Người vận hành bản kế hoạch sau khi COMM3030 kết thúc là tổ chức đối tác, trong khi người chấm bài của bạn lại không phải sống với hậu quả của nó, và khoảng cách đó nằm ở trung tâm môn học. Một nhóm hoàn toàn có thể làm ra bản kế hoạch kinh doanh xã hội chỉn chu, thuyết trình tốt và được đánh giá thuận lợi, rồi vẫn để lại một đề xuất mà đối tác không tự chạy nổi khi kỳ học đã xong. Bài viết này giúp bạn thiết kế bản kế hoạch sao cho nó vẫn đứng được khi nhóm đã rời đi, bám vào đúng năm chuẩn đầu ra mà trường công bố, trong đó có một chuẩn gọi thẳng tên tác động bền vững.
Lưu ý về mã môn: bài này viết về môn của UNSW Sydney. Mã COMM 3030 ở một số trường khác là môn truyền thông không liên quan.
Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật: 22/08/2026
Chuyên mục: communication-pr

Môn này được dựng như thế nào?
Trả lời trực tiếp: COMM3030 Social Entrepreneurship Practicum là môn 6 units of credit của UNSW do Centre for Social Impact quản lý, mở ở Summer Term cùng Term 1, Term 2 và Term 3. Trong môn này, nhóm sinh viên làm việc với một tổ chức đối tác trên một dự án doanh nghiệp xã hội có thật, đúng loại câu hỏi tạo giá trị xã hội mà Santos (2012) phân tích, với nhiều hình thức tổ chức lớp.

Bằng chứng: Trang handbook UNSW ghi rằng môn do Centre for Social Impact quản lý và mô tả đây là "a Work Integrated Learning (WIL) course designed to integrate theory with experiential practice and involve authentic and purposeful engagement with partner organisations", tức một môn học gắn với công việc thực tế, kết hợp lý thuyết với thực hành và làm việc thật với các tổ chức đối tác. Đối tác đến từ doanh nghiệp, doanh nghiệp xã hội, tổ chức phi lợi nhuận và các quỹ. Handbook ghi thời lượng tiếp xúc ước tính là 7 giờ mỗi tuần ở hình thức tập trung trực tiếp, 3,5 giờ ở hình thức trực tiếp thông thường và 3 giờ ở hình thức đa phương thức.
Thông số công bố của môn gồm mã COMM3030, 6 units of credit, UNSW Sydney, Business School, do Centre for Social Impact quản lý, bậc undergraduate, mở ở Summer Term cùng Term 1, Term 2 và Term 3, làm theo nhóm và có 5 chuẩn đầu ra (course learning outcomes). Cả 5 chuẩn đầu ra lẫn bảng ánh xạ bài đánh giá đều nằm cùng trang handbook với thời lượng tiếp xúc, nên bạn chỉ cần mở trang một lần là kiểm được cả 3 thứ.
Từ các thông số đó rút ra 2 đặc điểm cấu trúc, và mỗi đặc điểm đổi một điểm cụ thể trong cách nhóm nên làm việc.
| Đặc điểm cấu trúc | Nó đổi điều gì |
|---|---|
| Dự án nhóm đặt trong một tổ chức đối tác thật | Sản phẩm của bạn có một người dùng không phải người chấm, và ràng buộc của người dùng đó đứng trên sở thích của nhóm |
| Có hình thức tập trung ở mức 7 giờ tiếp xúc mỗi tuần | Ở hình thức tập trung, toàn bộ hành trình từ lúc nhận đề tới lúc bàn giao bị nén vào vài tuần, nên phần bàn giao phải được thiết kế từ đầu chứ không thể thu xếp vào phút cuối |
Hình thức tổ chức lớp quan trọng hơn phần lớn sinh viên nghĩ lúc đăng ký. Cùng 6 units of credit ấy có thể được rải đều qua một term thông thường ở mức 3,5 giờ tiếp xúc mỗi tuần, hoặc nén vào một đợt tập trung ở mức 7 giờ. Bạn nên kiểm xem đợt mình đăng ký thuộc hình thức nào trước khi sắp xếp các môn còn lại, vì lịch mà bạn phải chạy theo trong hai trường hợp không giống nhau. Chênh lệch giữa 7 giờ và 3,5 giờ mỗi tuần nghĩa là tải hằng tuần gấp 2 lần cho cùng một số tín chỉ.
