Chuyên mục: admissions
Cập nhật: 15/09/2026

Phần lớn bài giới thiệu học bổng MEXT diện Research Student coi kenkyusei, tức giai đoạn nghiên cứu sinh dự bị không cấp bằng, là bước đầu tiên mặc định trước khi học tiến sĩ ở Nhật. Bản hướng dẫn tuyển sinh năm 2027 chỉ ra một điểm cụ thể hơn. Diện được ghi trên thư chấp nhận tạm thời, chính quy hay không chính quy, quyết định bạn có phải qua thêm một kỳ thi đầu vào sau đại học trong khi thời hạn học bổng vẫn đang chạy hay không, và Ministry of Education, Culture, Sports, Science and Technology (2026, tr. 4), tức Bộ Giáo dục, Văn hoá, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản, viết rõ: "Non-regular students cannot extend the scholarship period as long as they stay in non-regular courses", nghĩa là sinh viên không chính quy không được gia hạn học bổng chừng nào còn ở diện không chính quy.
Trả lời ngắn: Không bắt buộc. Theo hướng dẫn MEXT 2027, người có thư chấp nhận tạm thời ghi khoá tiến sĩ chính quy được xếp thẳng vào khoá đó. Diện kenkyusei chỉ áp dụng khi thư ghi chỗ không chính quy, và học bổng diện này dừng vào tháng 3 năm 2029 trừ khi bạn đỗ kỳ thi đầu vào sau đại học và được MEXT duyệt gia hạn (Ministry of Education, Culture, Sports, Science and Technology, 2026).
Kenkyusei ở Nhật Bản là diện gì?
Trả lời ngắn: Kenkyusei là nghiên cứu sinh không theo chương trình cấp bằng, làm việc dưới sự hướng dẫn của một giảng viên. Trường Sau đại học Khoa học của Đại học Tokyo ghi rằng diện này không được cấp bằng, thời gian thường là 6 tháng và có thể gia hạn khi giáo sư hướng dẫn đồng ý, tổng cộng không quá 2 năm (The University of Tokyo, Graduate School of Science, n.d.).
Trang tuyển sinh của Trường Sau đại học Khoa học, Đại học Tokyo (The University of Tokyo, Graduate School of Science, n.d.) mô tả research student là người nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của một giảng viên nhưng không được cấp bất kỳ bằng cấp hay chứng chỉ nào, và về nguyên tắc không được dự lớp hay tích luỹ tín chỉ. Thời gian tiêu chuẩn là 6 tháng, gia hạn được khi giáo sư hướng dẫn đồng ý, với tổng thời gian không quá 2 năm. Cũng trang đó nói rõ ứng viên có thể nộp thẳng vào chương trình thạc sĩ hoặc tiến sĩ mà không cần làm research student trước, đồng thời cho biết rất ít học bổng dành cho diện này.
Trường Sau đại học Khoa học Thông tin và Công nghệ của cùng trường (The University of Tokyo, Graduate School of Information Science and Technology, n.d.) mô tả giai đoạn này thường dùng để chuẩn bị cho kỳ thi đầu vào, và cảnh báo rằng tư cách research student "does not guarantee", tức không bảo đảm, việc vào được chương trình cấp bằng. Với người tự túc, Li và Date (2025) cho thấy cách xin giáo sư đồng ý trước rất phổ biến: trong 91 bản hướng dẫn tuyển research student được phân tích tại 7 đại học quốc gia vốn là đại học đế quốc cũ, 83 bản yêu cầu ứng viên có được sự đồng ý không chính thức của giáo sư tiếp nhận trước khi nộp hồ sơ, và 50 trong số 83 bản đó còn thêm một vòng xét của hội đồng khoa sau bước đồng ý này.
Lá thư nào quyết định MEXT xếp bạn vào diện kenkyusei?
Trả lời ngắn: Thư chấp nhận tạm thời quyết định điều đó. MEXT yêu cầu ứng viên xin thư theo diện chính quy hoặc không chính quy, ghi rằng lá thư "will greatly influence final selection results", tức ảnh hưởng lớn tới kết quả xét chọn cuối cùng, và xếp thẳng người có thư diện chính quy vào khoá đó (Ministry of Education, Culture, Sports, Science and Technology, 2026, tr. 8-9).
