Skip to content
Quay lại BlogBusiness & Management

BUSS1040: vì sao cách viết của bạn bị chấm ngay trong bài thi?

18 phút đọc3,535 từ

Cách viết của bạn bị chấm ngay trong bài thi BUSS1040 vì chuẩn đầu ra thứ ba của môn yêu cầu thể hiện khả năng giao tiếp bằng văn bản, và nói rõ nơi thể hiện là bài kiểm tra giữa kỳ cùng bài thi cuối kỳ. Bài viết này giúp bạn hiểu điều kiện đầu vào mà ít ai đọc kỹ, viết câu trả lời kinh tế theo đúng thứ tự người chấm tìm kiếm khi đang bị bấm giờ, và sửa những thói quen tiếng Anh hay làm mất điểm.

Phần lớn môn kinh tế học năm nhất tách phần viết khỏi phần kỹ thuật, đặt lập luận vào bài luận và đặt kỹ thuật vào bài kiểm tra. BUSS1040 không làm vậy. Một câu trong chuẩn đầu ra đã dời việc viết vào chỗ áp lực thời gian lớn nhất của cả môn, và đó là lý do nhiều sinh viên viết tốt khi làm bài ở nhà vẫn mất điểm ở đây.

Tác giả: Ban Biên tập MAAS
Cập nhật lần cuối: 21/08/2026
Chuyên mục: business-management

Ba đồng nghiệp đứng trong văn phòng hiện đại trao đổi về chiến lược kinh doanh
Ảnh minh hoạ

Môn này là gì, và điều kiện đầu vào ít ai đọc

Trả lời trực tiếp: BUSS1040 Economics for Business Decision Making là môn bậc cử nhân 6 tín chỉ (credit points) do University of Sydney Business School giảng dạy, mở ở cả Semester 1 và Semester 2 tại cơ sở Camperdown/Darlington. Môn không có môn tiên quyết nhưng có giả định về nền toán phổ thông cuối cấp, và bị loại trừ (prohibited) với hai môn kinh tế nhập môn khác.

Bằng chứng: Trang môn học công bố mở đầu bằng khẳng định rằng "Economics underlies all business decisions, from pricing to product development, to negotiations, to understanding the general economic environment." Trang ghi môn không có môn tiên quyết, loại trừ với ECON1001 và ECON1040, và giả định người học có nền toán tương đương band 4 môn Mathematics Advanced của kỳ thi NSW HSC, hoặc band E3 của Mathematics Extension 1 hoặc 2, hoặc môn MATH1111.

Khoảng cách giữa không có môn tiên quyết và có kiến thức giả định chính là chỗ sinh viên chịu thiệt. Môn tiên quyết chặn việc đăng ký, còn kiến thức giả định thì không chặn gì cả, nên một sinh viên chưa đạt Band 4 Mathematics Advanced vẫn đăng ký được vào thứ Hai rồi gặp bài biến đổi đường cầu vào thứ Sáu mà không ai báo trước. NSW Education Standards Authority (n.d.) cho biết trên thang điểm công bố của HSC, ngưỡng Band 4 nằm ở 70 trên 100 điểm, Band 5 ở 80 và Band 6 ở 90, nghĩa là mức giả định này cao hơn mức đậu suông nhưng chưa phải mức xuất sắc. NESA chỉ công bố thang điểm đã hiệu chỉnh chứ không công bố điểm thô đứng sau các ngưỡng đó, nên sinh viên không thể chỉ nhìn bảng điểm thô mà biết chắc mình nằm ở bên nào của Band 4 trước khi có kết quả chính thức. Cơ quan này nói rõ lý do: "the NSW Education Standards Authority (NESA) uses a procedure called 'standards setting' to align raw exam marks to performance band descriptions" (NSW Education Standards Authority, n.d.), nghĩa là ngưỡng Band 4 mà môn học giả định bạn đã vượt qua là một điểm đã được hiệu chỉnh, không phải điểm thi thô. Trang môn học cũng chấp nhận band E3 của Mathematics Extension 1 hoặc 2 là tương đương, điều mà cách nói tắt Band 4 Advanced che mất. Nếu toán phổ thông của bạn là Mathematics Standard chứ không phải Mathematics Advanced, hãy coi 3 tuần đầu là thời gian học bù chứ không phải ôn lại, và học bù xong trước bài kiểm tra giữa kỳ thay vì sau đó. Môn MATH1111 Introduction to Calculus của University of Sydney là lựa chọn thay thế được nêu tên, và nó mang đúng 6 tín chỉ như chính BUSS1040.

