◆ Ứng tuyển tiến sĩ
Điều kiện dự tuyển nghiên cứu sinh gồm những gì ngoài bằng?
Trả lời thẳng: Thông tư 18/2021 đặt năm điều kiện cho người muốn học tiến sĩ, gồm bằng phù hợp, đủ chuẩn đầu vào của chương trình, có kinh nghiệm nghiên cứu, nộp dự thảo đề cương và đạt ngoại ngữ bậc 4. Riêng kinh nghiệm nghiên cứu có ba lối thay nhau, vì vậy người chưa có bài báo nào vẫn có thể đủ điều kiện.
◆ Mục 1 / 6 · Các nhóm điều kiện
Điều kiện dự tuyển nghiên cứu sinh theo Thông tư 18/2021 chia thành mấy nhóm?
Trả lời thẳng: Năm nhóm, bốn nhóm đầu nằm ở Điều 7 khoản 1 từ điểm a đến điểm d, nhóm ngoại ngữ nằm ở khoản 2. Mỗi nhóm có cách chứng minh riêng, và cơ sở đào tạo được thêm yêu cầu cao hơn mức tối thiểu của Thông tư, nên bảng dưới chỉ cho biết mức sàn chung chứ chưa phải yêu cầu riêng của một trường cụ thể.
Bảng dưới chép lại từng nhóm bằng ngôn ngữ thường ngày. Cột cuối là cách hiểu của người viết, không phải quy định.
| Nhóm | Căn cứ | Nội dung rút gọn | Thường chứng minh bằng |
|---|---|---|---|
| Bằng cấp | Điều 7 khoản 1 điểm a | Thạc sĩ, hoặc đại học hạng giỏi trở lên ngành phù hợp, hoặc trình độ tương đương bậc 7 ở một số ngành đặc thù | Bằng và bảng điểm |
| Đầu vào chương trình | Điều 7 khoản 1 điểm b | Đáp ứng chuẩn đầu vào do Bộ ban hành và chuẩn của chương trình đăng ký | Bảng điểm đối chiếu với chuẩn chương trình |
| Kinh nghiệm nghiên cứu | Điều 7 khoản 1 điểm c | Luận văn thạc sĩ định hướng nghiên cứu, hoặc bài báo đã công bố, hoặc 24 tháng làm giảng viên, nghiên cứu viên | Luận văn, bài báo hoặc xác nhận công tác |
| Đề cương | Điều 7 khoản 1 điểm d | Dự thảo đề cương và kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khoá | Bản đề cương |
| Ngoại ngữ | Điều 7 khoản 2 | Trình độ bậc 4 theo khung 6 bậc của Việt Nam | Bằng đại học bằng ngoại ngữ hoặc chứng chỉ còn hạn |
Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021), Thông tư 18/2021/TT-BGDĐT, Điều 7.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021) viết ở Điều 7 khoản 4 rằng quy chế của cơ sở đào tạo quy định chi tiết các yêu cầu này "trên cơ sở những yêu cầu tối thiểu quy định tại Điều này". Nghĩa là bảng trên là sàn chung, còn trần do từng trường đặt. Danh sách giấy tờ cụ thể nằm ở bài hồ sơ dự tuyển nghiên cứu sinh.
◆ Mục 2 / 6 · Kinh nghiệm nghiên cứu
Chưa có bài báo nào thì có đủ kinh nghiệm nghiên cứu không?
Trả lời thẳng: Có thể đủ, vì Thông tư chấp nhận ba cách thay nhau là luận văn thạc sĩ định hướng nghiên cứu, bài báo đã công bố, hoặc 24 tháng công tác. Nhưng trường được siết chặt hơn, ví dụ chỉ nhận bài báo trong ba năm gần nhất, nên cần đọc thông báo trước khi tin vào cách nào.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021) mở đầu Điều 7 khoản 1 điểm c bằng câu "Có kinh nghiệm nghiên cứu thể hiện qua luận văn thạc sĩ của chương trình đào tạo định hướng nghiên cứu", rồi liệt kê hai cách còn lại. Cách thứ ba được viết là "thời gian công tác từ 02 năm (24 tháng) trở lên là giảng viên, nghiên cứu viên của các cơ sở đào tạo, tổ chức khoa học và công nghệ". Hai năm làm hành chính ở một trường vì vậy không tính.
