Skip to content
Quay lại BlogMarketing

MKTG3003: khi được phép dùng AI thì môn học còn chấm cái gì?

20 phút đọc3,863 từ

Môn Marketing Strategy ở Macquarie khá thẳng thắn về trí tuệ nhân tạo. Thay vì cấm, handbook công bố ghi rõ cách tiếp cận AI ở cả ba bài đánh giá là mở. Nghe thì nhẹ nhõm, cho tới lúc bạn nhìn kỹ các bài đánh giá ấy là gì, bởi một môn cho phép dùng AI buộc phải tìm ra thứ khác để chấm, và môn này đã tìm ra. 20% số điểm nằm ở buổi hỏi đáp ứng khẩu ngay tại lớp về một tình huống được giao, nơi không có gì chuẩn bị trước được và cũng không có khâu nộp nháp. Công cụ sinh văn bản làm được gì cho bạn thì làm, riêng chỗ đó nó không ngồi thay bạn được.

Lưu ý về mã môn: bài này viết cho môn của Macquarie. Curtin University cũng có một môn mã MKTG3003 nhưng về digital marketing và thương mại điện tử, số tín chỉ cũng khác, nên hãy kiểm tên môn trên hồ sơ đăng ký của bạn trước khi đọc tiếp.

Tác giả: Ban biên tập MAAS · Hiệu đính bởi mentor chuyên môn của MAAS
Cập nhật: 2026-08-11
Chuyên mục: marketing


Môn này được dựng ra sao?

Trả lời trực tiếp: MKTG3003 Marketing Strategy là môn 10 tín chỉ thuộc Macquarie Business School, điều kiện vào là 130 tín chỉ từ trình độ 1000 trở lên, trong đó có MKTG2002. Phần mô tả công bố lấy quy trình phân tích làm trục của môn học, tức là xác định bạn cần thông tin gì, thu thập thông tin đó, diễn giải nó, rồi dùng nó làm cơ sở cho các khuyến nghị kinh doanh.

Bằng chứng: Ba chuẩn đầu ra công bố yêu cầu bạn vận dụng kỹ năng giải quyết vấn đề để xây và truyền đạt giải pháp cho nhiều tình huống chiến lược marketing khác nhau, phân tích phản biện nền tảng lý thuyết và khái niệm của các chiến lược marketing, và phát triển cùng áp dụng chiến lược cạnh tranh cả khi làm một mình lẫn khi phối hợp. Trang handbook 2026 liệt kê ba bài đánh giá, cả ba đều ghi AI ở mức mở: bài marketing strategy challenge chiếm 40%, là dạng bài giải quyết vấn đề dựng trên mô phỏng ngành. Bài portfolio strategy in practice cũng chiếm 40%, là portfolio viết tối đa 2.000 từ rút ra từ các buổi thảo luận tình huống trên lớp. Còn bài extemporaneous strategy development chiếm 20%, là buổi hỏi đáp ứng khẩu tại lớp về một tình huống được giao, chấm cá nhân. Dạng bài và trọng số có thay đổi giữa các đợt, và cấu trúc môn này vừa đổi gần đây, nên hãy mở trang handbook đúng năm của bạn trước khi lên kế hoạch dựa vào bất kỳ con số nào ở trên.

Ví dụ: Một bạn từng làm tốt các môn marketing trước đó nhờ viết báo cáo chắc tay lại thấy buổi hỏi đáp ứng khẩu khó hơn mọi thứ đã gặp, bởi ở đó không có khâu nộp nháp và cũng không có danh sách câu hỏi trước. Thứ bạn ấy có chỉ là những gì nói ra được khi bị hỏi, cho dù phần này chỉ chiếm 20% tổng điểm.


Vì sao bài mô phỏng làm thay đổi thế nào là một câu trả lời tốt?