Danh sách môn loại trừ cũng cho bạn biết nhiều điều. Vì BUSS1040 bị loại trừ với ECON1001, hai môn được xem là thay thế cho nhau chứ không bổ sung cho nhau. Bạn không học một môn kinh tế nhẹ hơn song song với môn chính. Bạn học đúng phiên bản kinh tế học nhập môn mà University of Sydney Business School đã hướng vào quyết định kinh doanh, và môn được chấm theo đúng hướng đó. ECON1040 là mã của Sydney School of Economics nằm cùng dòng loại trừ, nên hạn chế này chặn 2 con đường thay thế chứ không phải 1.


Vì sao chuẩn đầu ra về viết làm thay đổi cách ôn tập?

Trả lời trực tiếp: Chuẩn đầu ra về viết làm thay đổi cách ôn tập vì môn kiểm tra lập luận và kỹ thuật trong cùng một buổi thi. Chuẩn đầu ra thứ ba gắn giao tiếp bằng văn bản vào bài kiểm tra giữa kỳ và bài thi cuối kỳ, nên sự rõ ràng không phải một phần đánh giá riêng để chuẩn bị riêng. Nó được chấm ngay khi bạn đang bị bấm giờ, nằm sát bên cạnh đồ thị.

Bảng so sánh những gì sinh viên thường luyện cho bài thi kinh tế BUSS1040 với điều chuẩn đầu ra thực sự yêu cầu, qua đồ thị, độ co giãn và tác động vĩ mô
Chuẩn đầu ra thứ ba gắn kỹ năng viết vào bài kiểm tra giữa kỳ và bài thi cuối kỳ

Sinh viên ôn thi kinh tế bằng cách luyện thao tác, như dịch chuyển đường cong, tìm điểm cân bằng mới, tính độ co giãn, đánh dấu phần tổn thất vô ích (deadweight loss). Cách luyện đó cần thiết nhưng chưa đủ ở môn này, vì một câu trả lời được chấm ở đây thường là một đoạn văn ngắn trong đó đồ thị chỉ đóng vai minh hoạ. Câu trả lời dừng ở đồ thị là câu trả lời dừng trước đúng bước được chấm điểm.

Sinh viên thường luyện Chuẩn đầu ra thật sự đòi hỏi
Vẽ đúng đồ thị Giải thích đồ thị đó hàm ý gì cho một quyết định cụ thể
Thuộc định nghĩa độ co giãn Dùng độ co giãn để lập luận nên hay không nên đổi một mức giá cụ thể
Liệt kê tác động vĩ mô của một chính sách Đánh giá tác động nào trội hơn với doanh nghiệp này, và nói vì sao

Bằng chứng: Hansen (2001) đặt ra bộ năng lực kỳ vọng cho sinh viên kinh tế bậc cử nhân, và xếp khả năng trình bày lập luận kinh tế bằng văn bản, cho cả người ngoài ngành đọc hiểu, ngang hàng với các năng lực kỹ thuật chứ không xếp bên dưới. Siegfried và cộng sự (1991), viết trước đó một thập kỷ trên cùng tạp chí, lập luận rộng hơn rằng mục tiêu của kinh tế học bậc cử nhân là dạy sinh viên "think like an economist", một kỹ năng họ mô tả là thói quen suy luận chứ không phải một khối kiến thức để nhớ lại. Về sau, Colander (2004) nối thẳng cả hai ý đó vào phương pháp giảng dạy, lập luận rằng lối chỉ giảng bài trên lớp khiến thói quen ấy không được luyện.

Ví dụ: Khi được hỏi một chuỗi cà phê có nên tăng giá sau một cú sốc nguồn cung hay không, một sinh viên vẽ đúng đường cung dịch chuyển, đánh dấu điểm cân bằng mới, rồi dừng lại. Một sinh viên khác dùng đúng đồ thị ấy, chỉ ra rằng khách của chuỗi có vài lựa chọn thay thế ngay gần đó, lập luận rằng vì thế cầu trong phân khúc này tương đối co giãn, và kết luận rằng chuyển toàn bộ chi phí tăng thêm sang giá bán sẽ làm giảm doanh thu. Hai đồ thị giống hệt nhau, nhưng chỉ bài thứ hai trả lời đúng câu được hỏi. Becker và Watts (2001) khảo sát cách dạy ở các khoa kinh tế tại Hoa Kỳ và thấy lối giảng đọc chép vẫn chiếm ưu thế, và phát hiện này giúp giải thích vì sao sinh viên bước vào môn với kỳ vọng rằng thứ được chấm là khả năng nhớ lại.


