Chuyên mục: admissions
Cập nhật lần cuối: 03/09/2026

Có bạn dành cả tuần đi tìm điểm khác nhau giữa hai cái tên này, đọc mười mấy bài mà bài nào cũng định nghĩa một kiểu, rồi vẫn chưa viết được chữ nào. Cuộc tìm kiếm đó thất bại vì nó giả định hai cái tên đánh dấu hai loại văn bản có quy cách riêng đã thống nhất. Trong nghiên cứu thể loại kể từ Samraj và Monk (2008), chúng chỉ là hai cái nhãn theo vùng của cùng một thể loại, còn bản yêu cầu ràng buộc bạn thì nằm ở chỗ khác.
Trả lời trực tiếp: Statement of purpose, personal statement và motivation letter phần lớn là các tên gọi thay thế nhau của cùng một thể loại, nên cái tên nói rất ít về việc phải viết gì. Thứ quyết định nội dung là câu hỏi chương trình in cạnh ô nộp bài, là ngành bạn nộp vào, và ở bậc tiến sĩ còn là phần lập luận mà bản đề cương nghiên cứu đã đảm nhận.
Cho nên việc đầu tiên không phải là đi tra một định nghĩa, mà là đi tìm bản yêu cầu của chính chương trình đó, bởi đây là bản duy nhất có tính ràng buộc và nó khác nhau giữa các khoa trong cùng một trường, như trường hợp ba khoa ở nghiên cứu năm 2008 dưới đây.
Một statement of purpose có cấu trúc cơ bản như thế nào?
Trả lời trực tiếp: Nghiên cứu thể loại trên 35 bài đã trúng tuyển tìm ra một cấu trúc năm bước gồm mở đầu, nền tảng cá nhân, lý do nộp đơn, hoạt động ngoài chương trình và kết luận. Chỉ hai trong năm bước có mặt ở mọi bài. Phần nền tảng dựng lên mức phù hợp của ứng viên, còn phần lý do nộp đơn dựng lên chuyện tấm bằng này đáng theo đuổi (Samraj & Monk, 2008).

Samraj và Monk (2008) phân tích 35 bài đã trúng tuyển nộp cho ba chương trình thạc sĩ tại một trường đại học ở Mỹ, gồm 12 bài ngành Linguistics, 9 bài ngành Electrical Engineering và 14 bài ngành Business Administration, kèm phỏng vấn một chuyên gia tuyển sinh của từng khoa. Cả ba ngành dùng chung năm bước, ba trong năm bước là tuỳ chọn, và chỉ hai bước nền tảng cùng lý do nộp đơn xuất hiện ở mọi bài. Khác biệt giữa các ngành nằm ở những thao tác nhỏ thực hiện từng bước chứ không nằm ở các bước, nên một lời khuyên chép từ ngành khác đọc lên sẽ thấy chênh chứ không hẳn sai.
Có một dòng trong bảng kết quả của họ cho thấy khoảng cách ấy xa tới mức nào. Trong bước nền tảng, thao tác mà ứng viên nói về nghiên cứu của chính mình xuất hiện ở 8 trên 9 bài ngành Electrical Engineering (Samraj & Monk, 2008), 1 trên 12 bài ngành Linguistics, và 0 trên 14 bài ngành Business Administration. Kinh nghiệm làm việc thì đi theo chiều ngược lại, có mặt ở 10 trên 12 bài Linguistics và 11 trên 14 bài Business Administration. Một bản mẫu chung áp cho cả ba hồ sơ đó sẽ phân bổ sai phần lớn dung lượng bài viết.
Bước lý do nộp đơn cũng tách ra theo cùng một kiểu. Thao tác nêu chỗ hổng trong nền tảng của bản thân xuất hiện ở 10 trên 14 bài Business Administration nhưng chỉ 2 trên 9 bài Electrical Engineering, còn thao tác nêu lý do thuộc về chuyên môn và nghiên cứu thì đảo ngược, với 7 trên 9 bài Electrical Engineering so với 2 trên 14 bài Business Administration (Samraj & Monk, 2008).