Trả lời trực tiếp: Bởi vì một mô phỏng biết đáp trả. Trong một bài tập thông thường, chiến lược của bạn được chấm trên mức độ lập luận chặt chẽ. Trong một mô phỏng nhiều vòng, nó còn được chấm dựa trên chuyện gì đã xảy ra khi bạn chạy nó, đúng logic Five Forces mà Porter (1979) mô tả, và điểm đến từ việc bạn làm gì với thông tin ấy chứ không phải từ chuyện quyết định đầu tiên có đúng hay không.

Vòng chạy Kiểu làm yếu Kiểu làm được điểm
Quyết định mở màn Chọn một định vị nghe cho oai Chọn định vị và ghi lại bằng chữ vì sao, trước khi có kết quả
Kết quả đầu tiên Tìm cách giải thích cho qua Hỏi xem kết quả này bác bỏ giả định nào
Các vòng giữa Đổi nhiều biến cùng lúc Đổi có chủ đích, để kết quả kế tiếp còn diễn giải được
Báo cáo cuối Kể lại từng vòng theo thứ tự Giải thích chuỗi vòng chạy đã hé lộ điều gì về thị trường

Bằng chứng: Phần mô tả của môn đặt quy trình phân tích vào trung tâm, tức là việc thu thập và diễn giải thông tin chứ không phải sự bóng bẩy của một bản kế hoạch. Một báo cáo thuật lại nhóm đã làm gì là bản mô tả một quy trình. Một báo cáo giải thích mỗi vòng đã dạy nhóm điều gì và chiến lược đổi ra sao để đáp lại mới là bản phân tích quy trình đó, và chỉ bản thứ hai chứng minh được chuẩn đầu ra về phát triển và áp dụng chiến lược cạnh tranh.

Ví dụ: Hai nhóm kết thúc mô phỏng với thị phần xấp xỉ nhau. Nhóm thứ nhất viết lại các quyết định theo trình tự thời gian rồi kết luận rằng chiến lược của họ đã hiệu quả. Nhóm thứ hai chỉ ra đúng vòng mà giả định về giá của họ đổ vỡ, cho thấy họ suy ra được gì từ phản ứng của đối thủ, và giải thích thay đổi diễn ra sau đó. Nhóm thứ hai có vị thế giữa chặng tệ hơn nhưng báo cáo tốt hơn, đúng phân biệt hiệu quả vận hành và chiến lược mà Porter (1996) từng lập luận.


Bài hỏi đáp ứng khẩu thật ra kiểm tra điều gì?

Trả lời trực tiếp: Xem bạn còn hiểu tới đâu khi va phải một câu hỏi mình không chuẩn bị trước, một khoảng cách mà Rozenblit và Keil (2002) mô tả rất rõ. Phân tích đã soạn sẵn và phân tích bảo vệ được là hai thứ khác nhau, còn hình thức này, chiếm 20% điểm môn, được thiết kế để phân biệt chúng.

Bằng chứng: Có một lý do đã được ghi nhận rõ khiến hình thức này lộ ra nhiều đến vậy. Rozenblit và Keil (2002) gọi thẳng tên hiện tượng này: "people feel they understand complex phenomena with far greater precision, coherence, and depth than they really do" (Rozenblit & Keil, 2002, p. 521). Ảo tưởng ấy sụp đổ đúng vào lúc con người được yêu cầu đưa ra một lời giải thích thay vì nêu lại một dữ kiện. Phát hiện của họ là khoảng cách này lớn hơn hẳn ở tri thức giải thích so với tri thức về sự kiện hay quy trình. Chiến lược marketing gần như hoàn toàn là tri thức giải thích, và đó là lý do một bạn có thể đọc xong một tình huống, thấy mình đã hiểu, rồi không nói được vì sao phương án này trội hơn phương án kia khi bị hỏi thẳng.

Ví dụ: Một bạn đọc một tình huống ba lượt và tóm tắt được tình thế của doanh nghiệp rất trôi chảy. Khi được hỏi sẽ từ bỏ phân khúc nào trong hai phân khúc và vì sao, bạn ấy khựng lại, rồi bảo vệ đáp án mình vốn mặc định chứ không phải đáp án mình đã lập luận ra. Khoảng cách ở đây không nằm ở sự chăm chỉ, mà đúng như Rozenblit và Keil (2002) mô tả, nó nằm ở chỗ ảo tưởng về chiều sâu giải thích chỉ lộ ra khi bị hỏi thẳng. Bạn ấy chưa từng thử nói nó thành lời.