Cụm "for business decision making" thay đổi điều gì?

Trả lời trực tiếp: Cụm "for business decision making" đổi đơn vị phân tích của câu trả lời. Kinh tế học tổng quát hỏi chuyện gì xảy ra với một thị trường, còn môn này hỏi một doanh nghiệp cụ thể nên làm gì. Vì vậy câu trả lời nào cũng cần một chủ thể, một quyết định, và một khuyến nghị có kèm điều kiện được nêu rõ.

Chuẩn đầu ra thứ hai nói thẳng rằng sinh viên phân tích vấn đề kinh doanh bằng cách nhận diện và đánh giá phản biện hàm ý của các quyết định kinh doanh, dựa trên nguyên lý kinh tế vi mô và vĩ mô. Cặp động từ ở đây rất quan trọng. Nhận diện là nửa mô tả, và phần lớn sinh viên làm tốt nửa này. Đánh giá phản biện nghĩa là cân một hàm ý với một phương án khác rồi nói cái nào nhiều khả năng đúng hơn, và đó là chỗ tạo ra khác biệt về điểm số.

Một thói quen dùng được là kết mỗi câu trả lời bằng một câu điều kiện. Thay vì kết luận rằng doanh nghiệp nên giảm giá, hãy kết luận rằng doanh nghiệp nên giảm giá với điều kiện cầu trong phân khúc này co giãn và đối thủ không giảm giá theo trong cùng quý. Điều kiện đó không phải rào đón cho an toàn. Nó gọi tên giả định mà khuyến nghị của bạn dựa vào, và đó đúng là phần đánh giá phản biện mà chuẩn đầu ra đòi hỏi.

Colander (2004) lập luận rằng dạy kinh tế tốt là đặt giới hạn của mô hình lên trước vẻ đẹp của nó, và sinh viên học được nhiều nhất khi được chỉ cho thấy chỗ mô hình thôi mô tả đúng thế giới. Trong một môn xây quanh quyết định, những giới hạn ấy chính là nội dung. Một doanh nghiệp vướng hợp đồng khó điều chỉnh, thiếu thông tin về đối thủ, hay có tệp khách trung thành với thương hiệu không phải là doanh nghiệp không ma sát trong đồ thị giáo trình, và nói ra điều đó thật chính xác sẽ mang về điểm mà việc vẽ lại đồ thị không mang được.


Viết văn kinh tế trong sức ép thời gian thi thì làm sao?

Trả lời trực tiếp: Hãy viết kết luận trước, rồi tới cơ chế, rồi tới điều kiện giới hạn. Ba câu theo thứ tự này trả lời trọn vẹn phần lớn câu hỏi ngắn trong bài thi, và thứ tự đó còn bảo vệ bạn khi hết giờ, vì luận điểm được chấm điểm đã nằm sẵn trên giấy ngay từ câu đầu tiên.

Dưới sức ép thời gian, lỗi phổ biến là phần mở đầu quá dài. Sinh viên chép lại đề, định nghĩa khái niệm, mô tả đồ thị, rồi mới tới câu trả lời ở dòng cuối, mà dòng cuối đó thường là dòng không kịp viết. Đảo ngược thứ tự là một cách sửa cơ học không tốn gì để luyện.

Thói quen thứ hai là giữ cho đồ thị và câu chữ khớp nhau. Nếu phần viết nói sản lượng giảm mà đồ thị lại đặt điểm cân bằng mới lệch sang phải, người chấm không thể cho điểm lập luận dù một trong hai thứ đúng, vì xét toàn bộ thì câu trả lời đang tự mâu thuẫn. Hãy đối chiếu hai thứ trước khi sang câu kế tiếp, việc này chỉ tốn khoảng mười giây cho mỗi câu.

Thói quen thứ ba là gọi tên con số khi đề đã cho số. Nếu đề cho độ co giãn của cầu theo giá là 0,4, câu trả lời nói cầu khá ít nhạy với giá sẽ yếu hơn câu nói rằng tăng giá 10% làm lượng cầu giảm 4%, nên doanh thu tăng. Câu thứ hai đã làm phép tính mà câu thứ nhất chỉ gợi ý, và phép tính thì nhanh. Độ co giãn nhỏ hơn 1 nghĩa là cầu ít co giãn, lớn hơn 1 nghĩa là cầu co giãn, và riêng ngưỡng đó quyết định chiều của kết luận về doanh thu trong một phần lớn các câu hỏi ngắn của BUSS1040.


Thói quen tiếng Anh nào làm mất điểm trong một bài kinh tế?