Nằm dưới cấu trúc này là hai mục tiêu thuyết phục khác nhau. Ở bước nền tảng, ứng viên lập luận vì sao chương trình nên muốn nhận mình, còn ở bước lý do thì lập luận vì sao chương trình đáng để mình theo. Bản nháp chỉ làm được vế đầu đọc như một bản CV viết thành văn xuôi, còn bản nháp chỉ làm được vế sau đọc như sự háo hức không kèm bằng chứng.
Một bài viết hiệu quả trên thực tế trông ra sao?
Trả lời trực tiếp: Có một nghiên cứu lớn trên 2.701 ứng viên thạc sĩ đã đo được điều này. Nội dung gắn riêng với chương trình thì cho kết quả tốt, còn những lời khen chung chung dành cho thành phố và cho trường thì cho kết quả xấu, ít nhất là khi dùng để dự đoán điểm số mà sinh viên đạt được về sau (de Boer và cộng sự, 2024).
De Boer và cộng sự (2024) áp dụng phương pháp Latent Dirichlet Allocation lên bài luận nộp hồ sơ của 2.701 sinh viên thạc sĩ thuộc bốn khoá nhập học từ 2014 tới 2017 tại một khoa ở Hà Lan, trong đó 2.051 người tốt nghiệp và 650 người bỏ dở. Họ tách ra bảy nhóm nội dung, năm nhóm trong số đó có quan hệ đáng kể về mặt thống kê với điểm số bậc thạc sĩ. Hai nhóm mang tên "gắn riêng với chương trình" và "hứng thú học hỏi" cho tác động dương (de Boer và cộng sự, 2024), còn ba nhóm mang tên "kỹ năng nghiên cứu", "tác động xã hội" và "thành phố và trường" cho tác động âm.
Kết quả này đo mối liên hệ giữa nội dung bài luận với thành tích học tập về sau chứ không đo mối liên hệ với việc có được nhận hay không, và nó đến từ một khoa tại một quốc gia. Đọc trong đúng phạm vi đó thì nó vẫn nói được một điều dùng được, rằng những đoạn khen trường là những đoạn ứng viên nào cũng viết được, và chúng chiếm mất chỗ đáng ra dành cho phần lập luận gắn riêng với chương trình (de Boer và cộng sự, 2024). Bài hướng dẫn của MAAS về cách đọc trang tuyển sinh tiến sĩ nói kỹ hơn về chỗ tìm nguyên liệu cho phần lập luận riêng đó.
Cũng chính nghiên cứu ấy ghi rằng với các bài luận trong mẫu, nhà trường "không đặt ra yêu cầu cụ thể nào, kể cả yêu cầu về số từ" (de Boer và cộng sự, 2024). Việc không có đề bài tự nó là một thông tin, và đó là hoàn cảnh ứng viên hay rơi vào lối viết chung chung nhất.
Những trường nào gọi tài liệu này là motivation letter?
Trả lời trực tiếp: Cái tên motivation letter phổ biến ở lục địa châu Âu, còn statement of purpose và personal statement chiếm ưu thế ở Anh và Bắc Mỹ. Hai trường được kiểm ngày 03/09/2026 là University of Manchester và Utrecht University đều coi hai cái tên đó là một ô duy nhất trong hồ sơ, và đẩy phần yêu cầu nội dung xuống cấp khoa.
University of Manchester ở Anh liệt kê giấy tờ cần chuẩn bị cho bậc nghiên cứu sau đại học thành một chuỗi, và cách họ viết thẳng thắn hiếm thấy về chuyện thẩm quyền nằm ở đâu: "Chuẩn bị một personal statement hoặc statement of purpose, nếu được yêu cầu. Điều này sẽ được nêu rõ trên trang của khoa chuyên môn liên quan", kiểm ngày 03/09/2026. Hai cái tên, một dấu gạch chéo, một ô duy nhất, và yêu cầu nội dung thì giao xuống một trang cấp khoa mà trang tuyển sinh trung tâm không chép lại.
