Một kiểu ôn thi rất hay gặp ở môn Financial Management là làm đề cũ tới lúc phần kỹ thuật thành phản xạ, từ bút toán, các bút toán điều chỉnh cho tới công thức tỷ số. Cách ôn này nghe hợp lý, làm xong thấy mình có tiến bộ, và nó tạo ra những bạn bấm ra chỉ số thanh toán hiện hành rất nhanh nhưng vẫn mất điểm ở đúng câu hỏi rằng chỉ số ấy nói lên điều gì về doanh nghiệp trong đề bài. Khoảng cách này không nằm ở sự chăm chỉ hay ở khả năng tính toán. Nó nằm ở chỗ môn học được dựng quanh việc diễn giải thông tin tài chính chứ không phải quanh việc tạo ra nó, mà diễn giải là một hoạt động khác hẳn với tính toán, đúng khác biệt mà Marton và Säljö (1976) đo được giữa học bề mặt và học chiều sâu.
Tác giả: Ban biên tập MAAS · Hiệu đính bởi mentor chuyên môn của MAAS
Cập nhật: 2026-08-11
Chuyên mục: business-management
Môn này là gì, và nó nằm ở đâu trong chương trình?
Trả lời trực tiếp: COMM1140 Financial Management là môn 6 tín chỉ ở UNSW, một trong tám môn tạo nên năm nhất tích hợp của chương trình Bachelor of Commerce, trải trên tổng 48 tín chỉ kèm yêu cầu portfolio myBCom. Đây là môn đầu tiên dạy đúng kỹ năng đọc báo cáo mà Ball và Brown (1968) giả định người đọc đã có.
Bằng chứng: Handbook UNSW ghi môn này ở mức 6 tín chỉ. Tài liệu lộ trình học công bố của Business School đặt năm nhất tích hợp ở mức 48 tín chỉ trải trên tám môn, trong đó có COMM1140, đi kèm các yêu cầu portfolio myBCom chạy suốt chương trình. Chữ tích hợp ở đây mang nghĩa thật: tám môn được thiết kế để nối vào nhau chứ không đứng thành tám ốc đảo riêng, và đó là lý do một hiểu biết thuần thủ tục về môn này thường lộ ra thành điểm yếu về sau, ở những môn mặc định rằng bạn đọc được một bộ báo cáo tài chính và nói được điều gì đó về doanh nghiệp.
Ví dụ: Một bạn coi năm nhất là tám cửa ải rời rạc thấy các môn tài chính năm hai khó hơn mình tưởng, đúng khoảng cách mà Ball và Brown (1968) mở ra giữa đọc con số và hiểu con số, bởi những môn ấy mở đầu bằng giả định rằng sinh viên nhìn vào một báo cáo là hình thành được quan điểm, chứ không chỉ tìm ra một con số nằm ở đâu trên đó, đúng năng lực đọc báo cáo mà Ball và Brown (1968) giả định khi đo phản ứng thị trường với thông tin lợi nhuận.
Môn này thật ra đang chấm cái gì?
Trả lời trực tiếp: Chấm xem bạn có hiểu, diễn giải và phân tích được thông tin tài chính mà các tổ chức công bố hay không, và có nói được nó nghĩa là gì hay không. Phần tính toán chỉ là vé vào cửa chứ không phải đích đến.
Ball và Brown (1968) là nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên cho thấy thị trường phản ứng với thông tin lợi nhuận kế toán, đặt nền cho toàn bộ ngành nghiên cứu về tính hữu ích của báo cáo tài chính mà môn học này đang dạy bạn thực hành ở quy mô nhỏ.
Sự phân biệt này lộ ra ngay ở cách đặt câu hỏi. Câu bảo bạn tính một tỷ số thì có đúng một đáp án và mang lại rất ít điểm. Câu hỏi biến động của tỷ số ấy gợi ra điều gì về doanh nghiệp, hoặc trong hai công ty thì công ty nào đang ở vị thế tốt hơn và vì sao, lại không có đáp án duy nhất và mới là chỗ gánh điểm. Bạn nào chỉ luyện cho dạng thứ nhất thì bước vào phòng thi rất thạo đúng phần ít điểm nhất của đề, đúng phần bề mặt mà Marton và Säljö (1976) mô tả khi tách nó khỏi phần chiều sâu.