Cách chuẩn bị: trước mỗi tình huống, viết một câu nêu khuyến nghị bạn sẵn sàng bảo vệ, và một câu nữa nêu lập luận phản bác mạnh nhất. Rồi nói cả hai thành tiếng mà không nhìn giấy. Việc này tốn vài phút và là bản diễn tập gần nhất với nhiệm vụ đang được chấm.


Chữ chiến lược hay bị dùng sai ở chỗ nào?

Trả lời trực tiếp: Khi một danh sách hoạt động được trình bày như thể nó là chiến lược. Đây là lỗi nội dung phổ biến nhất trong bài marketing năm ba, và nó đắt vì đụng thẳng vào chuẩn đầu ra về phân tích phản biện nền tảng khái niệm của chiến lược.

Bằng chứng: Porter (1996) vạch ra sự phân biệt tới nay vẫn tổ chức cả lĩnh vực này, khi lập luận rằng hiệu quả vận hành, tức làm các hoạt động tương tự tốt hơn đối thủ, không phải là chiến lược, còn chiến lược nằm ở việc chủ động chọn một tập hoạt động khác đi để mang lại một tổ hợp giá trị riêng. Phép thử thực dụng đi ra từ đó: một chiến lược đúng nghĩa luôn hàm ý những việc bạn đã chọn không làm. Nếu một khuyến nghị mà mọi đối thủ đều có thể áp dụng mà không mâu thuẫn gì, thì nó đang mô tả năng lực chứ không mô tả vị thế.

Ví dụ: Khuyến nghị tăng tương tác mạng xã hội, đầu tư chăm sóc khách hàng và làm mới bao bì là ba hoạt động hợp lý. Được hỏi doanh nghiệp chọn không theo đuổi điều gì để đổi lấy chúng, bạn sinh viên không trả lời được, và chính chỗ đó định vị đúng vấn đề. Thêm một đánh đổi, rằng thương hiệu sẽ bỏ phân khúc nhạy giá để lấy ngân sách nuôi chất lượng dịch vụ, đã biến một danh sách thành một vị thế, đúng phép thử mà Porter (1996) đề ra.


Khung phân tích nào đứng sau bài mô phỏng

Trả lời trực tiếp: Mô phỏng ngành dựa ngầm vào bốn khung quen thuộc: Five Forces của Porter (1979) giải thích phản ứng của đối thủ, ma trận tăng trưởng bốn hướng của Ansoff (1957) giải thích lựa chọn mở rộng, lập luận về nguồn lực hiếm và khó bắt chước của Barney (1991) giải thích lợi thế bền vững, còn khung STP định hình phần lớn khuyến nghị trong bài portfolio.

Mô phỏng ngành của MKTG3003 không kiểm bạn nhớ tên mô hình, nhưng vẫn giả định bạn cầm sẵn một bộ khung quen thuộc để đọc dữ liệu ra quyết định. Porter (1979) mô tả năm lực cạnh tranh định hình một ngành trên Harvard Business Review, và khung Five Forces đó vẫn là điểm khởi đầu hợp lý để giải thích vì sao một phản ứng của đối thủ lại xảy ra. Ansoff (1957), cũng trên Harvard Business Review, đưa ra ma trận tăng trưởng gồm bốn hướng thâm nhập thị trường, phát triển thị trường, phát triển sản phẩm và đa dạng hoá, hữu ích khi báo cáo cuối kỳ phải giải thích vì sao nhóm chọn hướng mở rộng này chứ không phải hướng khác. Barney (1991) lập luận trên Journal of Management rằng lợi thế cạnh tranh bền vững đến từ nguồn lực hiếm, có giá trị và khó bắt chước, một lăng kính khác để trả lời câu hỏi vì sao đối thủ không thể sao chép ngay chiến lược của nhóm bạn trong vòng kế tiếp. Boston Consulting Group (BCG) phát triển ma trận thị phần tăng trưởng cùng thời kỳ, và dù không nằm trong đề cương, nó vẫn là cách nhanh để nhóm tự hỏi nên dồn ngân sách mô phỏng vào đâu. Nhiều nhóm còn mở đầu báo cáo bằng SWOT (Strengths, Weaknesses, Opportunities and Threats) hoặc PESTLE (Political, Economic, Social, Technological, Legal and Environmental) trước khi bước vào Five Forces hay STP, dù đề cương không đòi bất kỳ khung nào trong số đó.

