Skip to content
Quay lại BlogCommunication & PR

COMM3030: ai vận hành bản kế hoạch của bạn sau khi môn học kết thúc?

17 phút đọc3,283 từ

Tổ chức đối tác mà bạn làm việc cùng không phải người chấm bài bạn, còn người chấm bài bạn thì không sống với hậu quả của nó. Khoảng cách đó là cái khó nằm ở trung tâm COMM3030.

Tổ chức đối tác mà bạn làm việc cùng không phải người chấm bài bạn, còn người chấm bài bạn thì không sống với hậu quả của nó. Khoảng cách đó là cái khó nằm ở trung tâm COMM3030. Một nhóm hoàn toàn có thể làm ra bản kế hoạch kinh doanh xã hội chỉn chu, thuyết trình tốt, được đánh giá thuận lợi, rồi để lại một đề xuất mà đối tác không vận hành nổi khi kỳ học đã xong. Chuẩn đầu ra công bố biến rủi ro đó thành thứ chấm được chứ không phải chuyện ngoài lề, bởi một trong số đó đòi các giải pháp tạo ra tác động BỀN VỮNG, mà bền vững là một chữ nói về chuyện xảy ra sau khi bạn rời đi.

Lưu ý về mã môn: bài này viết về môn của UNSW Sydney. Mã COMM 3030 ở một số trường khác là môn truyền thông không liên quan.

Tác giả: Ban biên tập MAAS · Cố vấn chuyên môn MAAS thẩm định
Cập nhật: 22/08/2026
Chuyên mục: communication-pr


Môn này được dựng như thế nào?

Trả lời trực tiếp: COMM3030 Social Entrepreneurship Practicum là môn 6 units of credit của UNSW do Centre for Social Impact quản lý, mở ở Summer Term cùng Term 1, Term 2 và Term 3, trong đó nhóm sinh viên làm việc với một tổ chức đối tác trên một dự án doanh nghiệp xã hội có thật, qua nhiều hình thức tổ chức lớp trong đó có hình thức tập trung.

Bằng chứng: Trang handbook UNSW ghi rằng môn do Centre for Social Impact quản lý và mô tả đây là "a Work Integrated Learning (WIL) course designed to integrate theory with experiential practice and involve authentic and purposeful engagement with partner organisations". Sinh viên làm việc với đối tác đến từ doanh nghiệp, doanh nghiệp xã hội, tổ chức phi lợi nhuận và các quỹ. Handbook ghi thời lượng tiếp xúc ước tính 7 giờ mỗi tuần ở hình thức tập trung trực tiếp, 3,5 giờ ở hình thức trực tiếp thông thường và 3 giờ ở hình thức đa phương thức.

Thông số công bố: mã COMM3030, 6 units of credit, UNSW Sydney, Business School, do Centre for Social Impact quản lý, bậc undergraduate, mở ở Summer Term cùng Term 1, Term 2 và Term 3, làm theo nhóm, 5 chuẩn đầu ra.

Từ đó rút ra 2 sự thật về cấu trúc, và mỗi sự thật đổi một điểm cụ thể trong cách bạn làm việc. Lưu ý rằng 5 chuẩn đầu ra và bảng ánh xạ đánh giá nằm cùng trang handbook với thời lượng tiếp xúc, nên kiểm cả 3 thứ chỉ tốn một lần mở trang.

Sự thật về cấu trúc Nó đổi điều gì
Dự án nhóm đặt trong một tổ chức đối tác thật Sản phẩm của bạn có người dùng không phải người chấm, và ràng buộc của họ đứng trên sở thích của bạn
Có hình thức tập trung ở mức 7 giờ tiếp xúc mỗi tuần Ở hình thức tập trung, toàn bộ hành trình từ lúc nhận đề tới lúc bàn giao nén lại trong vài tuần, nên phần bàn giao phải được thiết kế từ đầu chứ không phải thu xếp lúc cuối

Hình thức tổ chức lớp quan trọng hơn phần lớn sinh viên nghĩ lúc đăng ký. Cùng 6 units of credit ấy có thể rải qua một term thông thường ở mức 3,5 giờ tiếp xúc mỗi tuần, hoặc nén vào một đợt tập trung ở mức 7 giờ. Hãy kiểm xem đợt bạn đăng ký thuộc hình thức nào trước khi sắp phần còn lại của khối lượng học, vì lịch mà bạn phải chạy theo trong hai trường hợp không giống nhau. Chênh lệch giữa 7 giờ và 3,5 giờ mỗi tuần là gấp 2 lần tải hằng tuần cho cùng một số tín chỉ.