| Đề nhìn như đang bảo | Đề thật ra đang hỏi |
|---|---|
| Tính tỷ số thanh toán hiện hành | Chưa hỏi gì cả, đây mới là đầu vào |
| Nhận xét về khả năng thanh toán | Con số cụ thể nào làm bạn đổi cách nhìn, và đổi theo hướng nào |
| So sánh hai doanh nghiệp | Khác nhau ở đâu, vì sao có thể khác, và điều gì báo cáo này không cho biết |
| Tư vấn cho một bên liên quan | Các con số chống đỡ cho quyết định nào, và điều gì sẽ làm bạn đổi lời khuyên |
Bằng chứng: Marton và Säljö (1976) phân biệt cách học bề mặt, tập trung tái hiện lại tài liệu, với cách học chiều sâu, tập trung vào ý nghĩa nằm sau tài liệu ấy, và họ đo được rằng hai cách cho ra kết quả khác hẳn nhau ở những nhiệm vụ đòi hỏi hiểu. Cày thủ tục chính là một cách học bề mặt được thực hiện rất tốt. Nó hiệu quả cho việc tái hiện và không chuyển hoá được sang một câu hỏi về ý nghĩa, nên số giờ bỏ thêm ra thường không đẩy điểm lên, đúng kết quả Marton và Säljö (1976) đo được ở những nhiệm vụ đòi hỏi hiểu.
Beaver (1966) công bố trên Journal of Accounting Research một trong những nghiên cứu đầu tiên cho thấy tỷ số tài chính đơn lẻ có thể dự báo khả năng phá sản trước khi nó xảy ra, và Altman (1968) trên Journal of Finance sau đó gộp nhiều tỷ số vào một mô hình phân biệt duy nhất, thường gọi là điểm Z. Cả hai nghiên cứu đều xây trên đúng logic mà môn học đang dạy, là một tỷ số chỉ có giá trị khi được đọc cùng với những gì nó dự báo. Nghiên cứu sau này trên Journal of Business Finance & Accounting và Journal of Banking & Finance tiếp tục mở rộng hướng đi đó sang các mô hình dự báo phức tạp hơn.
Ví dụ: Được yêu cầu nhận xét khả năng thanh toán của một doanh nghiệp, một bạn đưa ra ba tỷ số tính đúng cùng một câu kết luận rằng khả năng thanh toán ở mức ổn. Bài mạnh hơn chỉ dùng một tỷ số, chỉ ra rằng phần cải thiện gần như hoàn toàn đến từ khoản phải thu tăng chứ không phải tiền mặt tăng, và nhận xét rằng điều đó làm bức tranh thanh toán yếu đi chứ không mạnh lên. Ít phép tính hơn, nhiều điểm hơn, đúng logic mà Beaver (1966) và Altman (1968) cùng dựa vào khi coi một tỷ số chỉ có giá trị lúc được đọc cùng với điều nó dự báo, và đúng cách học chiều sâu mà Marton và Säljö (1976) tách khỏi học bề mặt.
Vì sao lợi nhuận và dòng tiền cứ tách rời nhau?
Trả lời trực tiếp: Bởi kế toán dồn tích ghi nhận doanh thu và chi phí vào lúc chúng phát sinh chứ không phải lúc tiền chuyển đi, nên một doanh nghiệp có lãi vẫn có thể cạn tiền, còn một doanh nghiệp đang lỗ vẫn có thể dương dòng tiền. Đây là ý dễ ra đề nhất của cả môn, và cũng là ý sinh viên hay phát biểu đúng nhưng không dùng được.
Bằng chứng: Báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ được tách ra chính là để chuyện này lộ ra, và đó là lý do đề thi hay đặt hai báo cáo đối diện nhau. Thuộc định nghĩa kế toán dồn tích không đồng nghĩa với việc giải thích được vì sao một doanh nghiệp báo lãi kỷ lục lại chật vật trả tiền nhà cung cấp. Cái thứ nhất là một dữ kiện, cái thứ hai là một suy luận, và chỉ cái thứ hai mới đáng điểm thật.