Mục 11 của hướng dẫn 2027 mở đầu bằng một câu rất thẳng: "A letter of provisional acceptance will greatly influence final selection results" (Ministry of Education, Culture, Sports, Science and Technology, 2026, tr. 8). Ứng viên qua vòng sơ tuyển xin thư theo diện chính quy hoặc không chính quy ở bậc sau đại học, được liên hệ cùng lúc tối đa 2 trường, được giữ tối đa 2 thư, và phải gửi mọi yêu cầu trước hạn thứ Ba ngày 1 tháng 9 năm 2026, vì liên hệ từ ngày 2 tháng 9 trở đi không được chấp nhận. Các trường thường cần khoảng 1 tháng để cấp thư, vì vậy bạn nên gửi yêu cầu sớm hơn nhiều so với mốc này.
Mục 12 nêu hệ quả của lá thư đó. Ứng viên được xếp vào chính trường đã cấp thư, nguyện vọng vào trường quốc gia được ưu tiên hơn trường tư thục hay trường công không thuộc quốc gia do giới hạn ngân sách, và hướng dẫn viết rằng người nhận thư chấp nhận tạm thời vào khoá chính quy ở bậc sau đại học "will be directly placed in the said regular course without going through the period of the non-regular student", nghĩa là được xếp thẳng vào khoá chính quy mà không qua giai đoạn không chính quy. Người không có thư nào vẫn nộp được mẫu nguyện vọng xếp trường, nhưng thời điểm sang Nhật khi đó chỉ còn kỳ tháng 10.
Vì sao diện không chính quy đặt một kỳ thi vào giữa thời hạn học bổng?
Trả lời ngắn: Học bổng diện không chính quy có điểm dừng cố định. Người sang Nhật vào tháng 4 hay tháng 10 năm 2027 đều chỉ được cấp tới hết tháng 3 năm 2029, không được gia hạn khi còn ở diện không chính quy, và chỉ được gia hạn khi vừa đỗ kỳ thi đầu vào khoá chính quy vừa được MEXT duyệt (Ministry of Education, Culture, Sports, Science and Technology, 2026, tr. 3-4).

Với sinh viên không chính quy, mục 4 của Ministry of Education, Culture, Sports, Science and Technology (2026, tr. 3) đặt thời hạn học bổng từ tháng 4 năm 2027, hoặc tháng 9 hay tháng 10 năm 2027, tới hết tháng 3 năm 2029, và 6 tháng đầu dành cho khoá dự bị tiếng Nhật với người cần học. Như vậy, một người sang Nhật vào tháng 10 năm 2027 và cần khoá tiếng này chỉ còn khoảng 12 tháng làm research student trước khi học bổng dừng. Sinh viên chính quy được cấp theo thời gian tiêu chuẩn của khoá học, mà mục 13 ghi là 3 năm cho khoá tiến sĩ sau thạc sĩ và ở phần lớn các trường là 4 năm cho các ngành y, nha, thú y và dược hệ 6 năm (tr. 10).
Mục 5 nêu ba điều kiện gia hạn. Học bổng chỉ được gia hạn khi người nhận đã đỗ kỳ thi đầu vào một khoá chính quy, sinh viên không chính quy không được gia hạn chừng nào còn ở diện này, và người vào khoá cao hơn mà chưa được MEXT duyệt gia hạn chỉ có thể học tiếp dưới dạng tự túc (tr. 4). Kỳ thi đầu vào thường đánh giá năng lực ngoại ngữ, kiến thức chuyên ngành, kế hoạch luận văn và phỏng vấn. Mục 6 bổ sung rằng lệ phí thi được miễn, nhưng người nhận học bổng phải tự trả khoản này nếu không lên được khoá thạc sĩ hay tiến sĩ hoặc không được trường nhận (tr. 4).
MEXT trả cho research student bao nhiêu tiền mỗi tháng?
