Chuyên mục: admissions
Cập nhật: 23/09/2026

New Zealand là một trong rất ít nơi tính cho nghiên cứu sinh quốc tế đúng mức học phí của công dân, và phần lớn trang giới thiệu dừng lại ở câu đó. Điều họ bỏ qua là mức phí thấp ấy là một tư cách chứ không phải một khoản giảm giá: nó chỉ gắn với một loại bằng, bạn phải giữ nó bằng cách sống ở New Zealand, và tính đến tháng 8/2026 chính phủ New Zealand đã xác nhận đang rà soát chính cơ chế này.
Trả lời thẳng: Có, nếu bạn theo học Doctor of Philosophy (PhD) và sống ở New Zealand trong thời gian học. University of Auckland (n.d.-a) niêm yết học phí PhD năm 2026 là 8.847,60 NZD một năm cho cả nghiên cứu sinh quốc tế lẫn trong nước, nhưng chỉ khi bạn cư trú ở New Zealand, và tổng thời gian ở nước ngoài cho nghiên cứu được duyệt không quá 12 tháng.
Khi được hỏi đúng câu này ngày 23/09/2026, Perplexity trả lời là có, liệt kê điều kiện cư trú, và không nhắc gì tới đợt rà soát mà RNZ đưa tin ngày 04/08/2026. Chính chỗ bỏ sót đó là lý do nên đọc hết trang này trước khi lên kế hoạch nhập học năm 2027 dựa trên con số kia.
Học phí tiến sĩ ở New Zealand cho sinh viên quốc tế là bao nhiêu?
Trả lời thẳng: Với PhD thì bằng đúng mức của người New Zealand. University of Auckland thu 8.847,60 NZD một năm cho năm 2026, trong khi cùng trang đó ghi 55.408,80 NZD cho sinh viên quốc tế ở các chương trình tiến sĩ khác. Mỗi trường tự đặt mức phí, nên con số ràng buộc bạn là con số trong thư mời nhập học.
Căn cứ pháp lý của cơ chế này khá ngắn. Tertiary Education (Domestic Students) Notice 2024, đăng trên New Zealand Gazette và có hiệu lực từ 14/03/2024, liệt kê những người phải được coi như sinh viên trong nước, và trong danh sách đó có "a person who is enrolled in a Doctor of Philosophy programme at a New Zealand university" (Minister of Education, 2024). Sổ tay nghiệp vụ của Immigration New Zealand (2024) nhắc lại quy tắc này từ phía thị thực, xếp nghiên cứu sinh PhD ở bất kỳ trường đại học nào của New Zealand vào diện sinh viên trong nước về mặt học phí và miễn học phí dành cho người nước ngoài.
Chính sách này có từ lâu hơn nhiều người nghĩ và đã tạo ra tác động đo được. Nó được công bố năm 2005 và áp dụng cho nghiên cứu sinh PhD nhập học mới từ năm 2006. Parker (2008, p. 38) ghi nhận số nghiên cứu sinh tiến sĩ quốc tế tăng từ 693 năm 2005 lên 1.522 năm 2007, và cho rằng phần lớn mức tăng đến từ chính sách học phí trong nước. Hai mươi năm sau, tỷ lệ đó đã gần một nửa: RNZ (2026) đưa tin năm 2025 có 5.265 nghiên cứu sinh PhD quốc tế, tức 49% tổng số nghiên cứu sinh PhD.
Mức học phí trong nước có áp cho mọi loại bằng tiến sĩ không?
Trả lời thẳng: Không. Văn bản trên Gazette gọi đích danh Doctor of Philosophy, và các trường áp đúng phạm vi hẹp đó. Victoria University of Wellington (n.d.-a) viết rằng nghiên cứu sinh quốc tế theo học tiến sĩ chuyên nghiệp "pay international fees", còn University of Auckland thu 55.408,80 NZD năm 2026 cho Doctor of Education, Doctor of Clinical Psychology và các bằng tiến sĩ mang tên riêng khác.