Kế hoạch kinh doanh xã hội khác kế hoạch kinh doanh ở chỗ nào?

Trả lời trực tiếp: Khác ở phép thử. Một kế hoạch thương mại thành công khi doanh nghiệp giữ lại đủ giá trị để tự nuôi mình. Một kế hoạch cho doanh nghiệp xã hội thành công khi giá trị đến được với nhóm thụ hưởng, mà nhóm này thường không phải bên trả tiền, nghĩa là kế hoạch của bạn phải chỉ ra ai nhận lợi ích và bằng cách nào lợi ích đó tiếp tục đến với họ.

Bằng chứng: Santos (2012) vạch ra ranh giới này rất thẳng, lập luận rằng doanh nghiệp xã hội hướng tới việc TẠO RA giá trị chứ không phải GIỮ LẠI giá trị, và những doanh nghiệp đáng gọi là xã hội là những doanh nghiệp xử lý các ngoại tác tích cực bị bỏ quên, nơi người thụ hưởng và người trả tiền tách khỏi nhau. Sự tách đó không phải chi tiết kỹ thuật. Nó chính là lý do một bản kế hoạch đủ điểm ở môn thương mại vẫn có thể trượt ở đây. Santos (2012) đăng trên Journal of Business Ethics, tập 111, số 3.

Ví dụ: Một nhóm đề xuất hợp tác xã may nhỏ và dựng mô hình doanh thu khá thuyết phục, cho thấy hợp tác xã hoà vốn vào tháng thứ 9. Câu hỏi của người chấm là ai gánh khoản lỗ từ tháng 1 tới tháng 8, và bản kế hoạch không có câu trả lời, bởi trong khung thương mại khoảng trống ấy do nhà đầu tư tài trợ và họ chờ lợi nhuận, còn ở đây không có nhà đầu tư nào như vậy. Bản mạnh hơn gọi tên một nguồn tài trợ cụ thể, nêu thời hạn nộp hồ sơ, và nói rõ chuyện gì xảy ra nếu hồ sơ bị từ chối. Santos (2012) hữu ích ở đây vì cho bạn ngôn ngữ để nói vì sao tháng 1 tới tháng 8 là câu hỏi thiết kế chứ không phải câu hỏi kế toán.

Hệ quả thực tế là mỗi khẳng định trong kế hoạch cần một người đứng tên. Không viết đối tác sẽ bảo trì thiết bị, mà viết rõ ai bảo trì, được đào tạo thế nào, ai trả công, và chuyện gì xảy ra khi người đó chuyển đi.


Vì sao phần bàn giao thuộc về tuần đầu tiên?

Trả lời trực tiếp: Vì môn học đánh giá những giải pháp phải tiếp tục chạy khi không có bạn, và bàn giao là phần duy nhất không thể ứng biến. Tới những ngày cuối mới quyết ai tiếp quản thì đã quá muộn để đào tạo ai đó, nên thời điểm kết thúc là một ràng buộc thiết kế ngay từ đầu chứ không phải một cái kết.

Tài liệu nghiên cứu về tình nguyện ngắn hạn và các đợt thực hành phát triển nói rất thẳng về kiểu thất bại này. Guttentag (2009), đăng trên International Journal of Tourism Research tập 11 số 6, liệt kê các tác động tiêu cực lặp đi lặp lại khi một đợt ngắn có thiện chí nhưng thiết kế kém, trong đó có việc bỏ qua thứ người địa phương thật sự mong muốn, và việc tạo ra lệ thuộc khi người ngoài làm thay phần việc người địa phương làm được. Simpson (2004), đăng trên Journal of International Development tập 16 số 5, lập luận rằng các đợt phát triển ngắn ngày thường tạo ra trong nhận thức của chính người tình nguyện một hình dung đơn giản hoá về nghèo đói, tức đây là phê phán về cách các đợt đó DẠY người tham gia, không phải phép đo về thứ chúng để lại tại chỗ.

