1 trên 12
bài ngành Linguistics có thao tác nói về nghiên cứu của chính mình ở bước nền tảng.
◆ Ứng tuyển tiến sĩ
Cập nhật lần cuối: 02/11/2026
Chuyên mục: admissions
Trả lời thẳng: Statement of purpose là gì và khác motivation letter chỗ nào? Đó là bài viết trong hồ sơ sau đại học nêu nền tảng và lý do nộp đơn, và cùng motivation letter nó phần lớn là một thể loại có hai tên gọi. Oxford coi việc hai loại vay mượn nhau là "not unusual". Yêu cầu của chương trình và phần còn lại của hồ sơ mới quyết định nội dung.
Phần lớn ứng viên mất thời gian vào sai câu hỏi. Họ hỏi statement of purpose là gì và khác motivation letter chỗ nào, tìm định nghĩa tách hai nhãn này, đọc hàng chục trang nói khác nhau, rồi bắt đầu viết muộn. Câu hỏi hữu ích hơn là người đọc cụ thể này đã biết gì về bạn từ phần còn lại của hồ sơ, và chỉ bài viết của bạn mới bổ sung được điều gì.
Trả lời thẳng: Không có ranh giới cố định. Oxford mô tả personal statement xoay quanh động cơ, trải nghiệm và giá trị, còn statement of purpose xoay quanh mối quan tâm nghiên cứu, nền tảng học thuật và mục tiêu nghề nghiệp, nhưng cũng nói hai loại chồng lấn nhau. Utrecht yêu cầu "motivation letter" trong danh sách hồ sơ, còn Manchester ghi là "personal statement/statement of purpose".
University of Oxford (n.d.) vạch ranh giới rõ ràng giữa hai loại. Một personal statement "is likely to focus on how your personal motivations, experiences and values have contributed to why you are applying", còn statement of purpose "is likely to focus primarily on your research interests, academic background and career objectives". Cũng trên trang đó, Oxford làm mềm chính ranh giới ấy bằng câu "It is not unusual for elements of a personal statement to be included in a statement of purpose and vice versa" (University of Oxford, n.d.).
University of Manchester (n.d.) liệt kê hồ sơ nghiên cứu sau đại học thành một dãy, trong đó có mục "Prepare a personal statement/statement of purpose, if required", rồi chuyển ứng viên sang trang web của từng School để xem chi tiết. Utrecht University (n.d.) xếp "a motivation letter" vào nhóm tài liệu "will always" được yêu cầu, rồi nêu rõ điều kiện tuyển sinh cụ thể nằm ở trang của từng chương trình thạc sĩ.
| Trường | Nhãn được dùng | Nơi đặt yêu cầu thật |
|---|---|---|
| University of Oxford | personal statement hoặc statement of purpose | trang khoá học, nơi quy định số từ |
| University of Manchester | personal statement/statement of purpose | trang web của School liên quan |
| Utrecht University | motivation letter | trang chương trình thạc sĩ, mục Admission and Application |
Nguồn: các trang tuyển sinh chính thức, đọc ngày 31/10/2026 (University of Oxford, n.d.; University of Manchester, n.d.; Utrecht University, n.d.).
Ba trường, ba nhãn: trang trung tâm gọi tên tài liệu, còn trang của khoa mới định nghĩa nó. Nhãn chỉ là cách gọi cho tiện, hướng dẫn của khoa mới là quy tắc, và đó cũng là câu trả lời thực tế cho việc statement of purpose là gì và khác motivation letter chỗ nào ở chương trình của bạn.
Trả lời thẳng: Samraj và Monk (2008) tìm thấy năm move trong 35 bài thành công: phần mở đầu, nền tảng, lý do nộp đơn, hoạt động ngoại khoá và phần kết. Chỉ nền tảng và lý do nộp đơn xuất hiện trong mọi bài. Các step bên trong mỗi move thì khác nhau rất xa giữa các ngành.