Utrecht University ở Hà Lan xử lý y hệt từ phía bên kia của quy ước đặt tên, khi nói với ứng viên rằng quy trình nộp hồ sơ, điều kiện tuyển sinh và danh mục giấy tờ cụ thể đều nằm trên trang của từng chương trình thạc sĩ, ở mục Admission and Application, kiểm ngày 03/09/2026. Không trường nào trong hai trường này gây khó cho ứng viên. Cả hai đều đang nói rằng trang trung tâm không phải là bản yêu cầu.
Khi nào dùng statement of purpose và khi nào dùng motivation letter?
Trả lời trực tiếp: Bạn không phải chọn giữa hai thứ. Bạn viết đúng cái mà chương trình gọi tên, đúng độ dài mà chương trình nêu, và trả lời đúng câu hỏi mà chương trình in ra. Chỗ nào không có đề bài thì lựa chọn an toàn hơn là bản thiên về nghiên cứu, vì với một văn bản không có đề bài, người đọc sẽ đánh giá theo kỳ vọng của ngành chứ không theo một khung chấm nào.
Mức chênh lệch giữa các đề bài rộng hơn phần lớn ứng viên hình dung, và Samraj cùng Monk (2008) ghi nhận điều đó ngay bên trong một trường. Ứng viên ngành Electrical Engineering tại trường đó chỉ nhận được đúng một dòng là "bản trình bày cá nhân về mục tiêu học sau đại học". Ứng viên ngành Business Administration thì nhận được đoạn này: "Đây là cơ hội để bạn mô tả những đặc điểm hoặc kỹ năng riêng của mình và trình bày mục tiêu của bạn tương thích ra sao với chương trình bạn đang nộp đơn. Bài dài từ 1 tới 2 trang" (Samraj & Monk, 2008). Ứng viên ngành Linguistics lại được yêu cầu viết từ 250 tới 500 từ, thể hiện hiểu biết về chương trình và chỉ ra một hướng nghiên cứu nằm trong phạm vi chuyên môn của khoa. Cùng một trường, cùng một mùa tuyển sinh, mà ba yêu cầu ấy đòi ba văn bản thật sự khác nhau.
Phần khảo sát tài liệu hướng dẫn của hai tác giả cũng đáng biết, vì tình trạng đó tới nay vẫn vậy. Samraj và Monk (2008) xem xét 10 trang web hướng dẫn viết bài và xếp thành ba nhóm gồm trang thương mại bán dịch vụ kèm bài mẫu không kiểm chứng được nguồn gốc, trang hướng dẫn phổ thông tương đương sách cẩm nang, và trang do trung tâm viết học thuật hoặc hướng nghiệp của trường lập ra. Chỉ ba trang trong khảo sát là do giảng viên viết cho một ngành cụ thể, hai trong đó thuộc ngành khoa học máy tính, và bản hướng dẫn chi tiết nhất họ tìm được là một khung bảy đoạn do một giáo sư tâm lý học công bố. Họ cũng ghi rằng hướng dẫn cho các chương trình thạc sĩ nghề nghiệp như MBA thì dễ tìm hơn hẳn so với hướng dẫn cho những chương trình thạc sĩ khác, và phần hướng dẫn theo ngành, ở chỗ nào có, lại hợp với hồ sơ tiến sĩ hơn dù không nói rõ như vậy (Samraj & Monk, 2008).
Samraj và Monk gọi thể loại này là "bán khuất", tức là một loại văn bản mà những bài thành công thì hiếm khi tới được tay người phải viết nó, còn tiêu chí đánh giá thì các khoa giữ riêng cho mình (Samraj & Monk, 2008). Đó là cách mô tả trung thực về tình hình, và nó giải thích vì sao đi tìm một định nghĩa dùng chung cho mọi nơi thì không tìm ra thứ gì dùng được.