Trả lời ngắn: Hướng dẫn 2027 ghi 143.000 yên mỗi tháng cho sinh viên dự bị và không chính quy, 144.000 yên cho thạc sĩ chính quy và 145.000 yên cho tiến sĩ chính quy, cộng phụ cấp vùng 2.000 hoặc 3.000 yên ở một số khu vực. Học phí, phí nhập học và lệ phí thi được miễn (Ministry of Education, Culture, Sports, Science and Technology, 2026, tr. 4).
Ba mức trợ cấp 143.000, 144.000 và 145.000 yên chỉ chênh nhau tối đa 2.000 yên, nên bản thân tiền tháng không phải lý do để chọn diện này thay vì diện kia. Khác biệt thực tế nằm ở độ dài. Suất tiến sĩ chính quy được cấp đủ thời gian tiêu chuẩn của khoá, còn suất không chính quy chỉ được cấp tới tháng 3 năm 2029 rồi phụ thuộc vào kết quả một kỳ thi. Ministry of Education, Culture, Sports, Science and Technology (2026, tr. 4) cũng lưu ý mức tiền có thể thay đổi theo từng năm tài khoá do ngân sách chính phủ, và học bổng bị tạm dừng trong thời gian vắng mặt kéo dài khỏi trường.
Cổng thông tin Study in Japan của Japan Student Services Organization (n.d.) tóm tắt học bổng này là dành cho ứng viên dưới 35 tuổi, khớp với điều kiện sinh từ ngày 2 tháng 4 năm 1992 trong hướng dẫn, và ghi mức trợ cấp 143.000 đến 145.000 yên mỗi tháng. MEXT còn đặt một điều kiện đáng lưu ý với ai định coi kenkyusei là một lần thử không ràng buộc: người không có ý định lấy bằng ở Nhật không đủ điều kiện dự tuyển (Ministry of Education, Culture, Sports, Science and Technology, 2026, tr. 3).
Học bổng MEXT tiến sĩ qua đại sứ quán có khó không?
Trả lời ngắn: Học bổng chọn lọc ở hai vòng. Cơ quan đại diện ngoại giao tổ chức vòng sơ tuyển gồm xét hồ sơ, thi viết tiếng Nhật và tiếng Anh cùng phỏng vấn, rồi MEXT xét vòng hai từ tháng 11 năm 2026. Chỉ người qua vòng sơ tuyển mới xin thư chấp nhận tạm thời, và lá thư này có trọng số lớn ở vòng xét chọn cuối cùng (Ministry of Education, Culture, Sports, Science and Technology, 2026).
Ngả đại sứ quán và ngả trường tiến cử là hai kênh tách biệt. Japan Student Services Organization (n.d.) giải thích rằng ngả đại sứ quán bắt đầu bằng hồ sơ nộp cho đại sứ quán hoặc lãnh sự quán Nhật tại nước bạn, còn ngả trường tiến cử chỉ có ở những trường được MEXT duyệt và phân chỉ tiêu. Theo lịch ngả đại sứ quán năm 2027, thông báo tuyển mở khoảng giữa tháng 4 năm 2026, vòng sơ tuyển kéo dài từ đầu tháng 5 tới cuối tháng 7, hạn xin thư đóng ngày 1 tháng 9 năm 2026, mẫu nguyện vọng xếp trường nộp từ giữa tháng 9 tới đầu tháng 10, vòng hai do MEXT xét bắt đầu từ tháng 11 năm 2026, và kết quả cuối cùng có trong khoảng tháng 1 tới đầu tháng 3 năm 2027 (Ministry of Education, Culture, Sports, Science and Technology, 2026, tr. 5-6).