Samraj và Monk (2008) phân tích 35 bài đã thành công tại một trường đại học công lập lớn ở California, gồm 12 bài ngành Linguistics, 9 bài ngành Electrical Engineering và 14 bài ngành Business Administration, đồng thời phỏng vấn một chuyên gia của từng khoa. Trong 35 tác giả, 16 người có tiếng mẹ đẻ là tiếng Anh và 19 người thì không. Các tác giả mô tả hai mục tiêu tu từ đứng sau hai move bắt buộc: lập luận vì sao chương trình nên muốn ứng viên, và lập luận vì sao ứng viên muốn chương trình.
Số liệu về các step cho thấy một khuôn mẫu duy nhất bao phủ được rất ít.
| Step | Linguistics (12) | Electrical Engineering (9) | Business Administration (14) |
|---|---|---|---|
| Nghiên cứu của chính mình, trong phần nền tảng | 1 | 8 | 0 |
| Kinh nghiệm làm việc, trong phần nền tảng | 10 | 4 | 11 |
| Khoảng trống trong nền tảng, trong phần lý do | 5 | 2 | 10 |
| Lý do về ngành và nghiên cứu | 3 | 7 | 2 |
| Thông tin ngoại khoá | 0 | 5 | 2 |
Nguồn: Samraj và Monk (2008), Bảng 3, số bài chứa từng step.
bài ngành Electrical Engineering
8 trên 9
có thao tác nói về nghiên cứu của chính mình ở bước nền tảng (Samraj và Monk, 2008)
bài ngành Linguistics có thao tác nói về nghiên cứu của chính mình ở bước nền tảng.
bài ngành Business Administration có thao tác đó.

Một ứng viên Business Administration sao chép mẫu của Electrical Engineering sẽ dành chỗ cho nghiên cứu, thứ mà 0 trên 14 bài thành công cùng ngành nhắc tới. Một ứng viên Electrical Engineering sao chép mẫu của Business sẽ dựng lập luận trên một khoảng trống mà chỉ 2 trên 9 tác giả thành công nêu ra. Các move thì dùng chung, còn bằng chứng lấp vào đó thuộc về từng ngành. Chuyên gia ngành Linguistics giải thích nguyên nhân bằng lời giản dị: "it's not a genre that you can find anywhere, so they don't have a model" (Samraj & Monk, 2008). Các tác giả gọi đây là thể loại semi-occluded.
Trả lời thẳng: Hai nghiên cứu khai phá văn bản chỉ về cùng một hướng. De Boer và cộng sự (2024) phân tích 2.701 bài luận thạc sĩ và thấy nội dung riêng cho chương trình đi cùng điểm cao hơn, còn lời khen chung chung về thành phố và trường đi cùng điểm thấp hơn. Pennebaker và cộng sự (2014) thấy ngôn ngữ thiên về đối tượng và khái niệm đi cùng điểm đại học cao hơn.
De Boer và cộng sự (2024) dùng Latent Dirichlet Allocation để chia bài luận đầu vào của 2.701 sinh viên thạc sĩ tại một khoa ở Hà Lan thành bảy move, thuộc các khoá nhập học từ 2014 đến 2017, trong đó 2.051 người tốt nghiệp và 650 người bỏ học. Năm trong bảy move có tác động đáng kể lên điểm số. Các move mà nhóm tác giả gắn nhãn "master specific" và "interest to learn" có tác động tích cực, còn "research skills", "societal impact" và "city and university" có tác động tiêu cực.
Pennebaker và cộng sự (2014) phân tích hơn 50.000 bài luận tuyển sinh của hơn 25.000 sinh viên mới nhập học tại University of Texas at Austin, rồi theo dõi điểm số trong bốn năm. Điểm cao đi cùng việc dùng nhiều mạo từ và giới từ hơn, vốn là dấu hiệu của việc nói về các đối tượng và khái niệm có tổ chức. Điểm thấp đi cùng việc dùng nhiều trợ động từ, đại từ và trạng từ hơn, vốn là dấu hiệu của lối kể chuyện cá nhân.