Chỗ phân biệt này dễ bị bỏ qua vì các bài tóm tắt dùng chữ tiến sĩ khá lỏng. Greenberg (2018), khi viết về chiến lược phát triển đại học của New Zealand, mô tả mọi nghiên cứu sinh tiến sĩ từ nước ngoài đều được tính mức học phí trong nước, và coi đó là lợi thế cạnh tranh so với các trường Úc, nơi sinh viên quốc tế phải đóng học phí quốc tế cho bậc tiến sĩ. Văn bản chính sách hẹp hơn câu đó. Hướng dẫn về cotutelle của Victoria University of Wellington (n.d.-a, khoản 4.7) viết rằng nghiên cứu sinh quốc tế "studying for a professional doctorate pay international fees and do not attract SAC funding", và trang tài trợ của trường cũng ghi rằng sinh viên quốc tế học Doctor of Musical Arts phải đóng học phí quốc tế (Victoria University of Wellington, 2026).
Với ứng viên Việt Nam, trường hợp hay gặp nhất nằm ở ngành giáo dục và y tế. Một giáo viên hay một người làm lâm sàng chọn tiến sĩ chuyên nghiệp vì nó hợp với con đường nghề nghiệp đang đi sẽ phải đóng mức học phí gấp khoảng sáu lần PhD ở Auckland, nên việc chọn giữa hai loại bằng vừa là quyết định về chương trình học vừa là quyết định về tiền.
Bạn được ở ngoài New Zealand bao lâu mà vẫn giữ mức học phí trong nước?
Trả lời thẳng: Tổng cộng tối đa 12 tháng trong suốt khoá tiến sĩ, và chỉ cho phần nghiên cứu không thể làm ở New Zealand với mức tương đương. University of Auckland cho thêm 5 tuần nghỉ phép mỗi năm và các chuyến dự hội thảo được người hướng dẫn duyệt, đồng thời nói thẳng rằng về nước viết luận án không được tính là nghiên cứu.

Điều kiện cư trú không nằm trong văn bản trên Gazette, nên nhiều người bất ngờ khi gặp nó. Nó đến từ phía cấp kinh phí. Victoria University of Wellington (2025) giải thích rằng nghiên cứu sinh quốc tế phải cư trú ở New Zealand trong thời gian học "under Tertiary Education Commission funding rules ENR006 and ENR007", và các trường đại học "have agreed to interpret the government's funding rules" thành mức trần 12 tháng vắng mặt cho nghiên cứu được duyệt. Nói cách khác, loại bằng bạn đăng ký học biến bạn thành sinh viên trong nước, còn nơi bạn sống giữ cho bạn ở lại diện đó.
Chính sách của University of Auckland, được duyệt ngày 11/12/2023, vạch rõ các đường biên. Mức trần "cannot be pro-rated", nên dù học toàn thời gian hay bán thời gian thì vẫn là 12 tháng. Ngày phép "cannot be carried over" và không được dùng để làm luận án. Còn với câu hỏi mà phần lớn nghiên cứu sinh Việt Nam sẽ đặt ra, văn bản viết rằng "the writing up of research overseas does not meet the research requirements" (University of Auckland, 2023, khoản 5a). Quy chế tiến sĩ của Victoria University of Wellington (n.d.-b, khoản 9.2) bổ sung rằng thời gian vắng mặt trước khi được công nhận chính thức giới hạn ở 3 tháng.
Mức trần 12 tháng là chỗ một luận án về Việt Nam cần làm phép tính trước khi cần tìm người hướng dẫn. Một đề tài khoa học xã hội dựa trên phỏng vấn ở Việt Nam, một đợt khảo sát ở hai tỉnh và một chuyến quay lại để kiểm chứng kết quả có thể tiêu hết 12 tháng rất nhanh, và một chương trình cotutelle với trường Việt Nam cũng phải xếp phần thời gian ở trường đối tác vào đúng mức trần đó (Victoria University of Wellington, n.d.-a, khoản 4.8). Giai đoạn đại dịch cho thấy quy tắc này chỉ nới ra khi không thể quay lại. Qi, Skyrme và White (2024) ghi lại trường hợp các nghiên cứu sinh đăng ký học tại chỗ ở một trường đại học New Zealand bị kẹt lại Trung Quốc khi biên giới đóng năm 2020 và phải học từ xa, còn chính sách của University of Auckland (2023) xếp thời gian ở nước ngoài do hạn chế biên giới COVID-19 vào diện ngoại lệ được duyệt chứ không sửa mức trần 12 tháng.