Kế hoạch kinh doanh xã hội khác kế hoạch kinh doanh thông thường ở chỗ nào?
Trả lời trực tiếp: Hai loại kế hoạch khác nhau ở phép thử, và Santos (2012) vạch đúng ranh giới này. Một kế hoạch thương mại thành công khi doanh nghiệp giữ lại đủ giá trị để tự nuôi mình. Kế hoạch cho doanh nghiệp xã hội thành công khi giá trị đến được nhóm thụ hưởng, thường không phải bên trả tiền, nên phải chỉ ra ai nhận lợi ích và lợi ích tiếp tục đến bằng cách nào.
Bằng chứng: Santos (2012) lập luận rằng doanh nghiệp xã hội hướng tới tạo ra giá trị (value creation) chứ không hướng tới giữ lại giá trị (value capture), và những doanh nghiệp đáng gọi là xã hội là những doanh nghiệp xử lý các ngoại tác tích cực bị bỏ quên, tức những chỗ mà người hưởng lợi và người trả tiền tách rời nhau. Sự tách rời đó không phải một chi tiết kỹ thuật, vì nó chính là lý do một bản kế hoạch đủ sức qua một môn kinh doanh thương mại vẫn có thể trượt ở môn này. Bài của Santos (2012) đăng trên Journal of Business Ethics, tập 111, số 3.
Ví dụ: Một nhóm đề xuất một hợp tác xã may nhỏ và dựng mô hình doanh thu khá thuyết phục, cho thấy hợp tác xã hoà vốn vào tháng thứ 9. Người chấm hỏi ai gánh khoản lỗ từ tháng 1 tới tháng 8, và bản kế hoạch không có câu trả lời. Trong khung thương mại, khoảng trống đó do một nhà đầu tư tài trợ với kỳ vọng thu lời, còn ở dự án này không có nhà đầu tư nào như vậy. Một phiên bản mạnh hơn gọi tên một nguồn tài trợ cụ thể, nêu thời hạn nộp hồ sơ xin tài trợ, và nói rõ chuyện gì xảy ra nếu hồ sơ bị từ chối. Santos (2012) có ích ở chỗ cho nhóm ngôn ngữ để giải thích vì sao tháng 1 tới tháng 8 là câu hỏi thiết kế chứ không phải câu hỏi kế toán.
Hệ quả thực tế, rút thẳng từ lập luận của Santos (2012), là mỗi khẳng định trong kế hoạch cần một người đứng tên. Thay vì viết đối tác sẽ bảo trì thiết bị, nhóm cần viết rõ ai bảo trì, người đó được đào tạo thế nào, ai trả công cho họ, và chuyện gì xảy ra khi người đó chuyển đi nơi khác.
Vì sao phần bàn giao phải được tính từ tuần đầu tiên?
Trả lời trực tiếp: Môn học đánh giá những giải pháp phải tiếp tục chạy khi không còn nhóm bạn, và bàn giao là phần duy nhất không thể ứng biến, đúng kiểu thất bại mà Guttentag (2009) ghi nhận ở các đợt tình nguyện ngắn hạn nói chung. Đợi tới mấy ngày cuối mới chọn người tiếp quản thì đã quá muộn để đào tạo họ, nên điểm kết thúc là ràng buộc thiết kế ngay từ đầu.
Các nghiên cứu về tình nguyện ngắn hạn và các đợt thực hành phát triển nói khá thẳng về kiểu thất bại này. Guttentag (2009), đăng trên International Journal of Tourism Research tập 11 số 6, liệt kê những tác động tiêu cực lặp lại khi các đợt tình nguyện ngắn có thiện chí nhưng thiết kế kém, trong đó có việc bỏ qua điều người địa phương thật sự muốn và việc tạo ra sự lệ thuộc khi người ngoài làm thay những phần việc người địa phương tự làm được. Ngay trong phần tóm tắt, Guttentag (2009) đặt vấn đề như một lời kêu gọi chú ý: "there are numerous possible negative impacts of volunteer tourism that deserve increased attention from both researchers and project managers" (Guttentag, 2009, p. 537), nghĩa là du lịch tình nguyện có nhiều tác động tiêu cực tiềm tàng mà cả nhà nghiên cứu lẫn người quản lý dự án cần quan tâm hơn. Simpson (2004), đăng trên Journal of International Development tập 16 số 5, lập luận rằng các đợt thực hành phát triển ngắn ngày thường để lại trong nhận thức của chính người tình nguyện một hình dung giản lược về nghèo đói. Đó là một phê phán về cách những đợt này dạy người tham gia, chứ không phải một phép đo về những gì chúng để lại tại chỗ.