Kết quả của hai nghiên cứu này đều là mối liên hệ với điểm số về sau, không phải bằng chứng về ai nhận được thư mời, và mỗi nghiên cứu chỉ đến từ một trường. Dù vậy chúng vẫn cho một quy tắc thực tế: đoạn nào dán được vào hồ sơ của bất kỳ trường nào khác, chẳng hạn lời khen thành phố, là đoạn gắn nhiều nhất với kết quả yếu hơn. Cách tìm chất liệu đủ cụ thể để tránh cái bẫy đó nằm trong bài hướng dẫn đọc trang tuyển sinh tiến sĩ.
Trả lời thẳng: Như một nguồn thông tin trong nhiều nguồn, được trân trọng ở phần hồ sơ còn thiếu. Trong khảo sát 114 người phụ trách chương trình, Hinkle và cộng sự (2020) thấy 58% đánh giá statement quan trọng ở mức vừa trở lên khi mời phỏng vấn, và 40% khi xếp hạng. Oxford Law bỏ qua tư liệu ngoài học thuật nếu nó không liên quan tới thành tích về sau.
Hinkle và cộng sự (2020) khảo sát 344 thành viên của một hiệp hội giám đốc chương trình fellowship hô hấp và hồi sức tích cực tại Hoa Kỳ vào tháng 3 năm 2018 và nhận về 114 phản hồi, tỷ lệ phản hồi là 33%. Về mức độ quan trọng, 58% số người trả lời cho điểm từ mức vừa trở lên ở quyết định mời phỏng vấn, còn ở quyết định xếp hạng ứng viên con số đó là 40%. Phân tích nội dung của họ, với hệ số kappa có trọng số giữa các người mã hoá là 0,73, cho ra bốn chủ đề: kỹ năng giao tiếp, thông tin không có ở nơi khác, đặc điểm ứng viên và những điều nên tránh. Các giám đốc chương trình trân trọng "succinct, quality writing that reveals personal details not noted elsewhere" (Hinkle et al., 2020).
Nghiên cứu này nói về fellowship y khoa, nên nó chỉ chuyển sang được như một phép thử, không phải một quy tắc về tuyển sinh tiến sĩ. Tuy vậy phép thử ấy dùng được ở nơi khác. Faculty of Law, University of Oxford (n.d.) yêu cầu statement of purpose dài 300 từ cho một số khoá học dạng taught course và nói thông tin về sở thích ngoài học thuật hay kinh nghiệm nghề nghiệp bị bỏ qua "except to the extent that it reveals something relevant to future academic achievement". Người đọc tìm điều mà bảng điểm, CV và thư giới thiệu chưa nói.
Ở bậc tiến sĩ cũng vậy. Khi hồ sơ còn yêu cầu research proposal, proposal gánh lập luận nghiên cứu, còn statement gánh con đường đã dẫn bạn tới câu hỏi đó. Bài so sánh research statement và research proposal trình bày cách hai tài liệu chia việc.
Trả lời thẳng: Đánh dấu mỗi câu bằng tài liệu khác đã nói điều đó: bảng điểm, CV, thư giới thiệu hay proposal. Xoá hoặc nén các câu bị đánh dấu, rồi dùng số từ giải phóng ra cho hai move bắt buộc. Trong ví dụ dưới đây, bản nháp tiếng Anh dài 220 từ chỉ còn 102 từ thông tin mới trước khi viết lại.