Nhóm này là chỗ điều kiện dự tuyển nghiên cứu sinh của từng trường bắt đầu khác nhau. Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2026) chấp nhận bảng điểm thạc sĩ, hoặc ít nhất một bài báo toàn văn công bố trong ba năm gần nhất, hoặc 24 tháng công tác có thư xác nhận. Thử hình dung một người có bài đăng năm 2022 nộp vào năm 2026. Theo Thông tư, bài đó vẫn là bài đã công bố. Theo thông báo của trường, bài đó đã quá hạn ba năm, và ứng viên phải dựa vào luận văn hoặc thời gian công tác.
Kinh nghiệm này không chỉ là một ô cần đánh dấu. Tran và cộng sự (2020) mời 51 giảng viên có ít nhất một bài đăng quốc tế, và 35 người nhận lời vòng đầu. Sau hai vòng khảo sát Delphi, nhóm rút ra 14 yếu tố then chốt, trong đó có khả năng viết khoa học bằng ngoại ngữ, năng lực phân tích dữ liệu và kinh nghiệm trả lời phản biện. Pham và Dinh (2022) hỏi 50 nghiên cứu sinh, rồi phỏng vấn thêm 6 người, và thấy 30% đồng ý còn 50% đồng ý một phần rằng năng lực nghiên cứu hạn chế làm chậm tiến độ luận án.
◆ Mục 3 / 6 · Ngoại ngữ
Ngoại ngữ bậc 4 là gì và công dân nước ngoài có phải thi không?
Trả lời thẳng: Bậc 4 là mức trong khung ngoại ngữ 6 bậc của Việt Nam, và người Việt chứng minh bằng một trong ba cách ở Điều 7 khoản 2. Công dân nước ngoài học bằng tiếng Việt cần chứng chỉ tiếng Việt từ bậc 4, trừ người bản ngữ của ngôn ngữ giảng dạy.
Ba cách của công dân Việt Nam là bằng đại học ở nước ngoài hoặc chương trình liên kết học toàn thời gian bằng ngoại ngữ, bằng đại học ngành ngoại ngữ do một trường Việt Nam cấp, hoặc chứng chỉ trong Phụ lục II còn giá trị tại ngày đăng ký, hay chứng chỉ khác tương đương bậc 4 của khung 6 bậc. Với người nước ngoài, Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021) yêu cầu ở Điều 7 khoản 3 rằng họ "phải có chứng chỉ tiếng Việt tối thiểu từ bậc 4 trở lên theo Khung năng lực tiếng Việt dùng cho người nước ngoài", kèm ngoại ngữ thứ hai do trường quyết định.
Có đáng lo về con số này không? Dang và Dang (2023) theo dõi 80 sinh viên Việt Nam tại 31 trường đại học ở Anh và thấy điểm IELTS tổng có hệ số tương quan r = 0,44 (p dưới 0,001) với điểm trung bình học kỳ đầu. Theo từng kỹ năng, đọc đạt 0,44, nghe 0,39, nói 0,35 và viết thấp nhất, 0,29. Một chứng chỉ chỉ giải thích một phần kết quả học, nên bậc 4 là cửa vào chứ chưa phải bảo đảm cho việc đọc và viết bài báo về sau.
Phía người học trong nước cũng cho thấy khoảng cách đó. Pham và Dinh (2022) ghi nhận 30% nghiên cứu sinh đồng ý và 40% đồng ý một phần rằng kỹ năng ngoại ngữ hạn chế làm khó việc viết luận án. Nếu bạn còn đang chọn chứng chỉ, bài về chứng chỉ IELTS theo từng kỹ năng khi nộp hồ sơ tiến sĩ đi vào chi tiết hơn.