Đọc hai bài này trước khi bắt đầu có giá trị hơn đọc sau khi kết thúc, và cả hai đều không dài. Chúng không phải lập luận chống lại môn học. Chúng là bản liệt kê những sai lầm cụ thể mà môn học muốn bạn tránh, nghĩa là chứng minh được rằng bạn đã tránh chính là phần được cho điểm.

Một phép thử cụ thể để soi lại đề xuất của chính bạn: gạch bỏ mọi đầu việc trong kế hoạch triển khai đòi phải có một thành viên nhóm hiện diện. Nếu phần còn lại không vận hành nổi thì bản kế hoạch đó đang mô tả sự tham gia của bạn chứ chưa phải một đề xuất cho đối tác.


Năm chuẩn đầu ra thật sự đòi hỏi điều gì?

Trả lời trực tiếp: Thứ mà các đầu mục đánh giá ánh xạ tới là các chuẩn đầu ra công bố, chứ không phải danh sách kỹ năng nghề nghiệp nằm trong đoạn giới thiệu môn. Có 5 chuẩn như vậy, đánh số từ CLO1 tới CLO5 ngay trên trang handbook, và một trong số đó nêu ra một yêu cầu bắt buộc mà phần lớn bản kế hoạch của sinh viên không hề nhắc tới lấy một lần.

Handbook công bố 5 chuẩn. CLO1 nói về làm việc cùng nhau có trách nhiệm trong một nhóm, thể hiện năng lực dẫn dắt và tác phong chuyên nghiệp. CLO2 nói về áp dụng các cách tiếp cận doanh nghiệp xã hội và tích hợp các Mục tiêu Phát triển Bền vững của Liên Hợp Quốc để phát triển và đánh giá những giải pháp tạo ra tác động xã hội và môi trường bền vững, có ý nghĩa. CLO3 nói về hợp tác với một tổ chức đối tác để xử lý các thách thức xã hội hoặc môi trường. CLO4 nói về truyền đạt những ý tưởng phức tạp một cách mạch lạc, súc tích và thuyết phục tới nhiều nhóm người nghe khác nhau. CLO5 nói về phản tư đối với sự phát triển cá nhân và nghề nghiệp, gồm cả hiểu biết sâu hơn về các vấn đề đạo đức, xã hội và môi trường.

CLO2 là chuẩn đáng đọc hai lần. Nó yêu cầu bạn tích hợp các Mục tiêu Phát triển Bền vững của Liên Hợp Quốc, và nó được ánh xạ tới các bài đánh giá ngay trong bảng đánh giá của handbook. Một bản kế hoạch không hề gọi tên một mục tiêu cụ thể nào, không nói mình chạm vào chỉ tiêu nào bên dưới mục tiêu ấy, và không giải thích doanh nghiệp làm chỉ tiêu đó dịch chuyển ra sao, là bản kế hoạch bỏ trống một chuẩn đầu ra đã công bố, dù doanh nghiệp đó có hay tới đâu. Có 17 mục tiêu, và gọi tên đúng một hoặc hai mục tiêu kèm chỉ tiêu cụ thể bên dưới chỉ tốn một câu. Bộ 17 mục tiêu được các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc thông qua năm 2015, với mốc đích là năm 2030.

Chữ đánh giá trong cùng chuẩn đó làm một việc khác hẳn chữ phát triển. Phát triển một giải pháp là đề xuất nó. Đánh giá nó nghĩa là nói ra bằng cách nào bạn biết được nó có hiệu quả hay không, tức là gọi tên một chỉ số và một mốc thời gian trước khi bạn rời đi.

CLO5, về phản tư cho sự phát triển cá nhân và nghề nghiệp, được phục vụ tốt nhất bằng ghi chép làm ngay trong lúc làm việc chứ không phải gom lại lúc sau. Hãy giữ một nhật ký chạy suốt với 3 cột: nhóm đã giả định gì, nhóm phát hiện ra gì, nhóm đổi cái gì. Mười dòng trong cả đợt là nền bằng chứng mạnh hơn một bài phản tư dài viết ở phút cuối, và việc ghi tốn chừng 5 phút mỗi ngày. Kolb (1984), trong cuốn Experiential Learning do Prentice Hall xuất bản, mô tả học tập như một vòng lặp trong đó trải nghiệm cụ thể chỉ trở nên hữu dụng sau khi được phản tư và đem thử lại, và cuốn nhật ký chính là vòng lặp đó viết ra lúc còn nhớ được.