Hãy lấy một bản nháp minh hoạ viết bằng tiếng Anh, dài 220 từ gồm 10 câu, cho một khoá thạc sĩ có giới hạn 300 từ. Cột "Số từ" là số từ của câu tiếng Anh gốc, còn câu tiếng Việt chỉ là bản dịch để bạn theo dõi. Các con số là giả định để minh hoạ phương pháp, không lấy từ ứng viên thật.
| Câu | Số từ | Đã có trong | Giữ lại? |
|---|---|---|---|
| Tốt nghiệp hạng 2:1 ngành Economics | 20 | bảng điểm | không |
| Làm chuyên viên phân tích hai năm | 24 | CV | không |
| Nhiệt huyết và chăm chỉ | 14 | không có chỗ nào kiểm chứng được | không |
| Phụ trách bước tính trọng số khảo sát cho một nghiên cứu giao thông 1.200 hộ gia đình | 26 | CV, chỉ một dòng | có, mở rộng |
| Mô tả được độ chệch nhưng chưa mô hình hoá được nó | 22 | không có | có |
| Referee X hướng dẫn luận văn | 26 | thư giới thiệu | không |
| Học phần small-area estimation của khoá học giải quyết đúng khoảng trống đó | 28 | không có | có |
| Ngưỡng mộ lịch sử của trường | 20 | không có, nhưng chung chung | không |
| Dự định dùng phương pháp này trên dữ liệu giao thông của thành phố | 26 | không có | có |
| Cảm ơn đã xem xét hồ sơ của tôi | 14 | không có, nhưng rỗng | không |
Các câu đánh dấu "không" cộng lại là 118 từ tiếng Anh, nên 220 trừ 118 còn 102 từ chất liệu hữu ích. Với giới hạn 300 từ, còn 198 từ cho phần bản nháp đang thiếu, ở đây là một lý do cụ thể gắn với chương trình. Phép kiểm này mất khoảng mười phút và loại đi 54% bản nháp đầu tính theo số từ tiếng Anh.
Trả lời thẳng: Đoạn lý do nộp đơn mạnh nêu một khoảng trống bạn chứng minh được, rồi nêu một đặc điểm của chương trình lấp khoảng trống đó. Samraj và Monk (2008) thấy step khoảng trống trong 10 trên 14 bài Business Administration thành công nhưng chỉ 2 trên 9 bài Electrical Engineering, nên hãy dùng nó ở nơi ngành của bạn dùng.
Dưới đây là bản tiếng Việt của một đoạn mẫu tiếng Anh dài 66 từ cho ứng viên trong ví dụ trên, nên số từ của bản dịch sẽ khác. Hãy sao chép phương pháp, đừng sao chép câu chữ.
Phụ trách bước tính trọng số khảo sát của một nghiên cứu giao thông 1.200 hộ gia đình, tôi nhận ra mình mô tả được độ chệch trong các ước lượng nhưng chưa mô hình hoá được nó. Học phần small-area estimation của chương trình giải quyết đúng khoảng trống đó. Hướng làm dissertation dùng dữ liệu giao thông của thành phố cho phép tôi thử phương pháp trên đúng vấn đề tôi đã quen, nên dự án đầu tiên của tôi sẽ bắt đầu từ bằng chứng thay vì một ca sách giáo khoa.
Có ba đặc điểm làm đoạn này hiệu quả. Câu đầu nêu một trải nghiệm đo được, gồm 1 nghiên cứu và 1.200 hộ gia đình, cùng một giới hạn. Câu thứ hai nêu một đặc điểm của chương trình khớp với giới hạn đó, và bạn nên xác nhận tên học phần thật trên trang của khoa trước khi viết. Câu thứ ba nối học phần với một kế hoạch. Không câu nào lặp lại bảng điểm, và không câu nào còn nguyên giá trị nếu dán sang hồ sơ của trường khác, đúng là tính chất mà de Boer và cộng sự (2024) gắn với kết quả tốt hơn.