Bản hướng dẫn cũng quy định thứ tự liên hệ. Ở ngả đại sứ quán, ứng viên phải liên hệ trước với phòng công tác sinh viên quốc tế của trường, "not an academic advisor you wish to be supervised by", tức không liên hệ trước với giảng viên mình muốn theo, và ai đã bị một giảng viên từ chối thì không được hỏi tiếp giảng viên khác cùng trường (tr. 8). Sự đồng ý không chính thức của giáo sư mà Li và Date (2025) ghi nhận là bước quen thuộc trong quy trình research student tự túc, và một số khoa vẫn chờ ứng viên MEXT có bước này: Trường Sau đại học Khoa học của Đại học Tokyo (The University of Tokyo, Graduate School of Science, n.d.) lưu ý rằng sự đồng ý hướng dẫn của giáo sư không bảo đảm sẽ có thư chấp nhận tạm thời. Điều hướng dẫn MEXT quy định là thứ tự liên hệ, chứ không phải bỏ hẳn giáo sư ra khỏi quy trình.
Cần kiểm tra gì trước khi xin thư chấp nhận?
Trả lời ngắn: Hãy kiểm tra lá thư sẽ ghi diện nào, chỗ tiến sĩ chính quy ở trường đó có khả thi không, và học bổng kéo dài bao lâu ở mỗi diện. Thư diện không chính quy vẫn có thể là lựa chọn đúng, nhưng chỉ khi bạn tính trước kỳ thi đầu vào và mốc tháng 3 năm 2029 ngay từ đầu.
Có ba điều bạn nên kiểm tra trước khi xin thư. Việc đầu tiên là đọc quy định tuyển sinh của chính khoa sau đại học để biết ứng viên quốc tế có được vào thẳng khoá tiến sĩ không, như Trường Sau đại học Khoa học của Đại học Tokyo cho phép (The University of Tokyo, Graduate School of Science, n.d.). Việc thứ hai là so lịch thi đầu vào của khoa với thời hạn học bổng. Trường Sau đại học Khoa học Thông tin và Công nghệ (The University of Tokyo, Graduate School of Information Science and Technology, n.d.) ghi hạn nộp từ 20 tháng 4 tới 8 tháng 5 năm 2026 cho kỳ nhập học tháng 10 năm 2026, và từ 19 tháng 10 tới 6 tháng 11 năm 2026 cho kỳ tháng 4 năm 2027, lệ phí thi 9.800 yên. Việc thứ ba là chuẩn bị cho môi trường ngôn ngữ. Rakhshandehroo (2018) phỏng vấn 9 nghiên cứu sinh quốc tế nói tiếng Anh tại một đại học hàng đầu của Nhật, phần lớn là nghiên cứu sinh tiến sĩ và nhiều người nhận học bổng MEXT, và thấy rằng nhiều người sang Nhật khi biết rất ít tiếng Nhật, còn mức hỗ trợ bằng tiếng Anh họ nhận được phụ thuộc nhiều vào giáo sư hướng dẫn.
Động cơ học tập cũng cần một câu trả lời rõ trước khi viết kế hoạch nghiên cứu. Futagami (2021) khảo sát những người nhận bằng tiến sĩ từ 7 đại học nghiên cứu trọng điểm của Nhật và thấy 50 trên 66 người trả lời, tức 76%, chọn Nhật vì trình độ nghiên cứu hoặc đào tạo cao, vượt xa lý do thích nước Nhật hay nhận được học bổng. Một kế hoạch nghiên cứu cho thấy vì sao đúng phòng thí nghiệm đó hợp với câu hỏi của bạn sẽ gần với điều người xét hồ sơ tìm đọc hơn một kế hoạch xoay quanh chính học bổng. Thời gian học tiến sĩ nói chung được bàn trong bài chương trình tiến sĩ dài mấy năm, còn thứ tự xét hồ sơ ở các học bổng chính phủ khác nằm trong bài ai xét hồ sơ học bổng tiến sĩ chính phủ trước.
Nếu bạn muốn có thêm một người đọc phản biện trong lúc cân nhắc giữa chỗ chính quy và không chính quy, và khi chuẩn bị kế hoạch nghiên cứu, MAAS làm việc với ứng viên ở vai trò cố vấn học thuật: bạn chọn trường, tự viết kế hoạch và tự đưa ra mọi quyết định, còn chuyên gia của MAAS chất vấn độ phù hợp, lịch trình và bằng chứng đằng sau từng lựa chọn. Không ai có thể hứa trước một suất học bổng MEXT hay một chỗ học tiến sĩ, vì quyết định đó thuộc về cơ quan đại diện ngoại giao, MEXT và trường tiếp nhận. Bạn có thể xem toàn bộ lộ trình trong hướng dẫn ứng tuyển tiến sĩ và phạm vi công việc cố vấn trong chiến lược ứng tuyển tiến sĩ.