Trả lời trực tiếp: Trở ngại hiếm khi nằm ở từ vựng mà nằm ở cách rào đón và các từ nối. Câu trả lời kinh tế xoay quanh ngôn ngữ nhân quả chính xác, trong khi sinh viên hay thay một khẳng định nhân quả bằng một câu mơ hồ. Người chấm đọc câu mơ hồ đó là thiếu lập luận chứ không đọc là khó khăn về ngôn ngữ, và chấm điểm theo đúng cách đọc ấy.

Từ vựng chuyên ngành kinh tế học được, và phần lớn sinh viên quốc tế học rất nhanh, vì số thuật ngữ ít và lặp lại nhiều. Cái khó nằm ở những từ nối gánh lập luận, như therefore, provided that, unless, which implies, all else equal. Một câu trả lời nối các quan sát lại chỉ bằng and là để người chấm tự suy ra lập luận, trong khi người chấm được yêu cầu chấm đúng những gì được viết ra.

Kiểu lỗi thứ hai là rào đón chồng lớp. Viết rằng tăng giá may possibly tend to làm giảm cầu là bọc ba lớp thận trọng quanh một khẳng định mà môn học mong bạn nói thẳng. Kinh tế học vốn có sẵn một lớp rào chuẩn là cụm all else equal, và một cụm đó làm được việc của cả ba lớp kia. Hãy dùng nó một lần rồi khẳng định dứt khoát.

Một bài luyện thực tế là mỗi tuần viết mười câu trả lời theo khuôn because X, Y, provided that Z, lấy tình huống từ chính các câu hỏi tutorial của bạn. Khuôn này đủ ngắn để luyện, và đó đúng là khuôn mà bài thi thưởng điểm. Mười câu mỗi tuần qua một học kỳ 13 tuần cho bạn khoảng 130 câu trả lời đã luyện trước kỳ thi cuối, nhiều hơn số lần thực hành mà phần lớn sinh viên tích luỹ được bằng cách đọc lại slide bài giảng. Hansen (2001) lập luận rằng một chương trình kinh tế nên được đánh giá bằng những gì sinh viên tốt nghiệp làm được chứ không bằng những gì họ đã học qua, và đó là lý do nên luyện chính phần thể hiện thay vì đọc lại tài liệu.


Một cố vấn giúp được gì ở môn chấm bằng cách viết?

Trả lời trực tiếp: Với một môn chấm bằng câu trả lời viết trong phòng thi, phần việc của cố vấn nằm hết ở giai đoạn chuẩn bị. Cố vấn cùng bạn soát lại những câu trả lời bạn đã tự viết, hỏi xem kết luận có đi ra từ cơ chế hay không, và giúp bạn luyện khuôn kết luận, cơ chế, điều kiện. Nếu toán là rào cản, bước đầu là tìm đúng thao tác bạn còn thiếu.

Cố vấn không thể vào phòng thi cùng bạn, nên mọi việc phải làm từ trước. Với một môn như thế này, một buổi làm việc thường bắt đầu từ một câu hỏi tutorial mà bạn đã tự làm, cùng xem kết luận của bạn có thật sự suy ra từ cơ chế bạn nêu hay không, rồi luyện khuôn ba câu cho tới khi nó thành phản xạ lúc bị bấm giờ. Khi rào cản nằm ở toán, việc đầu tiên là chẩn đoán, tức tìm ra đúng thao tác nào đang thiếu thay vì dạy lại cả chương trình. Trên thực tế thường chỉ thiếu 2 hoặc 3 thao tác, hay gặp nhất là biến đổi một phương trình cầu tuyến tính và đọc hệ số góc, chứ không phải thiếu toàn bộ Mathematics Advanced.

Nếu bạn đi theo hướng hỗ trợ học thuật, hãy mang theo bài kiểm tra giữa kỳ đã có điểm thay vì một đề bài còn trắng. Khoảng cách giữa điều bạn viết ra và điều được cho điểm là công cụ chẩn đoán nhanh nhất hiện có, và nó gắn với đúng cách bài của riêng bạn đang hỏng.


Câu hỏi thường gặp

Mình có cần học kinh tế từ phổ thông không?
Không. Trang môn học ghi không có môn tiên quyết và không giả định kiến thức kinh tế. Môn chỉ giả định nền toán tương đương band 4 Mathematics Advanced, hoặc band E3 Mathematics Extension 1 hoặc 2, hoặc MATH1111, và đây là một điều kiện khác, ràng buộc chặt hơn.