Dechow (1994) đo trực tiếp câu hỏi này trên Journal of Accounting and Economics, cho thấy lợi nhuận dồn tích dự báo hiệu quả doanh nghiệp tốt hơn dòng tiền thuần trong phần lớn trường hợp, ngược với trực giác của nhiều sinh viên mới học. Sloan (1996) trên The Accounting Review đi xa hơn, tách lợi nhuận thành phần tiền mặt và phần dồn tích, rồi cho thấy thị trường phản ứng chậm với phần dồn tích, một phát hiện sau này được gọi là bất thường dồn tích, xây tiếp trên nền mà Dechow (1994) đặt ra một năm trước đó.
Ví dụ: Cho một doanh nghiệp có lợi nhuận tăng nhưng dòng tiền từ hoạt động kinh doanh giảm, bài yếu sẽ nhắc lại rằng lợi nhuận và tiền khác nhau dưới kế toán dồn tích. Bài mạnh chỉ ra chênh lệch nằm ở đâu, lưu ý rằng khoản phải thu và hàng tồn kho đều tăng nhanh hơn doanh thu, rồi rút ra kết luận rằng doanh nghiệp có thể đang ghi nhận doanh thu chưa thu được tiền trong khi vốn bị chôn ở hàng chưa bán, đúng bất thường dồn tích mà Sloan (1996) mô tả khi thị trường phản ứng chậm với phần dồn tích của lợi nhuận.
Cách luyện: cầm bất kỳ bộ báo cáo nào và đặt một câu hỏi trước mọi câu khác, rằng lợi nhuận và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh lệch nhau ở chỗ nào và những khoản mục nào giải thích cho khoảng lệch ấy. Chỉ riêng thói quen đó đã biến một phần lớn các câu khó của môn thành phần quen thuộc, đúng câu hỏi mà Dechow (1994) đặt ra khi đo trực tiếp mối quan hệ giữa lợi nhuận dồn tích và hiệu quả doanh nghiệp.
Còn phần báo cáo phát triển bền vững và phi tài chính thì sao?
Trả lời trực tiếp: Phần này có ra đề, là nơi xuất hiện nhiều câu chữ chung chung nhất, và cũng là phần mà đa số tài liệu ôn xử lý kém vì chúng được chép lại từ tài liệu kế toán đời cũ.
Các môn báo cáo tài chính hiện nay đi xa hơn nhóm báo cáo cốt lõi để chạm tới công bố thông tin phi tài chính, tức cách các tổ chức báo cáo tác động xã hội và môi trường của mình cùng những khung khổ đang cố nối phần đó với kết quả tài chính. Ở UNSW, trọng tâm này không phải chuyện tình cờ: môn nằm trong một trường nơi công bố thông tin phi tài chính là một hướng nghiên cứu đang hoạt động, và người dạy môn cũng làm việc trong chính hướng đó.
Khung được nhắc tới nhiều nhất trong mảng báo cáo tích hợp từng do International Integrated Reporting Council, viết tắt IIRC, xây dựng, trước khi tổ chức này sáp nhập vào IFRS Foundation. Global Reporting Initiative, viết tắt GRI, vẫn là chuẩn công bố phi tài chính được dùng rộng nhất trên toàn cầu. Chuẩn mực báo cáo cốt lõi tại Úc do Australian Accounting Standards Board, viết tắt AASB, ban hành, và phần lớn khớp với chuẩn của International Accounting Standards Board, viết tắt IASB, cơ quan xây dựng International Financial Reporting Standards trên phạm vi toàn cầu.
Bằng chứng: de Villiers, Rinaldi và Unerman (2014) rà soát mảng nghiên cứu mới nổi về báo cáo tích hợp và chỉ ra cả những gì lĩnh vực này tuyên bố lẫn những chỗ bằng chứng còn mỏng, và đó là một tư thế đáng mượn lại. Chính bài báo nêu rõ mục đích đó ngay trong phần tóm tắt: "The purpose of this paper is to synthesise insights from accounting and accountability research into the rapidly emerging field of integrated reporting and proposes a comprehensive agenda for future research in this area" (de Villiers, Rinaldi, & Unerman, 2014). Báo cáo tích hợp là một thực hành còn tranh cãi, kèm theo những phê phán có cơ sở, trong đó có mối lo rằng nó mang lại trách nhiệm giải trình thật hay chỉ mang lại cách trình bày đẹp hơn. Một bài coi nó là điều tốt hiển nhiên sẽ yếu hơn một bài giải thích được lợi ích mà nó nhắm tới rồi gọi tên một giới hạn.