◆ Mục 4 / 6 · Người hướng dẫn
Người hướng dẫn nào được nhận bạn và nhận được bao nhiêu người?
Trả lời thẳng: Mỗi nghiên cứu sinh có một hoặc hai người hướng dẫn, trong đó ít nhất một người là cán bộ cơ hữu của trường. Một giáo sư hướng dẫn độc lập tối đa 7 nghiên cứu sinh, phó giáo sư hoặc tiến sĩ khoa học tối đa 5, tiến sĩ tối đa 3.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021) viết ở Điều 5 khoản 3 rằng "Mỗi nghiên cứu sinh có 01 hoặc 02 người hướng dẫn, trong đó có 01 người là cán bộ cơ hữu của cơ sở đào tạo". Hạn mức ở Điều 6 khoản 2 là 7, 5 và 3, và đồng hướng dẫn một nghiên cứu sinh chỉ tính 0,5. Như vậy một phó giáo sư không hướng dẫn độc lập ai vẫn có thể đồng hướng dẫn tối đa 10 người, một con số do người viết tự tính từ hạn mức 5.
Hạn mức này giải thích vì sao một số nhóm nghiên cứu đã kín chỗ trước khi thông báo được đăng, và là phần ít người nghĩ tới khi đọc điều kiện dự tuyển nghiên cứu sinh. Cũng vì vậy, Điều 8 khoản 5 buộc quyết định công nhận nghiên cứu sinh phải ghi cả tên đề tài dự kiến lẫn người hướng dẫn, tức là bạn cần có người nhận trước khi được công nhận. Phần tìm người nhận hướng dẫn và cách lập danh sách được trình bày trong bài về danh sách giảng viên hướng dẫn tiến sĩ.
◆ Mục 5 / 6 · Thông tư 53/2026
Thông tư 53/2026 thay đổi điều kiện dự tuyển nghiên cứu sinh ra sao?
Trả lời thẳng: Thông tư 53/2026 nới mốc bằng đại học từ hạng giỏi sang hạng khá nếu có thêm minh chứng, và trao cho trường nhiều quyền hơn trong việc đặt yêu cầu. Theo các cổng văn bản pháp luật, nó áp dụng cho các đợt tuyển sinh từ năm 2027 và thay thế Thông tư 18/2021.
| Nội dung | Thông tư 18/2021 | Thông tư 53/2026 |
|---|---|---|
| Đại học không qua thạc sĩ | Hạng giỏi trở lên, ngành phù hợp | Hạng giỏi trở lên, hoặc hạng khá kèm yêu cầu bổ sung về công bố hay kinh nghiệm công tác (Điều 14 khoản 1 điểm b) |
| Yêu cầu đầu vào | Chuẩn chương trình do Bộ ban hành | Do cơ sở quy định, không thấp hơn chuẩn chương trình (Điều 14 khoản 2 điểm a) |
| Thời điểm đăng thông báo | Ít nhất 30 ngày làm việc trước khi tổ chức tuyển sinh | Chậm nhất 30 ngày làm việc trước ngày kết thúc nhận hồ sơ (Điều 15 khoản 4) |
| Quyết định công nhận | Có đề tài và người hướng dẫn | Có tên, chương trình, thời gian đào tạo và đơn vị quản lý (Điều 15 khoản 5) |
Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021, 2026), đọc lại ngày 31/10/2026. Các cổng văn bản pháp luật ghi hiệu lực từ năm 2027, còn ngày chính xác không được nêu ở đây vì các nguồn thứ cấp ghi không thống nhất.