Ở bậc tiến sĩ còn thêm một lằn phân chia nữa. Chỗ nào yêu cầu nộp đề cương nghiên cứu thì bản đề cương đảm nhận phần lập luận nghiên cứu, còn bài viết này đảm nhận phần mà đề cương không nói được, gồm quãng đường đã đưa bạn tới câu hỏi đó và lý do chọn đúng khoa này thay vì khoa khác. Lằn phân chia ấy hiện ra ngay trong số liệu, khi thao tác nói về nghiên cứu chiếm 8 trên 9 bài ngành Electrical Engineering là nơi không có bản đề cương riêng nào, và Samraj cùng Monk (2008) ghi nhận rằng thể loại này tới tay ứng viên tiến sĩ với ít hướng dẫn cụ thể nhất. Chép lại nội dung đề cương vào bài viết là cách phí hoài văn bản duy nhất trong hồ sơ mà bạn toàn quyền quyết định.
Hai tài liệu này hay bị nhầm ở những chỗ nào?
Trả lời trực tiếp: Lỗi hay gặp nhất không phải là chọn nhầm thể loại, mà là nhồi vào văn bản những thứ mà bảng điểm, bản CV hoặc thư giới thiệu đã chở rồi, đồng thời bỏ sót đúng phần không xuất hiện ở bất kỳ giấy tờ nào khác. Chính phần bị bỏ sót đó lại là thứ mà người đọc hồ sơ nói rằng họ coi trọng (Hinkle và cộng sự, 2020).
Trong một khảo sát với các trưởng chương trình đào tạo chuyên khoa hô hấp và hồi sức tích cực ở Mỹ, Hinkle và cộng sự (2020) thu về 114 phản hồi trên 344 người được mời, tức tỷ lệ 33 phần trăm. Hơn một nửa số người trả lời xem bản trình bày cá nhân là ít nhất ở mức quan trọng vừa phải khi quyết định có mời phỏng vấn hay không, và 40 phần trăm xem nó ít nhất ở mức quan trọng vừa phải khi xếp thứ tự ưu tiên. Một trong 4 nhóm chủ đề nhất quán mà Hinkle và cộng sự (2020) rút ra từ câu trả lời của họ là văn bản này "cung cấp thông tin không tìm thấy ở chỗ nào khác".
Nghiên cứu của Hinkle và cộng sự (2020) mô tả việc tuyển bác sĩ nội trú chứ không mô tả tuyển sinh tiến sĩ, nên phần suy rộng bị giới hạn. Thứ suy rộng được là phép thử nó gợi ra, và phép thử này dùng được bất kể văn bản mang tên gì. Với từng đoạn bạn viết, hãy hỏi giấy tờ nào khác trong hồ sơ đã nói điều này rồi. Nếu có, thì đoạn đó đang tiêu tốn chỗ duy nhất mà không giấy tờ nào khác chiếm được.
Từ đó rút ra ba hệ quả. Nhắc lại điểm số bằng lời văn không thêm được gì so với bảng điểm đã nộp. Liệt kê các vị trí từng đảm nhiệm không thêm được gì so với bản CV. Khẳng định rằng mình chăm chỉ và giàu nhiệt huyết cũng không thêm được gì mà người đọc kiểm được, còn những nhận định về tính cách thì có sức nặng ở thư giới thiệu, vì ở đó người khác mới là người nói ra.
Ngoài bài luận, một bộ hồ sơ học bổng còn đòi những gì?
Trả lời trực tiếp: Bài luận chỉ là một hạng mục trong cả bộ hồ sơ. Chevening đòi 2 người giới thiệu, 3 nguyện vọng khoá học ở Anh và 2 năm kinh nghiệm làm việc. Australia Awards in Vietnam yêu cầu 1 thư giới thiệu cho bậc thạc sĩ theo tín chỉ và 2 thư cho bậc thạc sĩ nghiên cứu. Fulbright Việt Nam đòi 3 thư giới thiệu. Hãy đọc bảng kiểm của chính chương trình trước đã.