STP, viết tắt của Segmentation, Targeting và Positioning, là khung nền cho phần lớn khuyến nghị trong bài portfolio. Wind (1978) chỉ ra trên Journal of Marketing Research rằng chọn sai biến phân khúc làm hỏng toàn bộ chuỗi quyết định phía sau nó, kể cả khi phần định vị được viết khéo léo. Một khuyến nghị định vị tách rời khỏi phần phân khúc đã chọn thường là dấu hiệu đầu tiên cho thấy nhóm đang mô tả một mong muốn chứ không phải một chiến lược.

Bên cạnh các khung học thuật kể trên, một số nhóm còn mượn thêm công cụ thực hành quen thuộc trong ngành: mô hình AIDA (Attention, Interest, Desire and Action) để mô tả hành trình khách hàng, khung RACE (Reach, Act, Convert and Engage) cho kế hoạch digital marketing, mục tiêu SMART (Specific, Measurable, Achievable, Relevant and Time-bound) để đo kết quả, và khung VRIO (Value, Rarity, Imitability and Organization) để kiểm nguồn lực theo đúng lập luận của Barney. Marketing mix bốn chữ P, tức Product, Price, Place and Promotion do McCarthy (1960) đề xuất, vẫn là nơi nhiều nhóm bắt đầu mô tả chiến thuật trước khi nối nó về lại phần định vị. Một số nhóm còn tóm định vị bằng một USP (Unique Selling Proposition) ngắn gọn, gắn thêm vài KPI (Key Performance Indicators) cụ thể và ước tính ROI (Return on Investment) sơ bộ, dù không khung nào trong ba khung này là yêu cầu bắt buộc của bài. Nếu chiến lược có phần giữ chân khách hàng, một hệ CRM (Customer Relationship Management) đôi khi được nhắc tới như công cụ vận hành phía sau khuyến nghị, cùng với chỉ số NPS (Net Promoter Score) và chỉ số CLV (Customer Lifetime Value) để theo dõi mức hài lòng và giá trị khách hàng theo thời gian.


Nên làm bài portfolio viết thế nào?

Trả lời trực tiếp: Coi nó là một lập luận dựng lên từ các buổi thảo luận tình huống, chứ không phải một tập ghi chép được dọn cho gọn. Portfolio giới hạn 2.000 từ và chiếm 40%, tức là phần viết lớn nhất của cả môn, và cũng là chỗ mà thói quen tóm tắt phải trả giá đắt nhất.

Cái bẫy nằm ngay ở cấu trúc. Một portfolio rút ra từ thảo luận trên lớp sẽ mời gọi bạn ghi lại những gì đã được nói, mà một bản ghi lại buổi thảo luận thì không phải một bài phân tích tình huống, đúng phân biệt mà Porter (1996) từng nêu giữa mô tả và lập luận. Điểm nằm ở chỗ bạn kết luận điều gì và vì sao, kể cả chỗ bạn đổi ý sau khi nghe một lập luận mình chưa nghĩ tới.

Bằng chứng: Cả ba bài đánh giá của môn đều ghi AI ở mức mở, và đây là bài mà điều đó có sức nặng nhất, bởi nó là sản phẩm viết đáng kể duy nhất. Được phép dùng một công cụ không đồng nghĩa với được phép nộp sản phẩm của nó như thể đó là lập luận của bạn, và môn học được dựng sao cho chính dòng suy nghĩ ấy bị kiểm lại lần nữa trong một căn phòng không có công cụ nào. Một bài portfolio mà bạn không bảo vệ được bằng lời là gánh nặng chứ không phải tài sản.