Trong điều kiện dự tuyển nghiên cứu sinh mới, điều đáng đọc kỹ nhất là Điều 14 khoản 3, nơi Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026) viết rằng "cơ sở đào tạo quy định cụ thể yêu cầu về kiến thức nền tảng". Câu này mở ra một danh sách dài gồm học phần bổ sung, năng lực nghiên cứu, ngoại ngữ và kinh nghiệm công tác, nên hai người cùng bằng khá có thể đủ điều kiện ở trường này và hụt ở trường kia. Ai đang cân nhắc con đường không qua thạc sĩ nên đọc bài vào tiến sĩ khi chưa có bằng thạc sĩ để biết trường nào còn mở cửa.
◆ Mục 6 / 6 · Tự kiểm tra
Làm sao tự kiểm tra mình đã đủ điều kiện chưa?
Trả lời thẳng: Hãy đối chiếu từng nhóm trong bảng đầu bài với giấy tờ bạn đang có, rồi đọc thông báo của trường để xem trường có siết thêm không. Bảng dưới là bốn hoàn cảnh thường gặp, do người viết suy từ các điều khoản đã dẫn chứ không phải kết luận chính thức.
| Hoàn cảnh | Bằng cấp | Kinh nghiệm nghiên cứu | Việc cần làm |
|---|---|---|---|
| Thạc sĩ định hướng nghiên cứu, chưa có bài báo | Đủ | Đủ nhờ luận văn | Kiểm tra trường có đòi bài báo riêng không |
| Thạc sĩ ứng dụng, 30 tháng làm giảng viên | Đủ | Đủ nhờ thời gian công tác | Xin thư xác nhận của cơ quan |
| Đại học hạng khá, chưa có thạc sĩ | Chưa đủ theo Thông tư 18/2021 | Cần minh chứng | Hỏi trường về yêu cầu bổ sung theo Thông tư 53/2026 |
| Đại học hạng giỏi, một bài báo năm 2022 | Đủ | Đủ theo Thông tư, có thể hụt nếu trường giới hạn ba năm | Đọc kỹ thông báo của trường |
Bốn hoàn cảnh dự tuyển, đối chiếu với điều kiện bằng cấp và kinh nghiệm nghiên cứu trong Thông tư 18/2021
Người viết suy ra từ các điều khoản đã dẫn, đây không phải kết luận chính thức của trường hay của Bộ.
Hoàn cảnh
Đối chiếu với Thông tư 18/2021
Thạc sĩ định hướng nghiên cứu, chưa có bài báo
Bằng cấp đủ, kinh nghiệm nghiên cứu đủ nhờ luận văn, nên kiểm tra trường có đòi bài báo riêng không.
Thạc sĩ ứng dụng, 30 tháng làm giảng viên
Bằng cấp đủ, kinh nghiệm nghiên cứu đủ nhờ thời gian công tác, nên xin thư xác nhận của cơ quan.
Đại học hạng khá, chưa có thạc sĩ
Bằng cấp chưa đủ theo Thông tư 18/2021, nên hỏi trường về yêu cầu bổ sung theo Thông tư 53/2026.
Đại học hạng giỏi, một bài báo năm 2022
Đủ theo Thông tư, nhưng có thể hụt nếu trường giới hạn bài báo trong ba năm gần nhất.
Lưu hình này

Nếu thấy thiếu một nhóm, đặc biệt là công bố, và bạn đang cân nhắc cả đường đi nước ngoài, dịch vụ tư vấn hồ sơ tiến sĩ của MAAS cùng bạn đọc lại hoàn cảnh để chọn nơi nộp hợp lý. Chuyên gia tư vấn chứ không làm thay, dịch vụ không gắn mục tiêu điểm hay hứa kết quả trúng tuyển, và nếu chưa hợp bạn có thể đề nghị đổi chuyên gia.
Câu hỏi thường gặp
Tốt nghiệp đại học loại khá có dự tuyển nghiên cứu sinh được không?