Vượt quá giới hạn thì học phí của bạn thay đổi thế nào?
Trả lời thẳng: Bạn chuyển sang học phí quốc tế cho phần còn lại của khoá học. Chính sách của University of Auckland ghi rằng nghiên cứu sinh mất tư cách sẽ đóng học phí quốc tế tính từ ngày đến hạn của lần đóng học phí trong nước gần nhất "and for the remainder of the enrolment regardless of whether the candidate returns to New Zealand".
Quay lại New Zealand không khôi phục được tư cách đã mất, nên con số 12 tháng là một khoản ngân sách chứ không phải một lời khuyên. Khoản 8 của cùng văn bản nói tiêu chí xét tư cách do "the New Zealand Government" đặt ra và "non-negotiable" (University of Auckland, 2023), nên thiện chí của người hướng dẫn cũng không thay đổi được kết quả. Trang học phí của trường nhắc lại quy tắc này cho người nộp hồ sơ: muốn đóng học phí PhD trong nước thì "you must reside in New Zealand for the duration of your doctoral programme" (University of Auckland, n.d.-a).
Một số trường cho phép học tiến sĩ gần như hoàn toàn ở nước ngoài ngay từ đầu, nhưng theo mức giá còn lại. Hướng dẫn của Victoria University of Wellington (n.d.-c, khoản 6.1) cho nghiên cứu sinh quốc tế học ngoài New Zealand viết rằng diện này bị tính học phí quốc tế, mức mà trường mô tả là xấp xỉ bốn lần mức trong nước, và người học phải tự lo tài chính. Con đường học từ xa có tồn tại, nhưng đó là một sản phẩm khác hẳn với thứ được quảng bá ở dòng tiêu đề.
New Zealand có đang thay đổi chính sách học phí trong nước cho nghiên cứu sinh không?
Trả lời thẳng: Chính sách đang được rà soát và chưa có gì thay đổi. Theo RNZ ngày 04/08/2026, cơ chế này tốn khoảng 69 triệu NZD năm 2025, tăng gần một phần tư. Ngân sách nhà nước đã đặt trần kinh phí năm sau ở mức 56 triệu NZD của năm 2024 dưới dạng "soft cap", và Bộ trưởng Giáo dục đại học xác nhận bộ đang rà soát cơ chế này.
Các con số đằng sau đợt rà soát rất cụ thể. RNZ (2026) cho biết 80% trong số 5.265 nghiên cứu sinh PhD quốc tế năm 2025 đến từ châu Á, so với 5.390 nghiên cứu sinh tiến sĩ trong nước. Chi phí của cơ chế là 55 triệu NZD năm 2019, xuống còn hơn 43 triệu NZD năm 2022 rồi lên 56 triệu NZD năm 2024, đúng mức mà kinh phí năm sau nay bị đặt trần, và bài báo dẫn lời Bộ trưởng Penny Simmonds rằng chi phí của cách làm hiện tại "has grown by more than 20 percent a year over the past two years". Cùng bài báo viết rằng Chủ tịch Universities New Zealand, Neil Quigley, cho biết giới chức đang trao đổi với các trường đại học, "but it was not yet clear what might change or when".