Đọc hai bài này trước khi bắt đầu có giá trị hơn đọc sau khi xong, và cả Guttentag (2009) lẫn Simpson (2004) đều không dài. Hai bài không phải lập luận chống lại môn học. Chúng là danh mục những sai lầm cụ thể mà môn học được thiết kế để bạn tránh, nên chứng minh được rằng nhóm đã tránh chúng chính là phần mang lại điểm.
Có một phép thử cụ thể để soi lại đề xuất của nhóm. Hãy gạch bỏ mọi đầu việc trong kế hoạch triển khai đòi phải có một thành viên nhóm có mặt, rồi xem phần còn lại có vận hành được không. Nếu không vận hành được, bản kế hoạch đó đang mô tả sự tham gia của nhóm chứ chưa phải một đề xuất dành cho đối tác.
Năm chuẩn đầu ra thật sự đòi hỏi điều gì?
Trả lời trực tiếp: Các bài đánh giá ánh xạ tới các chuẩn đầu ra công bố, chứ không ánh xạ tới danh sách kỹ năng nghề nghiệp trong đoạn giới thiệu môn. Có năm chuẩn như vậy, được đánh số từ CLO1 tới CLO5 trên trang handbook, và một trong số đó nêu một yêu cầu mà phần lớn bản kế hoạch của sinh viên không hề nhắc tới.
Handbook công bố 5 chuẩn đầu ra. CLO1 nói về làm việc cộng tác và có trách nhiệm trong nhóm, đồng thời thể hiện năng lực dẫn dắt và tác phong chuyên nghiệp. CLO2 nói về áp dụng các cách tiếp cận doanh nghiệp xã hội và tích hợp các Mục tiêu Phát triển Bền vững của Liên Hợp Quốc (Sustainable Development Goals, gọi tắt là SDG) để phát triển và đánh giá những giải pháp tạo ra tác động xã hội và môi trường bền vững, có ý nghĩa. CLO3 nói về hợp tác với một tổ chức đối tác để xử lý các thách thức xã hội hoặc môi trường. CLO4 nói về truyền đạt những ý tưởng phức tạp một cách mạch lạc, súc tích và thuyết phục tới nhiều nhóm người nghe khác nhau. CLO5 nói về phản tư đối với sự phát triển cá nhân và nghề nghiệp, bao gồm hiểu biết sâu hơn về các vấn đề đạo đức, xã hội và môi trường.
CLO2 là chuẩn nên đọc hai lần. Nó yêu cầu bạn tích hợp các Mục tiêu Phát triển Bền vững của Liên Hợp Quốc, và nó được ánh xạ tới các bài đánh giá ngay trong bảng đánh giá của handbook. Một bản kế hoạch không gọi tên SDG cụ thể nào, không nói mình nhắm vào chỉ tiêu (target) nào, và không giải thích doanh nghiệp làm chỉ tiêu đó dịch chuyển ra sao thì đã bỏ trống một chuẩn đầu ra được công bố, dù ý tưởng doanh nghiệp có hay tới đâu. Có 17 SDG, và gọi đúng tên một hoặc hai mục tiêu kèm chỉ tiêu cụ thể bên dưới chỉ tốn một câu. Bộ 17 mục tiêu này được các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc thông qua năm 2015, với mốc hoàn thành là năm 2030.
Chữ đánh giá (evaluate) trong cùng chuẩn đó làm một việc khác với chữ phát triển (develop). Phát triển một giải pháp là đề xuất nó, còn đánh giá giải pháp là nói ra bằng cách nào nhóm biết được nó có hiệu quả hay không, tức là gọi tên một chỉ số đo và một mốc thời gian trước khi nhóm rời đi.