Ví dụ: Một mục portfolio tóm tắt lại buổi tranh luận trên lớp về một tình huống định giá và ghi rằng nhóm đã cân nhắc nhiều góc nhìn. Một mục khác nêu lập trường về quyết định giá ấy, đưa ra hai con số dẫn tới lập trường đó, và ghi lại rằng ý kiến của một bạn cùng lớp về chi phí chuyển đổi đã kéo người viết từ quan điểm này sang quan điểm kia. Mục thứ hai ngắn hơn và đáng giá hơn nhiều, dù cả hai đều nằm trong cùng giới hạn 2.000 từ của bài chiếm 40% tổng điểm.


Sinh viên quốc tế hay mất điểm ở đâu?

Trả lời trực tiếp: Ở phần làm nhóm và phần nói, chứ không phải phần viết, và thường vì những lý do chẳng liên quan gì tới chất lượng tư duy của các bạn.

Kiểu diễn biến khá quen thuộc. Một bạn viết tốt sẽ nhận phần ghi chép hoặc trình bày hình thức trong nhóm, ít góp lời trong thảo luận, rồi bị chấm chính trên khả năng phối hợp và khả năng bảo vệ phân tích bằng lời. Các bài công bố cố ý trộn phần cá nhân với phần nhóm, nên đóng góp lặng lẽ không phải chỗ trú an toàn. Nhận hẳn trách nhiệm một phần trong bài phân tích và làm người trình bày chính phần đó là con đường chắc chắn hơn so với việc âm thầm làm nhiều hơn, nhất là khi phần ứng khẩu cá nhân và portfolio cá nhân đã cộng lại thành 60% điểm môn.

Kiểu thứ hai nằm ở văn phong. Khuyến nghị chiến lược được viết với mức độ chắc chắn đã hiệu chỉnh, chẳng hạn the evidence supports, this suggests, on the available data, the risk of this approach is. Một khuyến nghị nêu như chân lý sẽ khiến người chấm đi tìm cái ngoại lệ bạn không viết ra, còn một khuyến nghị tự gọi tên rủi ro của mình thì khó bắt bẻ hơn nhiều, và nó cũng đúng tinh thần đánh đổi mà Porter (1996) coi là cốt lõi của chiến lược.

Một lưu ý về thuật ngữ: hãy giữ nguyên thuật ngữ tiếng Anh và dùng cho hẹp. Positioning, segmentation, value proposition và differentiation không phải từ đồng nghĩa của nhau, đúng ba khâu Segmentation, Targeting và Positioning mà khung STP của Wind (1978) tách bạch, và dùng chúng lỏng lẻo sẽ bị đọc là thiếu chính xác về khái niệm chứ không phải vấn đề ngoại ngữ.


Mentor MAAS thực sự làm gì với một môn như thế này?

Trả lời trực tiếp: MAAS làm cố vấn học thuật, diễn tập và chất vấn chứ không biên tập câu chữ. Mentor yêu cầu bạn bảo vệ khuyến nghị khi không cầm giấy, kiểm xem chiến lược có chứa một đánh đổi thật, xem báo cáo mô phỏng đang giải thích các vòng chạy hay chỉ liệt kê, và xem mục portfolio đang nêu lập trường hay chỉ ghi lại một buổi thảo luận.

MAAS làm việc với vai trò cố vấn học thuật. Với một môn chấm qua mô phỏng, một portfolio viết và một buổi ứng khẩu, phần việc có ích là diễn tập và chất vấn chứ không phải biên tập câu chữ. Mentor sẽ yêu cầu bạn bảo vệ một khuyến nghị khi không cầm giấy rồi ấn vào mắt xích yếu nhất, kiểm xem thứ bạn đang gọi là chiến lược có chứa một đánh đổi thật hay không, xem báo cáo mô phỏng của bạn đang giải thích các vòng chạy hay mới chỉ liệt kê chúng, và đọc một mục portfolio để xem nó đang nêu lập trường hay mới chỉ ghi lại một buổi thảo luận. Bạn tự ra quyết định trong mô phỏng, tự nói tiếng nói của mình trên lớp và tự nộp bài của mình, dù mentor có nhắc lại phân biệt của Porter (1996) hay khung STP của Wind (1978) để chỉ đúng chỗ lập luận đang hụt.