Theo Thông tư 18/2021 thì chưa, trừ khi bạn đã có bằng thạc sĩ. Từ các khoá áp dụng Thông tư 53/2026, loại khá được xét nếu đạt thêm yêu cầu bổ sung của chương trình.
Có bắt buộc phải có bằng thạc sĩ không?
Không bắt buộc ở mọi trường hợp. Đại học hạng giỏi trở lên đúng ngành phù hợp cũng đủ về mặt bằng cấp theo Điều 7.
Hai năm làm việc văn phòng có thay được bài báo không?
Không. Điều 7 khoản 1 điểm c chỉ tính thời gian làm giảng viên hoặc nghiên cứu viên tại cơ sở đào tạo hay tổ chức khoa học và công nghệ.
Một phó giáo sư nhận tối đa bao nhiêu nghiên cứu sinh?
Độc lập là 5 người. Nếu đồng hướng dẫn thì mỗi người chỉ tính một nửa, theo Điều 6 khoản 2.
Trường có được đặt điều kiện cao hơn Thông tư không?
Được. Cả hai Thông tư đều giao cho cơ sở đào tạo quy định chi tiết, miễn là không thấp hơn mức tối thiểu.
Bài liên quan
Điều kiện chỉ nói bạn có đủ tư cách hay không. Việc gom giấy tờ, chọn người hướng dẫn và sống với chương trình là những bài khác.
- Hồ sơ dự tuyển nghiên cứu sinh: bảng so sánh giấy tờ, lệ phí và hạn dùng của ba trường.
- Tiến sĩ không qua thạc sĩ: trường nào còn nhận thẳng từ đại học.
- Yêu cầu bài báo khi nộp hồ sơ tiến sĩ: cần bao nhiêu bài và bài nào được tính.
- Tiến sĩ vừa học vừa làm: nếu hai năm công tác là con đường của bạn.
References
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2021). Thông tư số 18/2021/TT-BGDĐT ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ. Công báo Chính phủ. https://congbao.chinhphu.vn/van-ban/thong-tu-so-18-2021-tt-bgddt-33987.htm
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2026). Thông tư số 53/2026/TT-BGDĐT ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo sau đại học. Công báo Chính phủ. https://congbao.chinhphu.vn/van-ban/thong-tu-so-53-2026-tt-bgddt-470098/67203.htm
Dang, C. N., & Dang, T. N. Y. (2023). The predictive validity of the IELTS test and contribution of IELTS preparation courses to international students' subsequent academic study: Insights from Vietnamese international students in the UK. RELC Journal, 54(1), 84–98. https://doi.org/10.1177/0033688220985533
Pham, L. T. T., & Dinh, H. T. (2022). Factors affecting PhD delays of domestic doctoral candidates. VNUHCM Journal of Social Sciences and Humanities, 6(4), 1748–1757. https://doi.org/10.32508/stdjssh.v6i4.755
Tran, T., Trinh, T.-P.-T., Le Minh, C., Hoang, L. K., & Pham, H.-H. (2020). Research as a base for sustainable development of universities: Using the Delphi method to explore factors affecting international publishing among Vietnamese academic staff. Sustainability, 12(8), Article 3449. https://doi.org/10.3390/su12083449
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. (2026). Thông báo xét tuyển nghiên cứu sinh trong nước năm 2026 đợt 1. https://sdh.hcmus.edu.vn/2026/03/10/thong-bao-xet-tuyen-nghien-cuu-sinh-trong-nuoc-nam-2026-dot-1/
Bài viết này thuộc loạt bài MAAS Journal dành cho sinh viên. MAAS là đối tác hỗ trợ học thuật: các chuyên gia hướng dẫn sinh viên qua từng giai đoạn của bài làm chính họ, và chúng tôi không hoàn thành bài đánh giá thay sinh viên.
Buổi tư vấn miễn phí 20 phút là một cuộc trao đổi về việc bạn đang ở đâu với bài của mình.
Đặt lịch tư vấn miễn phí ▸