Ví dụ: Một bạn viết rằng báo cáo tích hợp giúp doanh nghiệp minh bạch hơn và bền vững hơn. Không có chữ nào sai và cũng không có chữ nào chấm được. Viết lại thành báo cáo tích hợp nhắm tới việc nối kết quả tài chính với kết quả phi tài chính trong một bản trình bày duy nhất, nhưng phần lớn việc báo cáo là tự nguyện và do chính doanh nghiệp chọn nội dung, nên khả năng so sánh giữa các doanh nghiệp vẫn hạn chế, thì câu đó đã trở thành một luận điểm có lập trường, đúng cách de Villiers, Rinaldi và Unerman (2014) đối chiếu điều một lĩnh vực tuyên bố với chỗ bằng chứng còn mỏng.
Một điểm cần cẩn thận: đừng khẳng định một doanh nghiệp cụ thể có bền vững hay không dựa trên chính báo cáo của họ. Báo cáo là lời doanh nghiệp tự nói về mình, và coi nó như bằng chứng trung lập lại đúng là lỗi phân tích mà các phần này đang kiểm, đúng khoảng cách giữa tuyên bố và bằng chứng mà de Villiers, Rinaldi và Unerman (2014) chỉ ra trong mảng báo cáo tích hợp.
Sinh viên quốc tế hay mất điểm ở đâu?
Trả lời trực tiếp: Ở các câu trả lời viết ngắn chứ không phải ở phần tính, và thường vì mô tả trong khi đề yêu cầu đánh giá.
Các bạn đến từ nền giáo dục thưởng cho việc tái hiện chính xác thường vào môn này rất mạnh ở phần kỹ thuật và tương đối ít luyện ở việc viết một phán đoán có thể bảo vệ được trong vài câu. Hình thức đề còn làm chuyện đó nặng thêm, bởi một câu trả lời ba dòng, thường giới hạn trong khoảng 100 tới 200 từ, không có chỗ nào để nấp, nên thói quen tóm tắt lại tình hình trước khi dám nêu quan điểm sẽ ăn hết đất và không còn chỗ cho chính cái quan điểm ấy.
Cách chữa nằm ở cấu trúc. Nêu phán đoán trước, rồi chống đỡ cho nó, rồi ghi chú giới hạn. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp đã yếu đi. Phần cải thiện của tỷ số thanh toán hiện hành đến từ khoản phải thu chứ không phải tiền mặt, và tốc độ thu hồi có dấu hiệu chậm lại. Cách đọc này giả định các khoản phải thu thật sự thu được, điều mà chỉ nhìn báo cáo thì chưa thấy. Ba câu, có lập trường, có bằng chứng, có điểm dè chừng, đúng cấu trúc rào đón mà Hyland (1998) mô tả khi người viết đánh dấu chính xác mức độ chắc chắn của một tuyên bố.
Hyland (1998) nghiên cứu đúng dạng rào đón này trong văn viết học thuật, cho thấy các cụm hedging không phải dấu hiệu thiếu tự tin, mà là cách người viết đánh dấu chính xác mức độ chắc chắn của một tuyên bố. Nhiều chương trình quốc tế hoá đề thi kiểu này để khớp với đề cương của CPA Australia và Chartered Accountants Australia and New Zealand, viết tắt CA ANZ, hai tổ chức đều đặt trọng số cao cho câu trả lời viết ngắn có lập trường, cũng như Association of Chartered Certified Accountants, viết tắt ACCA, ở đề thi quốc tế của mình.
Một lưu ý về thuật ngữ: hãy giữ nguyên thuật ngữ tiếng Anh và dùng cho thật chuẩn. Revenue, profit, cash flow và equity không thay thế được cho nhau, liquidity và solvency cũng vậy. Dùng lỏng lẻo sẽ bị đọc là hổng khái niệm chứ không phải yếu ngoại ngữ, và ở môn này người chấm không phân biệt được hai chuyện đó, đúng kỷ luật rào đón mà Hyland (1998) mô tả cho văn viết học thuật.
Nên ôn thi thế nào?
Trả lời trực tiếp: Bằng cách luyện diễn giải trên những bộ báo cáo chưa từng thấy, viết ra giấy, có bấm giờ.