CLO5, chuẩn về phản tư cho sự phát triển cá nhân và nghề nghiệp, được phục vụ tốt nhất bằng ghi chép làm ngay trong lúc làm việc chứ không phải gom lại sau khi xong. Hãy giữ một cuốn nhật ký chạy suốt dự án với 3 cột, gồm nhóm đã giả định gì, nhóm phát hiện ra gì và nhóm đã đổi điều gì. Mười dòng ghi trong cả đợt là nền bằng chứng mạnh hơn một bài phản tư dài viết ở phút cuối, và việc ghi chỉ tốn chừng 5 phút mỗi ngày. Kolb (1984) mô tả học tập như một vòng lặp, trong đó trải nghiệm cụ thể chỉ trở nên hữu ích sau khi được phản tư và đem thử lại, và cuốn nhật ký chính là vòng lặp đó được viết ra khi còn nhớ rõ.
Các nhóm thường mất điểm ở đâu?
Trả lời trực tiếp: Điểm rơi ở ba chỗ lặp đi lặp lại, và cả ba đều là dạng nhầm hoạt động của nhóm với giá trị đến tay người thụ hưởng, thứ Santos (2012) đặt làm trọng tâm. Nhóm giải bài toán mình thích thay vì bài toán đối tác nêu, coi bận rộn là tiến triển, và kể lại trải nghiệm thay vì viết đề xuất. Đây là lỗi khoanh phạm vi chứ không phải lỗi thiếu cố gắng.
Chỗ thứ nhất là khoanh phạm vi. Tổ chức đối tác đến với một đề bài (brief) vì họ đã quyết xong mình cần gì, nên một nhóm lặng lẽ thay đề bài bằng một bài toán hấp dẫn hơn sẽ làm ra sản phẩm đối tác không dùng được. Nếu bạn tin đề bài chưa đúng, cách làm đúng là nói ra sớm, bằng văn bản, kèm lý do, rồi thương lượng. Làm lặng lẽ thì người đọc sẽ hiểu rằng nhóm đã không lắng nghe.
Chỗ thứ hai hiện ra trong báo cáo dưới dạng danh sách những việc nhóm đã làm, chẳng hạn số giờ làm việc, số cuộc họp và số người đã gặp. Không thứ nào trong đó là một kết quả, và không thứ nào ánh xạ được vào 5 chuẩn đầu ra công bố. Hãy chuyển mỗi hoạt động thành điều đã thay đổi nhờ nó, rồi xoá những gì không chuyển được.
Chỗ thứ ba là nhầm thể loại, và cũng là lỗi phổ biến nhất. Sản phẩm được chấm là một bản kế hoạch mà đối tác hành động theo được. Phần trưởng thành cá nhân thuộc về cấu phần phản tư mà CLO5 gọi tên rõ ràng, và ngay ở đó nó cũng mạnh hơn khi gắn với một quyết định bạn đã đổi thay vì một cảm xúc bạn đã có. Đó đúng là khác biệt mà Kolb (1984) đặt ra giữa một trải nghiệm và một trải nghiệm đã được phản tư.
Ngôn ngữ thật sự làm một nhóm mất điểm ở khâu nào?
Trả lời trực tiếp: Khâu gây mất điểm là thương lượng chứ không phải viết. Môn này đòi bạn bất đồng với đối tác hoặc bạn cùng nhóm ngay tại chỗ, bằng tiếng Anh và lịch sự, nên nhiều bạn gật đầu cho êm, rồi báo cáo bị đọc thành thiếu tư duy phản biện. Kolb (1984) coi trải nghiệm chỉ thành bài học khi được phản tư, nên bất đồng cần được nói ra và ghi lại.
Có hai thói quen nhỏ giúp được nhiều hơn vẻ ngoài của chúng. Thói quen đầu tiên là tách chuyện hiểu khỏi chuyện đồng ý, và nói điều đó thành lời. Câu I want to make sure I have understood before I respond, tức là tôi muốn chắc mình đã hiểu đúng trước khi trả lời, cho bạn thêm thời gian suy nghĩ và được người nghe hiểu là sự cẩn trọng chứ không phải sự chống đối. Thói quen thứ hai là đưa phần bất đồng vào văn bản ngay sau buổi trao đổi. Một tin nhắn ngắn kiểu we discussed X, my concern is Y, could we consider Z vừa tạo ra hồ sơ mà phần đánh giá cần, vừa dễ soạn hơn một lời phản đối nói trực tiếp.
Động lực nhóm cũng mang đúng rủi ro đó. Trong một nhóm nhỏ chạy theo lịch bị nén, người nói nhanh nhất thường mặc nhiên thành người định hướng. Nếu đóng góp của bạn luôn chỉ hiện ra ở phần viết, hãy nói với nhóm từ sớm và đề nghị lấy phần ghi chép hoặc phần phân tích làm cách bạn dẫn dắt. Đó là một cách chia việc chính đáng và người chấm nhìn thấy được, vì CLO4 nói về truyền đạt tới nhiều nhóm người nghe còn CLO1 nói về tác phong chuyên nghiệp trong nhóm.