Người nộp hồ sơ dồn hết thời gian vào bài luận thường phát hiện ra rằng những thất bại tránh được lại nằm ở chỗ khác. Số lượng thư giới thiệu, thời hạn còn hiệu lực của chứng chỉ tiếng Anh, giới hạn dung lượng tệp và hạn nhận thư mời nhập học đều được công bố, đều tra được, và đều có thể kết thúc một bộ hồ sơ bằng một lỗi kỹ thuật mà không bài luận nào cứu nổi. Các con số dưới đây lấy từ những chương trình mà ứng viên Việt Nam hay nộp nhất, và chương trình nào cũng công bố lại lịch của mình hằng năm, nên hãy đọc các mốc thời gian như hình dung về cấu trúc chứ đừng đọc như lịch của năm nay.
Chevening đòi bộ hồ sơ rộng nhất. Ứng viên phải "apply to three different and eligible UK university courses" và "have at least two years' work experience, acquired after completing your undergraduate degree", quy đổi thành 2.800 giờ (Chevening, n.d.-b). Phần thư giới thiệu bị chặn trần chứ không mở, khi bạn "must provide the names of two referees in your application", và người giới thiệu "should be someone who knows you in a professional or personal capacity, but not a friend or relative" (Chevening, n.d.-d). Mẫu đơn chỉ hỏi "the names, job details, and contact details of two referees" chứ chưa đòi thư ở bước đó (Chevening, n.d.-c). Cái bẫy nằm ở thời điểm, vì bản thân các lá thư không nộp cùng đơn, mà bạn "must upload your reference letters to the online application system no later than seven working days before your interview" (Chevening, n.d.-d). Một thư giới thiệu viết bằng tiếng Việt phải nộp kèm "a notarised English translation in one file". Hai quy định nữa đáng đọc trước khi có ai đó ngỏ lời giúp bạn, khi Chevening nói thẳng rằng "the use of AI software to generate answers in Chevening applications is strictly prohibited", và rằng việc nộp đơn "is free: You do not need to pay anyone to apply, and Chevening does not endorse or work with third parties who charge for application support or advice" (Chevening, n.d.-a).
Australia Awards in Vietnam có bộ quy định giấy tờ chặt nhất trong nhóm. Yêu cầu về thư giới thiệu là con số chính xác chứ không phải mức tối thiểu, gồm "01 academic or professional referee report for all Masters by coursework applicants" và "02 academic or professional referee reports for Masters by research", kèm cảnh báo rằng ứng viên "must submit no more than the required number of referee reports" bởi phần dư "may not be considered" (Australia Awards in Vietnam, n.d.-c). Chứng chỉ tiếng Anh phải có "valid test date on or after 1 January 2025" cho vòng hiện tại, tệp tải lên có "recommended maximum size" là 2MB, và điều kiện dự tuyển đòi "at least 24 months' relevant full-time work experience in Vietnam" tính tới mốc ghi trên trang (Australia Awards in Vietnam, n.d.-b). Một quy định hay chặn người chuyển hướng nghề nghiệp là bạn phải "not be applying for a scholarship for a course of study at an academic level lesser than you have already achieved". Các ô trả lời dài được đo bằng ký tự chứ không phải bằng từ, với "a limit of 500 to 2000 characters" và giới hạn đó "includes blank spaces and all punctuation" (Australia Awards in Vietnam, n.d.-a).
Fulbright Việt Nam gói cả bộ hồ sơ vào một câu đáng thuộc lòng. Một bộ hồ sơ đầy đủ "includes an application form, three letters of reference, diplomas, and transcripts (including notarized English translations), TOEFL/IELTS/Duolingo/TOEFL Essentials score reports, and a curriculum vitae" (U.S. Mission Vietnam, 2026). Con số 3 thư ở đây nhiều hơn mức 2 của Chevening và nhiều hơn mức 1 mà Australia Awards đòi cho bậc thạc sĩ theo tín chỉ, nên danh sách người giới thiệu gom cho bộ hồ sơ này không dùng lại được cho bộ khác nếu chưa kiểm.