Mình học BUSS1040 cùng ECON1001 được không?
Không. Danh sách loại trừ công bố ghi ECON1001 và ECON1040, nghĩa là các môn này được tính là thay thế cho nhau. Hãy kiểm tra danh sách loại trừ của đúng năm bạn nhập học trước khi lên kế hoạch chuyên ngành.

Môn nghiêng về vi mô hay vĩ mô?
Cả hai. Chuẩn đầu ra thứ nhất nêu rõ bối cảnh thực tế ở cả cấp vĩ mô lẫn vi mô, còn chuẩn đầu ra thứ hai nêu nguyên lý kinh tế vi mô và vĩ mô. Chỉ ôn phần vi mô là một giả định phổ biến và phải trả giá đắt.

Bao nhiêu phần điểm phụ thuộc vào cách viết?
Môn không công bố tỷ lệ phần trăm, và chi tiết đánh giá nằm trong unit outline được phát hành khoảng 2 tuần trước khi bắt đầu giảng dạy. Điều đã được công bố là giao tiếp bằng văn bản được kiểm tra qua bài kiểm tra giữa kỳ và bài thi cuối kỳ, nên hãy coi nó được chấm ở cả hai.

Vẽ đồ thị thôi có đủ không?
Hiếm khi đủ. Đồ thị chống lưng cho một luận điểm chứ tự nó không phải là luận điểm. Chuẩn đầu ra đòi giải thích và đánh giá phản biện, mà cả hai đều là những việc được thực hiện bằng câu chữ.

Lời khuyên này chỉ đúng cho Sydney, hay đúng ở mọi môn kinh tế chấm bằng bài viết?
Các dữ kiện riêng của môn, gồm 6 tín chỉ, giả định toán Band 4, và việc loại trừ với ECON1001 và ECON1040, lấy từ chính trang môn học mà University of Sydney công bố. Còn lời khuyên về cách viết trong phòng thi thì không riêng cho môn này. Hansen (2001), Siegfried và cộng sự (1991), Becker và Watts (2001), cùng Colander (2004) viết về cách dạy kinh tế học bậc cử nhân nói chung, nên khuôn ba câu và thói quen dùng all else equal áp dụng được cho bất kỳ môn kinh tế năm nhất nào chấm bằng câu trả lời viết.


Nguồn của hướng dẫn này

Các nhận định về cách dạy và cách chấm kinh tế học trong bài được rút từ bốn nguồn bình duyệt về giáo dục kinh tế bậc cử nhân, không rút từ lời khuyên kỹ năng học tập chung chung. Hansen (2001) và Siegfried và cộng sự (1991) cùng đăng trên The Journal of Economic Education, cách nhau mười năm, Becker và Watts (2001) đăng trên American Economic Review, còn Colander (2004) đăng trên International Review of Economics Education. Cả bốn được trích đúng vì những gì chúng nói về cách kinh tế học được dạy và được đánh giá, không diễn giải lại từ một bản tóm tắt thứ cấp.

Đọc thêm

Hỏi cố vấn MAAS về môn của bạn


References

Becker, W. E., & Watts, M. (2001). Teaching economics at the start of the 21st century: Still chalk-and-talk. American Economic Review, 91(2), 446–451. https://doi.org/10.1257/aer.91.2.446

Colander, D. (2004). The art of teaching economics. International Review of Economics Education, 3(1), 63–76. https://doi.org/10.1016/S1477-3880(15)30144-4

Hansen, W. L. (2001). Expected proficiencies for undergraduate economics majors. The Journal of Economic Education, 32(3), 231–242. https://doi.org/10.1080/00220480109596105

NSW Education Standards Authority. (n.d.). Determining HSC results. Retrieved August 21, 2026, from https://www.nsw.gov.au/education-and-training/nesa/hsc/results-and-certificates/determining-results

Siegfried, J. J., Bartlett, R. L., Hansen, W. L., Kelley, A. C., McCloskey, D. N., & Tietenberg, T. H. (1991). The status and prospects of the economics major. The Journal of Economic Education, 22(3), 197–224. https://doi.org/10.1080/00220485.1991.10844710

Chia sẻ bài viếtFacebookLinkedInZaloEmail
Cần áp dụng vào bài của bạn?

Từ bài viết này
đến bài của bạn.

Trong một buổi tư vấn miễn phí 15 phút, chuyên gia Tiến sĩ và Thạc sĩ của MAAS nghe đề bài hoặc đề tài của bạn cùng yêu cầu của người hướng dẫn, rồi gợi ý cách áp dụng nội dung bài này vào đúng trường hợp đó.