Quy trình hiệu quả khá ngắn. Lấy một bộ báo cáo tài chính đã công bố thật, dành mười phút, rồi viết ba câu: điều gì nổi lên, điều gì giải thích cho nó, và điều gì chỉ nhìn bộ báo cáo này thì chưa xác định được. Câu thứ ba mới là câu tách bài giỏi ra khỏi phần còn lại, bởi biết giới hạn của bằng chứng cũng là một phần của cái gọi là phân tích, đúng điều Beaver (1966) và Altman (1968) đều thừa nhận khi một mô hình dự báo phá sản vẫn có thể sai.
Ericsson và cộng sự (1993) mô tả khái niệm luyện tập có chủ đích trên Psychological Review, phân biệt nó với việc lặp lại đơn thuần bằng chỗ có phản hồi tức thời và mục tiêu cụ thể cho từng buổi luyện. Quy trình 3 câu hỏi vừa nêu chính là một phiên bản thu nhỏ của luyện tập có chủ đích, áp cho việc diễn giải báo cáo tài chính trong 20 tới 30 phút mỗi lần. Kỹ năng đọc báo cáo tài chính này cũng là trọng tâm trong đề cương thi Chartered Financial Analyst của CFA Institute và trong chứng chỉ Certified Practising Accountant do CPA Australia cấp, đúng kỹ năng diễn giải mà Beaver (1966) đặt nền móng khi công bố nghiên cứu của mình.
Bằng chứng: Cách này mô phỏng đúng nhiệm vụ được chấm theo kiểu mà việc làm lại bài mẫu không làm được. Một bài mẫu đã chứa sẵn phần diễn giải, nên đọc lại nó chỉ luyện khả năng nhận ra chứ không luyện khả năng tạo ra, và đó đúng là cái bẫy Marton và Säljö (1976) đã chỉ tên, cùng loại bẫy mà Ericsson và cộng sự (1993) tách khỏi luyện tập có chủ đích thật sự.
Mentor MAAS thực sự làm gì với một môn như thế này?
MAAS làm việc với vai trò cố vấn học thuật. Với COMM1140, phần việc có ích gần như nằm hết ở phía diễn giải chứ không ở việc dò lại phép tính. Mentor sẽ hỏi một con số có nghĩa gì trước khi hỏi nó có đúng không, đẩy bạn phải nêu lập trường trong câu trả lời ngắn thay vì mô tả lại tình hình, kiểm xem phần viết về phát triển bền vững của bạn có đang nêu một luận điểm hay mới chỉ nghe cho tích cực, và đọc các câu trả lời viết để xem bằng chứng bạn dẫn có thật sự chống đỡ cho phán đoán bạn rút ra. Bạn tự tính, tự hình thành quan điểm và tự nộp bài của mình, đúng cách luyện tập có chủ đích mà Ericsson và cộng sự (1993) mô tả, có phản hồi tức thời cho từng buổi luyện chứ không phải làm hộ.
Câu hỏi thường gặp
Bài này viết cho trường nào?
UNSW Sydney, nơi COMM1140 là Financial Management, môn 6 tín chỉ trong năm nhất tích hợp của chương trình Bachelor of Commerce. Mã bắt đầu bằng COMM cũng được dùng ở trường khác cho những môn chẳng liên quan, nên hãy xác nhận tên môn trên hồ sơ đăng ký của bạn, đúng cảnh báo mã môn trùng lặp mà chính handbook UNSW Sydney nêu rõ cho từng năm nhập học.
Đây là môn kế toán hay môn tài chính?
Đây là môn về báo cáo và phân tích tài chính, dù tên gọi dễ gây hiểu khác. Trọng tâm nằm ở hiểu và diễn giải những gì các tổ chức công bố, chứ không nằm ở định giá hay tài chính doanh nghiệp, hai mảng đó tới sau, đúng hướng nghiên cứu mà Ball và Brown (1968) mở ra khi đo phản ứng thị trường với thông tin kế toán, hướng mà Beaver (1966) và Altman (1968) sau đó áp thẳng vào dự báo phá sản.
Em không có nền kế toán thì có học được không?