Hai tuyến châu Âu và New Zealand lại đặt trọng tâm ở chỗ khác. Với Erasmus Mundus Joint Masters, ứng viên cần "a bachelor's degree (first degree), or be in your last year of bachelor studies", các chương trình kéo dài "1 to 2 academic years (60, 90 or 120 ECTS credits)" và "involve at least 3 institutions from at least 3 different countries", còn "in most cases, you should submit your application between October and January for courses starting the following academic year" (European Commission, n.d.-b). Tài liệu hướng dẫn chương trình bổ sung một hạn ngạch quốc tịch có ảnh hưởng tới cơ hội của bạn, theo đó không quá 10% số suất học bổng cấp trong một dự án nên rơi vào ứng viên cùng một quốc tịch (European Commission, n.d.-a). Học bổng Manaaki New Zealand đo mức sẵn sàng theo một thước khác, đòi hoặc "one year of full-time work experience (i.e. 30 hours or more per week)" hoặc "two years of part-time work experience", và điểm tiếng Anh chỉ được yêu cầu ở vòng lọt danh sách ngắn chứ không phải ngay lúc nộp (Education New Zealand, n.d.).
Quy tắc rút ra thì đơn giản tới mức làm xong trong một buổi chiều. Hãy mở đúng trang bảng kiểm của chương trình, liệt kê từng loại giấy tờ kèm hạn riêng của nó, rồi đánh dấu 2 hoặc 3 hạng mục phụ thuộc vào người khác, thường là thư giới thiệu, bản dịch công chứng và thư mời nhập học không điều kiện. Chính những hạng mục ấy mới làm hỏng một bộ hồ sơ, và không hạng mục nào trong số đó sửa được vào đêm trước hạn, khác hẳn các câu chữ trong bài luận.
MAAS đồng hành ở khâu này ra sao
Bạn là tác giả của bài viết này, và cũng là tác giả của bản đề cương. Chuyên gia MAAS phản biện từng luận điểm trong bản nháp của bạn, đối chiếu từng khẳng định với những gì hồ sơ của bạn chứng minh được, và cùng bạn phân chia phần việc giữa bài viết với bản đề cương nghiên cứu, còn người viết vẫn là bạn. MAAS không viết hộ, không nộp hộ, và không cam kết được kết quả, vì quyết định nhận và quyết định cấp học bổng thuộc về hội đồng tuyển sinh cùng giáo sư hướng dẫn. Toàn bộ ranh giới này nằm ở trang dịch vụ Chiến lược và triển khai hồ sơ tiến sĩ, còn trình tự rộng hơn mà văn bản này nằm trong đó thì được mô tả ở hướng dẫn nộp hồ sơ tiến sĩ. Với hồ sơ bậc thạc sĩ giảng dạy và bậc đại học, phần cố vấn tương ứng nằm ở dịch vụ tư vấn tuyển sinh.
Việc ghép chuyên gia đi theo hai nhánh. Nếu mạng lưới đã sẵn người đúng lĩnh vực của bạn thì thường ghép xong trong vòng 48 giờ. Nếu chưa có, MAAS mở một đợt tuyển riêng cho ca của bạn, và đợt này thường mất khoảng 2 tuần.
Câu hỏi thường gặp
Statement of purpose có phải là personal statement không?
Trong phần lớn bối cảnh tuyển sinh sau đại học thì hai tên gọi này chỉ cùng một văn bản, và các trường thường in chúng chung một dòng, như cách University of Manchester viết "personal statement hoặc statement of purpose". Chỗ nào nhà trường yêu cầu nộp cả hai thành hai văn bản riêng thì họ sẽ định nghĩa rõ từng cái, và định nghĩa đó thắng mọi lời khuyên chung.
Bài nên dài bao nhiêu?
Dài đúng bằng mức chương trình nêu ra. Chỗ nào không nêu thì các độ dài ghi nhận được trong nghiên cứu thể loại chạy từ 250 tới 500 từ cho tới 1 hoặc 2 trang, thay đổi theo ngành (Samraj & Monk, 2008).
Viết một bài rồi dùng lại cho mọi trường có được không?
Bằng chứng nghiêng về phía không nên dùng lại nguyên si (de Boer và cộng sự, 2024). Phần nội dung cho kết quả tốt là phần gắn riêng với chương trình, còn phần mang đi đâu cũng dùng được lại đúng là phần chung chung ít giá trị nhất.