Câu hỏi thường gặp

Bài này viết cho trường nào?
Macquarie University, nơi MKTG3003 là Marketing Strategy, môn 10 tín chỉ thuộc Macquarie Business School. Curtin University dùng cùng mã cho một môn về digital marketing và thương mại điện tử với số tín chỉ khác, nên hãy xác nhận tên môn trên hồ sơ đăng ký.

Điều kiện tiên quyết là gì?
Đợt học được công bố yêu cầu 130 tín chỉ từ trình độ 1000 trở lên, trong đó có MKTG2002. Điều kiện có được rà soát lại theo kỳ, nên hãy kiểm hồ sơ của chính bạn.

Có được dùng AI không?
Trang handbook 2026 ghi cả ba bài đánh giá đều ở mức mở với AI, nhưng đó là thông tin của một năm chứ không phải quy định vĩnh viễn, và mức cho phép khác nhau giữa từng môn và từng kỳ. Hãy luôn theo đúng phần khai báo về AI trong unit guide của chính bạn, và lưu ý rằng được phép dùng một công cụ không đồng nghĩa với được phép nộp sản phẩm của nó như thể đó là lập luận của bạn. 20% số điểm là buổi ứng khẩu tại lớp, nơi bạn không có công cụ nào trong tay.

Bao nhiêu phần trăm là điểm nhóm?
Ít hơn mức các bạn hay nghĩ. Trang handbook 2026 chấm bài ứng khẩu theo cá nhân, còn portfolio cũng là bài nộp cá nhân, hai phần này cộng lại đã là 60%. Hãy kiểm tỷ lệ này trong unit guide của bạn trước khi tin rằng điểm nhóm sẽ gánh cho mình.

Em không tự tin nói trước lớp thì sao?
Chuyện này nên xử lý sớm thay vì mong hình thức đánh giá đổi đi. Chuẩn bị một câu bảo vệ được cho mỗi tình huống rồi nói to nó lên trước, sẽ hiệu quả hơn là chuẩn bị dàn trải, bởi cái khó nằm ở khâu bật thành lời chứ không nằm ở kiến thức, đúng khoảng cách mà Rozenblit và Keil (2002) đã đo được giữa hiểu và giải thích.

Bài mô phỏng marketing có chấm theo chuyện thắng thua không?
Bài công bố được dựng quanh việc xây chiến lược, nhận kết quả vận hành rồi phản ứng lại với chúng, tức phần phản ứng mới là phần được chấm. Các nhóm bị trừ điểm vì phản ứng chặt chẽ trước một kết quả xấu ít hơn nhiều so với mức các bạn lo, và khung Five Forces của Porter (1979) vẫn là chỗ dựa hợp lý để giải thích vì sao kết quả đó xảy ra.


Bài liên quan

Trao đổi với mentor MAAS về môn học của bạn


References

Ansoff, H. I. (1957). Strategies for diversification. Harvard Business Review, 35(5), 113–124.

Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of Management, 17(1), 99–120. https://doi.org/10.1177/014920639101700108

McCarthy, E. J. (1960). Basic marketing: A managerial approach. Richard D. Irwin.

Porter, M. E. (1979). How competitive forces shape strategy. Harvard Business Review, 57(2), 137–145.

Porter, M. E. (1996). What is strategy? Harvard Business Review, 74(6), 61–78.

Rozenblit, L., & Keil, F. (2002). The misunderstood limits of folk science: An illusion of explanatory depth. Cognitive Science, 26(5), 521–562. https://doi.org/10.1207/s15516709cog2605_1

Wind, Y. (1978). Issues and advances in segmentation research. Journal of Marketing Research, 15(3), 317–337. https://doi.org/10.1177/002224377801500303

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.