Trước một đợt rà soát chưa ngã ngũ, ứng viên chỉ làm được một việc hẹp, nhưng việc đó đáng làm. Trang học phí của University of Auckland mô tả mức trong nước là dành cho "new international PhD student", và vào tháng 9/2026 trang này ghi học phí PhD quốc tế năm 2027 chỉ bằng cách dẫn về con số năm 2026. Khi chính sách mới bắt đầu, NZPA đưa tin năm 2006 rằng nó chỉ áp cho người nhập học mới, và nghiên cứu sinh quốc tế đang học ở Canterbury vẫn đóng khoảng 22.900 NZD (New Zealand Herald, 2006). Chưa ai biết một thay đổi trong tương lai có bảo vệ người đã nhập học hay không, nên bước hữu ích là hỏi trường sau đại học, bằng văn bản và trước khi nhận thư mời, rằng thư mời của bạn cam kết tư cách học phí nào cho toàn bộ khoá học.
Đóng học phí trong nước có nghĩa là tiến sĩ của bạn được tài trợ?
Trả lời thẳng: Không. Mức học phí trong nước làm giảm hoá đơn học phí, nhưng không trả đồng nào cho chi phí sinh hoạt và phí dịch vụ sinh viên. Chi phí sinh hoạt được lo riêng, bằng học bổng tiến sĩ của trường, bằng kinh phí đề tài do người hướng dẫn nắm giữ, bằng học bổng chính phủ ở trong nước, hoặc bằng tiền tiết kiệm của bạn, và mỗi nguồn có hạn nộp cùng điều kiện riêng.
Ngay cả hoá đơn học phí cũng chưa phải toàn bộ số tiền phải đóng, vì University of Auckland (n.d.-a) thu thêm phí dịch vụ sinh viên ước tính 1.132,80 NZD cho người học toàn thời gian năm 2026. Chỗ phân biệt giữa học phí và tài trợ quan trọng vì hai thứ thường được gói chung trên trang học bổng, và ở một trường thì gói đó phụ thuộc vào tư cách học phí. Học bổng tiến sĩ cho sinh viên quốc tế của University of Auckland (n.d.-b) cấp trợ cấp miễn thuế tới 35.468 NZD một năm cho năm 2026, tối đa 42 tháng học toàn thời gian, cộng học phí "for international students who are eligible to study under the domestic fees policy". Vì vậy mất tư cách có thể làm thay đổi giá trị của học bổng chứ không chỉ độ lớn của hoá đơn. Chủ tịch công đoàn Tertiary Education Union, Ti Lamusse, nói rõ mối nối này khi RNZ hỏi về đợt rà soát: nếu một khoản tài trợ có gồm học bổng cho nghiên cứu sinh thì "it's a heck of a lot more expensive if you're paying for the international fees" (RNZ, 2026). Với bạn, điều đó có nghĩa là phải đọc tư cách học phí và đề nghị tài trợ cùng lúc, vì một thứ thay đổi thì giá trị của thứ kia cũng đổi theo.
Điều này thay đổi cách bạn nộp hồ sơ vào New Zealand ra sao
Câu hỏi nên mang vào buổi trao đổi đầu tiên với một người hướng dẫn ở New Zealand không chỉ là họ có nhận bạn hay không. Câu hỏi còn là đề tài của bạn cần bao nhiêu tháng ở ngoài New Zealand, con số đó có lọt trong 12 tháng không, và thư mời nhập học bảo đảm tư cách học phí nào cho bạn nếu đợt rà soát đổi cách làm sau khi bạn đã nhập học. Một đề tài có phần thực địa chủ yếu ở New Zealand, hoặc chỉ vài tháng ở Việt Nam, hợp với cơ chế này. Một đề tài phụ thuộc vào một mùa thu thập dữ liệu dài ở trong nước, hoặc một bằng tiến sĩ chuyên nghiệp, thì cần những con số khác.
