bốn yếu tố vẫn có ý nghĩa khi xét cùng nhau, gồm tình trạng hôn nhân, điểm thạc sĩ, ngành nghiên cứu và nguồn tài trợ. Nhóm tác giả còn đếm số yếu tố rủi ro trên từng nghiên cứu sinh, và kết quả rất rõ: 92% người không có yếu tố rủi ro nào làm xong, trong khi 79% người có sáu yếu tố rủi ro bỏ dở. Trong các yếu tố dự báo của cả hai nghiên cứu, điểm học trước đó là yếu tố hội đồng tuyển sinh xem xét trực tiếp từ hồ sơ. Nguồn tiền, ngành và việc chọn người hướng dẫn thì được chốt, hoặc ít nhất được chấp nhận, trước khi bạn nhập học, dù mức gặp gỡ thực tế với người hướng dẫn chỉ lộ ra khi công việc bắt đầu.

Nên chốt những gì trước khi nộp hồ sơ?

Trả lời thẳng: Trước khi nộp, bạn nên khoá lại chính những biến số mà các công trình về tỷ lệ hoàn thành đã đo, vì sau khi nhập học rất khó đổi lại. Hãy hỏi gói tài trợ kéo dài tới đâu so với thời gian làm thật, và thầy hướng dẫn có lịch gặp đều không. Ở Đức, người làm xong cần trung bình 55 tháng trong khi kế hoạch chỉ 3 năm (Jaksztat et al., 2021).

Trong thực tế, điều này đổi những gì bạn hỏi trước khi nhận một suất học, chứ không chỉ đổi cách bạn viết hồ sơ. Ba câu hỏi rút thẳng từ các kết quả ở trên. Thứ nhất, tài trợ phủ bao nhiêu tháng, và điều gì xảy ra trong khoảng giữa lúc hết một khoản tài trợ 3 năm và mốc hoàn thành thực tế 55 tháng, mức trung bình ở Đức? Thứ hai, người hướng dẫn gặp các nghiên cứu sinh hiện tại bao lâu một lần, điều mà bạn có thể hỏi thẳng chính những nghiên cứu sinh đó? Thứ ba, ngành của bạn có thuộc nhóm tỷ lệ hoàn thành thấp như khối nhân văn không, và nếu có thì đề tài đã được khoanh vùng đủ để làm xong chưa? Không câu nào trong ba câu này nằm trên mẫu đơn. Chúng thuộc về quyết định chọn nơi nộp, và lộ trình ứng tuyển tiến sĩ chỉ ra mỗi câu nằm ở đâu trong trình tự đó. Ai trả tiền cho một suất nghiên cứu sinh và ai quyết chuyện đó thì đã có bài ai quyết định tài trợ cho nghiên cứu sinh.

Tiến sĩ ở nước ngoài khác tiến sĩ trong nước ở điểm nào?

Trả lời thẳng: Văn liệu hiện có không tách ra được một bất lợi cố định cho người học ở nước ngoài. Dữ liệu Bỉ cho thấy nghiên cứu sinh nước ngoài làm xong ít hơn người Bỉ (Wollast et al., 2018), còn một nghiên cứu ở Mỹ lại thấy người nước ngoài làm xong nhiều hơn một chút, 54,1% so với 50,3% (Council of Graduate Schools, 2004). Quốc tịch đan xen với ngành và nguồn tiền.

Council of Graduate Schools (2004) dẫn nghiên cứu của Espenshade và Rodriguez, so công dân và thường trú nhân Mỹ với người nước ngoài ở sáu ngành, và cho tỷ lệ hoàn thành lần lượt là 50,3% và 54,1%. Wollast et al. (2018) ghi nhận chiều ngược lại ở Bỉ và lưu ý rằng tác động này chịu ảnh hưởng mạnh của ngành nghiên cứu. Với bằng chứng hiện có, cách đọc trung thực là người nước ngoài không mang sẵn một bất lợi cố định. Trong dữ liệu Bỉ, khoảng cách giữa người Bỉ và người ngoài EU có ý nghĩa khi xét riêng, nhưng mất ý nghĩa khi đưa tình trạng hôn nhân, điểm, ngành và nguồn tiền vào cùng một mô hình (Wollast et al., 2018). Nói cách khác, thứ đi kèm với quốc tịch phần lớn là nguồn tiền và ngành học. Nếu bạn vẫn đang cân nhắc tấm bằng này có hợp với kế hoạch của mình không, bài bằng tiến sĩ thật ra xác nhận điều gì bàn riêng câu hỏi đó.