Được. Đây là môn năm nhất thuộc phần lõi tích hợp, sinh viên khắp chương trình Bachelor of Commerce đều học, gồm rất nhiều bạn không định theo chuyên ngành kế toán. Có nền từ trước giúp ích cho phần kỹ thuật và không giúp gì cho phần diễn giải, mà điểm lại dồn ở phần diễn giải, đúng cách học chiều sâu mà Marton và Säljö (1976) phân biệt với cách học bề mặt.
Năm nhất tích hợp gồm bao nhiêu môn?
Tài liệu lộ trình học công bố của Business School đặt ở mức 48 tín chỉ trải trên tám môn, trong đó có COMM1140, cộng thêm các yêu cầu portfolio myBCom. Cấu trúc chương trình có được rà soát lại, nên hãy kiểm handbook theo đúng năm nhập học của bạn.
Lỗi né được mà hay mắc nhất là gì?
Trả lời một câu hỏi vì sao hoặc điều này nghĩa là gì bằng một phép tính. Nếu đề không hỏi con số thì con số không phải câu trả lời, đúng ranh giới giữa dữ kiện và suy luận mà Dechow (1994) và Sloan (1996) đều dựa vào khi tách lợi nhuận thành phần tiền mặt và phần dồn tích.
Em học marketing hoặc quản trị thì môn này có quan trọng không?
Có, và quan trọng hơn mức các bạn nghĩ. Khả năng đọc báo cáo tài chính được mặc định là đã có ở các môn lõi về sau và ở phần lớn công việc sau tốt nghiệp, còn thiết kế năm nhất tích hợp nghĩa là các môn sau xây tiếp lên nó chứ không dạy lại. Institute of Chartered Accountants in England and Wales, viết tắt ICAEW, đặt đúng yêu cầu diễn giải tương tự trong đề thi chuyên nghiệp của mình, và American Accounting Association xuất bản phần lớn nghiên cứu nền cho cách dạy đó, thường trên tập san The Accounting Review đã nhắc ở trên, trên Contemporary Accounting Research, hoặc trên Journal of Financial Economics, tập san được coi trọng bậc nhất trong ngành tài chính doanh nghiệp, ngang hàng với Review of Financial Studies.
Câu trả lời viết cho phần diễn giải nên dài bao nhiêu?
Không có con số cố định cho môn này, nhưng nhiều báo cáo phân tích tài chính ở bậc đại học nói chung yêu cầu độ dài trong khoảng 800 tới 1.500 từ cho phần lập luận, ngắn hơn nhiều so với một bài luận, đúng vì trọng tâm là lập luận cô đọng chứ không phải mô tả dài dòng.
Bài liên quan
Trao đổi với mentor MAAS về môn học của bạn
References
Ball, R., & Brown, P. (1968). An empirical evaluation of accounting income numbers. Journal of Accounting Research, 6(2), 159–178. https://doi.org/10.2307/2490232
Altman, E. I. (1968). Financial ratios, discriminant analysis and the prediction of corporate bankruptcy. Journal of Finance, 23(4), 589–609. https://doi.org/10.1111/j.1540-6261.1968.tb00843.x
Beaver, W. H. (1966). Financial ratios as predictors of failure. Journal of Accounting Research, 4, 71–111. https://doi.org/10.2307/2490171
Ericsson, K. A., Krampe, R. T., & Tesch-Römer, C. (1993). The role of deliberate practice in the acquisition of expert performance. Psychological Review, 100(3), 363–406.
de Villiers, C., Rinaldi, L., & Unerman, J. (2014). Integrated reporting: Insights, gaps and an agenda for future research. Accounting, Auditing & Accountability Journal, 27(7), 1042–1067. https://doi.org/10.1108/AAAJ-06-2014-1736
Dechow, P. M. (1994). Accounting earnings and cash flows as measures of firm performance: The role of accounting accruals. Journal of Accounting and Economics, 18(1), 3–42. https://doi.org/10.1016/0165-4101(94)90016-7
Hyland, K. (1998). Hedging in scientific research articles. John Benjamins Publishing Company.
Marton, F., & Säljö, R. (1976). On qualitative differences in learning: I. Outcome and process. British Journal of Educational Psychology, 46(1), 4–11. https://doi.org/10.1111/j.2044-8279.1976.tb02980.x
Sloan, R. G. (1996). Do stock prices fully reflect information in accruals and cash flows about future earnings? The Accounting Review, 71(3), 289–315.