Các nhóm mất điểm ở đâu?

Trả lời trực tiếp: Điểm rơi ở 3 chỗ lặp đi lặp lại. Nhóm giải bài toán mình thấy thú vị thay vì bài toán đối tác đã nêu, nhóm nhầm hoạt động với tiến triển, và nhóm viết lại trải nghiệm thay vì viết bản đề xuất. Cả 3 đều là lỗi khoanh phạm vi chứ không phải lỗi thiếu cố gắng, và cả 3 đều lộ ra từ nhiều tuần trước hạn nộp.

Chỗ thứ nhất là khoanh phạm vi. Tổ chức đối tác đến với một đề bài vì họ đã quyết xong thứ họ cần, nên một nhóm âm thầm thay bằng bài toán hấp dẫn hơn sẽ tạo ra sản phẩm đối tác không dùng được. Nếu bạn tin đề bài sai, nước đi đúng là nói ra sớm, bằng văn bản, kèm lý do, rồi thương lượng. Làm âm thầm thì người đọc sẽ hiểu rằng bạn đã không lắng nghe.

Chỗ thứ hai hiện ra trong báo cáo dưới dạng danh sách những việc nhóm đã làm, chẳng hạn số giờ, số cuộc họp, số người đã gặp. Không thứ nào trong đó là một kết quả, và không thứ nào ánh xạ được vào bất kỳ chuẩn nào trong 5 chuẩn công bố. Hãy chuyển mỗi hoạt động thành thứ đã thay đổi nhờ nó, và xoá đi những gì không chuyển đổi được.

Chỗ thứ ba là lỗi thể loại và cũng là lỗi phổ biến nhất. Sản phẩm được chấm là một bản kế hoạch mà đối tác hành động theo được. Phần trưởng thành cá nhân thuộc về cấu phần phản tư mà CLO5 gọi tên tường minh, và ngay cả ở đó nó cũng mạnh hơn khi gắn với một quyết định bạn đã đổi thay vì một cảm xúc bạn đã có.


Ngôn ngữ thật sự làm một nhóm mất điểm ở chỗ nào?

Trả lời trực tiếp: Khó ở khâu thương lượng chứ không phải khâu viết. Môn này buộc bạn phản đối một tổ chức đối tác hoặc một bạn cùng nhóm ngay tại chỗ, bằng tiếng Anh, một cách lịch sự, và nhiều bạn chọn cách gật cho êm, để rồi trong báo cáo điều đó bị đánh giá là thiếu tư duy phản biện.

Có 2 thói quen nhỏ giúp được nhiều hơn vẻ ngoài của chúng. Thói quen thứ nhất là tách việc hiểu ra khỏi việc đồng ý, và nói thành lời. Câu tôi muốn chắc là mình đã hiểu đúng trước khi trả lời mua cho bạn thời gian suy nghĩ, và người nghe hiểu đó là sự cẩn trọng chứ không phải sự chống đối. Thói quen thứ hai là đưa phần bất đồng vào văn bản ngay sau đó. Một tin nhắn ngắn ghi rằng chúng ta đã bàn X, điều tôi lo là Y, mình cân nhắc Z được không, vừa tạo ra hồ sơ mà phần đánh giá cần, vừa dễ soạn hơn một lời phản đối nói trực tiếp.

Động lực nhóm cũng mang đúng rủi ro đó. Trong một nhóm nhỏ chạy theo lịch bị nén, người nói nhanh nhất mặc định là người định hướng. Nếu đóng góp của bạn luôn chỉ xuất hiện ở phần viết, hãy nói điều đó với nhóm từ sớm, và đề nghị lấy phần ghi chép hoặc phần phân tích làm cách bạn dẫn dắt. Đó là một cách chia việc chính đáng và người chấm nhìn thấy được, bởi CLO4 nói về truyền đạt tới nhiều nhóm người nghe còn CLO1 nói về tác phong chuyên nghiệp trong nhóm.