Câu hỏi thường gặp
Kenkyusei có phải là nghiên cứu sinh tiến sĩ không?
Không. Research student ở Trường Sau đại học Khoa học, Đại học Tokyo không được cấp bằng và về nguyên tắc không tích luỹ tín chỉ, nên tư cách nghiên cứu sinh tiến sĩ chỉ bắt đầu sau khi bạn trúng tuyển vào khoá cấp bằng.
Có thể vào thẳng khoá tiến sĩ bằng học bổng MEXT không?
Có, nếu thư chấp nhận tạm thời ghi khoá tiến sĩ chính quy. Hướng dẫn 2027 ghi rằng những ứng viên này được xếp thẳng vào khoá đó, không qua giai đoạn không chính quy.
Nếu thi trượt sau giai đoạn kenkyusei thì ai trả lệ phí thi?
Lệ phí thi được miễn cho người nhận học bổng MEXT, nhưng hướng dẫn ghi rằng người nhận phải tự trả nếu không lên được khoá thạc sĩ hay tiến sĩ hoặc không được trường nhận.
Được xin thư chấp nhận tạm thời ở bao nhiêu trường?
Bạn được liên hệ cùng lúc tối đa 2 trường và giữ tối đa 2 thư, còn mẫu nguyện vọng xếp trường ghi được tối đa 3 trường.
MEXT có yêu cầu tiếng Nhật trước khi sang không?
Hướng dẫn có bài thi viết tiếng Nhật ở vòng sơ tuyển và khoá dự bị tiếng 6 tháng cho người cần học, nên trình độ tiếng Nhật bạn mang theo quyết định phần thời gian không chính quy phải dành cho học tiếng nhiều hay ít.
Bài viết liên quan của MAAS
- Ứng tuyển tiến sĩ: toàn bộ lộ trình
- Học bổng tiến sĩ chính phủ: Đài Loan và Úc, ai xét hồ sơ trước?
- Chương trình tiến sĩ dài mấy năm, và con số đó đo cái gì?
- Tìm giáo sư hướng dẫn tiến sĩ hợp hướng nghiên cứu bằng cách nào?
- Ai quyết định học bổng tiến sĩ?
References
Futagami, T. (2021). On motivations for mobility of international students studying at Japanese research-intensive universities. Journal of Comparative & International Higher Education, 13(1), 82-102. https://doi.org/10.32674/jcihe.v13i1.2100
Japan Student Services Organization. (n.d.). MEXT scholarships. Study in Japan. https://www.studyinjapan.go.jp/en/planning/scholarships/mext-scholarships/
Li, Y., & Date, S. (2025). Adoption of ICT in graduate admissions: A case study on application guidelines for self-funded international research students. Journal for Academic Computing and Networking, 29(1), 228-234. https://doi.org/10.24669/jacn.29.1_0032
Ministry of Education, Culture, Sports, Science and Technology. (2026). Application guidelines: Japanese Government (MEXT) Scholarship for 2027 (Research Students). https://www.studyinjapan.go.jp/en/_mt/2026/04/01-2027_Research_Guidelines_E.pdf
Rakhshandehroo, M. (2018). A qualitative exploration of on-campus experiences of English-speaking graduate international students at a leading Japanese university. Journal of International Students, 8(4), 1831-1847. https://doi.org/10.32674/jis.v8i4.233
The University of Tokyo, Graduate School of Information Science and Technology. (n.d.). Research students. https://www.i.u-tokyo.ac.jp/edu/entra/research_students_e.shtml
The University of Tokyo, Graduate School of Science. (n.d.). Research students. https://www.s.u-tokyo.ac.jp/en/admission/research-students.html