Motivation letter có cần trình bày theo dạng thư trang trọng không?
Làm theo yêu cầu của chương trình. Chỗ nào yêu cầu một lá thư mà không nói rõ định dạng thì phần đề người nhận ở đầu và dòng ký tên ở cuối là thông lệ trong hồ sơ châu Âu, còn bản statement of purpose kiểu Mỹ thì không đòi hai thứ đó và thường được nộp dưới dạng văn xuôi tải lên hệ thống.
Có nên hỏi thẳng khoa xem họ muốn gì không?
Nên, và câu trả lời của khoa thường chính xác hơn mọi bài hướng dẫn đã xuất bản. Một thư ngắn gửi bộ phận tuyển sinh sau đại học, hỏi bài viết cần nói tới những gì, là câu hỏi bình thường mà các khoa vẫn trả lời.
References
Australia Awards in Vietnam. (n.d.-a). Apply online. Retrieved September 4, 2026, from https://australiaawardsvietnam.org/applicants/apply-online/
Australia Awards in Vietnam. (n.d.-b). Eligibility criteria. Retrieved September 4, 2026, from https://australiaawardsvietnam.org/applicants/eligibility-criteria/
Australia Awards in Vietnam. (n.d.-c). Supporting documents. Retrieved September 4, 2026, from https://australiaawardsvietnam.org/applicants/supporting-documents/
Chevening. (n.d.-a). Chevening application criteria. Retrieved September 4, 2026, from https://www.chevening.org/resource-hub/guidance/application-criteria/
Chevening. (n.d.-b). Chevening eligibility criteria. Retrieved September 4, 2026, from https://www.chevening.org/scholarships/who-can-apply/eligibility/
Chevening. (n.d.-c). How to apply to Chevening. Retrieved September 4, 2026, from https://www.chevening.org/resource-hub/guidance/online-application-system/
Chevening. (n.d.-d). References. Retrieved September 4, 2026, from https://www.chevening.org/resource-hub/guidance/references/
De Boer, T., van Rijnsoever, F. J., & de Bresser, H. (2024). Dear admission committee: Which moves in application essays predict student master grades? PLOS ONE, 19(6), Article e0304394. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0304394
Education New Zealand. (n.d.). Check eligibility criteria. Manaaki New Zealand Scholarships. Retrieved September 4, 2026, from https://www.nzscholarships.govt.nz/check-eligibility-criteria/
European Commission. (n.d.-a). Erasmus Mundus action. Erasmus+ Programme Guide. Retrieved September 4, 2026, from https://erasmus-plus.ec.europa.eu/programme-guide/part-b/key-action-2/erasmus-mundus-action
European Commission. (n.d.-b). Erasmus Mundus Joint Masters (students). Erasmus+. Retrieved September 4, 2026, from https://erasmus-plus.ec.europa.eu/opportunities/individuals/students/erasmus-mundus-joint-masters
Hinkle, L., Carlos, W. G., Burkart, K. M., McCallister, J. W., & Bosslet, G. T. (2020). What do program directors value in personal statements? A qualitative analysis. ATS Scholar, 1(1), 44-54. https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC8043283/
Samraj, B., & Monk, L. (2008). The statement of purpose in graduate program applications: Genre structure and disciplinary variation. English for Specific Purposes, 27(2), 193-211. https://doi.org/10.1016/j.esp.2007.07.001
U.S. Mission Vietnam. (2026, January 14). Fulbright Vietnamese Student Program academic year 2027-2028. U.S. Embassy & Consulate in Vietnam. https://vn.usembassy.gov/fulbright-vietnamese-student-program-academic-year-2027-2028/
Tools & resources
- University of Manchester, hướng dẫn nộp hồ sơ nghiên cứu sau đại học: https://www.manchester.ac.uk/study/postgraduate-research/admissions/how-to-apply/
- Utrecht University, quy trình nộp hồ sơ bậc thạc sĩ: https://www.uu.nl/en/masters/application-and-admission/application-procedure