Chuẩn bị được gì trước một dự án có đối tác thật?

Không ai bên ngoài nhóm viết hộ được bản kế hoạch này, vì nó phải khớp với đúng đối tác mà chỉ nhóm bạn tiếp xúc. Thứ một buổi học có bàn tới là phần chuẩn bị và phần cấu trúc quanh nó, tức thử sức những câu hỏi khoanh phạm vi trước khi dự án khởi động, kiểm xem đề xuất của bạn có gọi tên một chỉ tiêu SDG cụ thể hay mới chỉ nói chung chung về tác động, và sau đó đọc bản nháp theo một câu hỏi khó hơn là bản đề xuất này có sống nổi khi vắng bạn hay không.

Với một môn như thế này, buổi hữu ích nhất thường diễn ra 2 lần. Một lần trước khi bắt đầu, để dựng nhật ký giả định và phép thử bàn giao, và một lần khi bạn đã có ghi chép hiện trường nhưng chưa có cấu trúc. Nếu bạn đi theo hướng hỗ trợ học thuật, hãy mang theo chính bản đề bài của đối tác, vì phần lớn lỗi khoanh phạm vi lộ ra ngay ở khoảng cách giữa đề bài đó và thứ nhóm bạn đã bắt tay vào làm.


Câu hỏi thường gặp

COMM3030 mở vào lúc nào?
Handbook ghi các đợt mở gồm Summer Term, Term 1, Term 2 và Term 3, với nhiều hình thức tổ chức lớp trong đó có hình thức tập trung trực tiếp. Hãy kiểm hình thức của đúng đợt bạn đăng ký, vì thời lượng tiếp xúc giữa các hình thức khác nhau.

Môn nặng tới mức nào?
Handbook ghi thời lượng tiếp xúc ước tính 7 giờ mỗi tuần ở hình thức tập trung trực tiếp, 3,5 giờ ở hình thức trực tiếp thông thường và 3 giờ ở hình thức đa phương thức. Hình thức tập trung nén cùng số tín chỉ vào một lịch ngắn hơn, nên hãy sắp các tuần xung quanh cho phù hợp.

Tôi có cần nền kinh doanh không?
Môn phát triển các kỹ năng nghề nghiệp gồm tư duy phản biện, nghiên cứu và làm việc nhóm, và các nhóm thường trộn ngành. Một bạn học ngành ngoài kinh doanh thường lại là người phát hiện ra giả định mà cả nhóm đang cùng mang.

Tôi có bắt buộc dùng các Mục tiêu Phát triển Bền vững không?
CLO2 yêu cầu bạn tích hợp chúng, nên hãy coi việc gọi tên một mục tiêu và một chỉ tiêu cụ thể là yêu cầu bắt buộc của bản kế hoạch chứ không phải một cách đóng khung tuỳ chọn.

Môn đánh giá thế nào?
Các đầu mục đánh giá và tỷ trọng nằm trong course outline phát hành trước khi term của bạn bắt đầu, còn handbook thì ánh xạ từng đầu mục tới các chuẩn đầu ra cụ thể. Hãy xác nhận ở đó thay vì tin theo lời khoá trước kể lại.


Đọc thêm

Hỏi cố vấn MAAS về môn của bạn


References

Guttentag, D. A. (2009). The possible negative impacts of volunteer tourism. International Journal of Tourism Research, 11(6), 537–551. https://doi.org/10.1002/jtr.727

Kolb, D. A. (1984). Experiential learning: Experience as the source of learning and development. Prentice Hall.

Santos, F. M. (2012). A positive theory of social entrepreneurship. Journal of Business Ethics, 111(3), 335–351. https://doi.org/10.1007/s10551-012-1413-4

Simpson, K. (2004). "Doing development": The gap year, volunteer-tourists and a popular practice of development. Journal of International Development, 16(5), 681–692. https://doi.org/10.1002/jid.1120

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Muốn được đồng hành như vậy?

Từ bài viết này
đến luận án của bạn.

Một buổi tư vấn khám phá 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS sẽ chuyển khung phương pháp này vào đúng đề tài của bạn và kỳ vọng của giảng viên hướng dẫn.