Cố vấn MAAS giúp chuẩn bị gì cho một dự án làm với đối tác thật?
Cố vấn không tham gia vào nhóm và không viết bản kế hoạch thay nhóm. Một buổi làm việc với cố vấn tập trung vào phần chuẩn bị và phần cấu trúc quanh bản kế hoạch, gồm thử độ chắc của các câu hỏi khoanh phạm vi trước khi dự án khởi động, kiểm xem đề xuất đã gọi tên một chỉ tiêu SDG cụ thể hay mới nói chung chung về tác động, và sau đó đọc bản nháp theo một câu hỏi khó hơn, là đề xuất này có sống nổi khi vắng nhóm hay không.
Với một môn như COMM3030, buổi làm việc hữu ích nhất thường diễn ra hai lần. Lần đầu trước khi bắt đầu, để nhóm dựng nhật ký giả định và phép thử bàn giao, và lần sau khi nhóm đã có ghi chép thực địa nhưng chưa có cấu trúc. Nếu bạn đi theo hướng hỗ trợ assignment và essay, hãy mang theo chính đề bài của đối tác, vì phần lớn lỗi khoanh phạm vi lộ ra ngay ở khoảng cách giữa đề bài đó và những gì nhóm đã bắt tay vào làm.
Câu hỏi thường gặp
COMM3030 mở vào lúc nào?
Handbook ghi các đợt mở gồm Summer Term, Term 1, Term 2 và Term 3, với nhiều hình thức tổ chức lớp, trong đó có hình thức tập trung trực tiếp. Hãy kiểm hình thức của đúng đợt bạn đăng ký, vì thời lượng tiếp xúc giữa các hình thức khác nhau.
Môn nặng tới mức nào?
Handbook ghi thời lượng tiếp xúc ước tính 7 giờ mỗi tuần ở hình thức tập trung trực tiếp, 3,5 giờ ở hình thức trực tiếp thông thường và 3 giờ ở hình thức đa phương thức. Hình thức tập trung nén cùng số tín chỉ vào một lịch ngắn hơn, nên bạn nên sắp các tuần xung quanh cho phù hợp.
Tôi có cần nền tảng ngành kinh doanh không?
Môn học phát triển các kỹ năng nghề nghiệp như tư duy phản biện, nghiên cứu và làm việc nhóm, và các nhóm thường gồm sinh viên nhiều ngành. Một bạn học ngành ngoài kinh doanh nhiều khi lại là người nhận ra giả định mà cả nhóm đang cùng mang.
Tôi có bắt buộc dùng các Mục tiêu Phát triển Bền vững không?
CLO2 yêu cầu bạn tích hợp chúng, nên hãy coi việc gọi tên một mục tiêu và một chỉ tiêu cụ thể là yêu cầu của bản kế hoạch chứ không phải một cách đóng khung tuỳ chọn.
Môn được đánh giá thế nào?
Các bài đánh giá và tỷ trọng nằm trong course outline phát hành trước khi term bắt đầu, còn handbook ánh xạ từng bài đánh giá tới các chuẩn đầu ra cụ thể. Hãy xác nhận ở đó thay vì dựa vào lời kể của khoá trước.
Đọc thêm
- COMM3020: global business practicum
- COMM3000: can thiệp dựa trên bằng chứng
- Hỗ trợ assignment và essay cùng cố vấn MAAS
Hỏi cố vấn MAAS về môn của bạn
References
Guttentag, D. A. (2009). The possible negative impacts of volunteer tourism. International Journal of Tourism Research, 11(6), 537–551. https://doi.org/10.1002/jtr.727
Kolb, D. A. (1984). Experiential learning: Experience as the source of learning and development. Prentice Hall.
Santos, F. M. (2012). A positive theory of social entrepreneurship. Journal of Business Ethics, 111(3), 335–351. https://doi.org/10.1007/s10551-012-1413-4
Simpson, K. (2004). "Doing development": The gap year, volunteer-tourists and a popular practice of development. Journal of International Development, 16(5), 681–692. https://doi.org/10.1002/jid.1120