Nếu bạn cần một người đọc thứ hai trong lúc so sánh các suất học và chuẩn bị đề cương, MAAS làm việc với ứng viên ở vai trò cố vấn học thuật. Bạn chọn chương trình và người hướng dẫn, tự viết đề cương và mọi email, tự dự phỏng vấn và tự ra từng quyết định, còn chuyên gia của MAAS phản biện độ khớp, mốc thời gian của nguồn tài trợ và bằng chứng đằng sau từng lựa chọn. Không ai hứa được chuyện được nhận hay làm xong, vì hai kết quả đó thuộc về trường và thuộc về chính bạn. Phạm vi công việc cố vấn được mô tả ở trang tìm người hướng dẫn và chiến lược ứng tuyển tiến sĩ.

Câu hỏi thường gặp

Bao nhiêu phần trăm nghiên cứu sinh bỏ dở?
Còn tuỳ nước và khung thời gian đo. Trong Ph.D. Completion Project của Mỹ, 57% làm xong trong mười năm, tức hơn bốn trên mười người chưa xong (Council of Graduate Schools, 2008). Trong nghiên cứu ở Bỉ, 37,9% nhiều khả năng đã bỏ dở trong tám năm (Wollast et al., 2018).

Nghiên cứu sinh thường bỏ dở vào lúc nào?
Từ sớm. Các tổng quan ở Mỹ cho thấy phần lớn người rời đi trong hai hoặc ba năm đầu (Council of Graduate Schools, 2004), còn người không làm xong ở Đức rời đi sau trung bình 32 tháng (Jaksztat et al., 2021).

Làm tiến sĩ khối nhân văn có khó về đích hơn không?
Số liệu nói là có. Tỷ lệ hoàn thành sau mười năm ở Mỹ là 49% với khối nhân văn so với 64% với khối kỹ thuật (Council of Graduate Schools, 2008), và nghiên cứu sinh nhân văn ở Đức bỏ dở nhiều hơn người học khoa học tự nhiên (Jaksztat et al., 2021).

Nguồn tài trợ có thật sự làm thay đổi khả năng làm xong không?
Cả hai nghiên cứu ở châu Âu đều gắn tài trợ với chuyện về đích. Có học bổng đi cùng tỷ lệ bỏ dở thấp hơn ở Đức (Jaksztat et al., 2021), và người không có tài trợ ở Bỉ rời đi sớm hơn (Wollast et al., 2018).

Bài viết liên quan của MAAS

References

Council of Graduate Schools. (2004). Ph.D. completion and attrition: Policy, numbers, leadership, and next steps. https://cgsnet.org/wp-content/uploads/2022/01/phd_completion_and_attrition-2.pdf

Council of Graduate Schools. (2008). Ph.D. completion and attrition: Analysis of baseline demographic data from the Ph.D. Completion Project. https://cgsnet.org/wp-content/uploads/2022/01/phd_completion_and_attrition_analysis_of_baseline_demographic_data-2.pdf

Jaksztat, S., Neugebauer, M., & Brandt, G. (2021). Back out or hang on? An event history analysis of withdrawal from doctoral education in Germany. Higher Education, 82(5), 937–958. https://doi.org/10.1007/s10734-021-00683-x

Wollast, R., Boudrenghien, G., Van der Linden, N., Galand, B., Roland, N., Devos, C., De Clercq, M., Klein, O., Azzi, A., & Frenay, M. (2018). Who are the doctoral students who drop out? Factors associated with the rate of doctoral degree completion in universities. International Journal of Higher Education, 7(4), 143–156. https://doi.org/10.5430/ijhe.v7n4p143

Tools & resources

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.