Nếu bạn vẫn đang so sánh các điểm đến, trang tài nguyên về hồ sơ tiến sĩ trình bày các con đường tuyển sinh khác nhau ra sao trước khi chuyện học phí được đặt lên bàn. Khi điểm đến đã chốt và việc tiếp theo là một đề cương có kế hoạch thực địa mà người hướng dẫn ở New Zealand chấp nhận được, MAAS đồng hành với bạn qua dịch vụ chiến lược ứng tuyển tiến sĩ: bạn tự viết đề cương và tự dự phỏng vấn, còn chuyên gia phản biện thiết kế nghiên cứu, tiến độ và độ phù hợp. Nếu mạng lưới của MAAS đã có chuyên gia phù hợp thì chúng tôi giới thiệu trong vòng 48 giờ, còn nếu chưa có thì MAAS mở một đợt tìm riêng, thường mất khoảng hai tuần.
References
Greenberg, R. D. (2018). Making universities grow: The New Zealand experience. In J. Valsiner, A. Lutsenko, & A. Antoniouk (Eds.), Sustainable futures for higher education (Cultural Psychology of Education, Vol. 7, pp. 99-107). Springer. https://doi.org/10.1007/978-3-319-96035-7_10
Immigration New Zealand. (2024). U3.35 Definition of a 'domestic student'. Operational manual. Retrieved September 23, 2026, from https://www.immigration.govt.nz/opsmanual/84134.htm
Minister of Education. (2024). Tertiary Education (Domestic Students) Notice 2024 (Notice No. 2024-go1042). New Zealand Gazette. https://gazette.govt.nz/notice/id/2024-go1042
New Zealand Herald. (2006, March 22). Plan to lure university researchers backfires. https://www.nzherald.co.nz/nz/plan-to-lure-university-researchers-backfires/5SIXHIDH2MOAMKZCOJ6FTFKLMI/
Parker, B. (2008). International education and economic transformation. Policy Quarterly, 4(3), 37-43. https://doi.org/10.26686/pq.v4i3.4266
Qi, G. Y., Skyrme, G., & White, C. (2024). Developing a distance-based doctoral supervisory model: Inquiry over disrupted trajectories. Distance Education, 45(1), 187-204. https://doi.org/10.1080/01587919.2023.2198483
RNZ. (2026, August 4). Cost blowout puts fees for foreign PhD students under review. https://www.rnz.co.nz/news/education/875736/cost-blowout-puts-fees-for-foreign-phd-students-under-review
University of Auckland. (2023). PhD domestic tuition fees policy. Retrieved September 23, 2026, from https://www.auckland.ac.nz/en/about-us/about-the-university/policy-hub/research-innovation/doctoral-study/application-candidature-registration/phd-domestic-tuition-fees-policy.html
University of Auckland. (n.d.-a). Doctoral fees. Retrieved September 23, 2026, from https://www.auckland.ac.nz/en/study/fees-and-money-matters/tuition-fees/doctoral-fees.html
University of Auckland. (n.d.-b). Doctoral scholarships for international students. Retrieved September 23, 2026, from https://www.auckland.ac.nz/en/study/scholarships-and-awards/scholarship-types/scholarships-for-international-students/doctoral-scholarships-for-international-students.html
Victoria University of Wellington. (2025). International students' information. Faculty of Graduate Research. Retrieved September 23, 2026, from https://www.wgtn.ac.nz/fgr/current-phd/international
Victoria University of Wellington. (2026). Fees, funding, and scholarships. Faculty of Graduate Research. Retrieved September 23, 2026, from https://www.wgtn.ac.nz/fgr/apply/funding
Victoria University of Wellington. (n.d.-a). Guidelines on cotutelle degrees and other doctoral study overseas. Retrieved September 23, 2026, from https://www.wgtn.ac.nz/documents/policy/academic/cotutelle-guidelines.pdf
Victoria University of Wellington. (n.d.-b). Doctoral regulations: For PhD and other doctorates with theses. Retrieved September 23, 2026, from https://www.wgtn.ac.nz/documents/policy/research-policy/doctoral-regulations.pdf
Victoria University of Wellington. (n.d.-c). Guideline for enrolment of international doctoral students who wish to undertake a doctorate offshore. Retrieved September 23, 2026, from https://www.wgtn.ac.nz/documents/policy/academic/guideline-for-enrolment-of-international-phd-students-who-are-offshore.pdf