Trả lời thẳng: Các nghiên cứu về tuyển sinh tiến sĩ cho thấy chương trình khác nhau đáng kể về điều kiện đầu vào, và thư giới thiệu cùng nền tảng học thuật được cân nhắc bên cạnh bài luận. Không nghiên cứu nào dưới đây đo xem tên gọi nào của bài luận có lợi hơn, và mỗi nghiên cứu chỉ đại diện cho mẫu của nó.
Hãy đọc ba nghiên cứu này như bối cảnh cho vị trí của bài luận trong cả bộ hồ sơ, không phải như bằng chứng về cách viết. Cột cuối là gợi ý của MAAS chứ không phải phát hiện của tác giả.
| Nghiên cứu | Mẫu và bối cảnh | Phát hiện có số | Áp dụng cho bài của bạn |
|---|---|---|---|
| Jones và cộng sự (2020) | Khảo sát về tuyển sinh tiến sĩ kinh tế ở Mỹ | Nhóm 25 chương trình đứng đầu coi trọng hạng chương trình đại học và sức nặng của thư giới thiệu hơn | Để người giới thiệu củng cố các luận điểm trong bài luận |
| Kim và cộng sự (2026) | 182.638 hồ sơ tuyển sinh của 117 chương trình tiến sĩ tại một trường công lập hàng đầu của Mỹ | Bỏ yêu cầu GRE làm tỉ lệ nhận giảm, còn nhân khẩu học của ứng viên phần lớn không đổi đáng kể | Nghiên cứu không đo bài luận, nên đừng suy ra rằng bài luận quyết định nhiều hơn khi bỏ GRE |
| Dagenhard và cộng sự (2016) | 17 chương trình tiến sĩ giáo dục sức khoẻ ở Mỹ | 11 chương trình đòi điểm thạc sĩ 3.0, số tín chỉ từ 70 đến 73, và cả 17 đều đòi luận án | Đọc quy định của từng chương trình trước khi chọn tên gọi |
Dagenhard và cộng sự (2016) ghi nhận sự khác biệt đáng kể giữa các chương trình, nên thói quen an toàn nhất là trả lời đúng đề bài đang có trước mặt, không trả lời cái tên đứng phía trên đề bài.
Trả lời thẳng: Cả hai nghiên cứu lấy mẫu rất hẹp, một bên là hồ sơ xét tuyển ngành lâm sàng tại Mỹ, bên kia là một lớp học viên EdD mới nhập học, nên chúng không nói thay cho mọi ngành tiến sĩ. Điều chúng cho phép nói là kinh nghiệm làm việc được ghi nhận khác nhau trong hồ sơ, và kỹ năng viết có thể được dạy từ năm đầu.
| Nghiên cứu | Mẫu và bối cảnh | Phát hiện có số | Áp dụng cho bài của bạn |
|---|---|---|---|
| Tombers và cộng sự (2025) | Toàn bộ 17.862 ứng viên của một dịch vụ nộp đơn ngành vật lý trị liệu ở Mỹ năm 2021 đến 2022 | 32% có kinh nghiệm làm việc liên quan, và ứng viên có kinh nghiệm làm việc được trả lương ít được nhận hơn (p = 0,006) | Chỉ dùng như một lời nhắc rằng kinh nghiệm cần được giải thích, vì mẫu thuộc một ngành lâm sàng |
| Stevens và Caskey (2023) | 12 học viên EdD trong một hội thảo năm đầu của chương trình bốn năm | Các tác giả khuyến nghị cách dạy chiến lược nghiên cứu và viết gắn với tiến độ và việc ở lại chương trình | Đây là nghiên cứu trường hợp rất nhỏ, nên chỉ coi là gợi ý rằng kỹ năng viết đáng được luyện sớm |
Cả hai nghiên cứu không kiểm tra bài statement of purpose, nên hãy đọc chúng như bối cảnh, không phải như quy tắc cho chương trình tiến sĩ trong ngành của bạn.
Thường là có. Manchester ghi "personal statement/statement of purpose" thành một mục. Oxford tách trọng tâm, nghiên cứu và nghề nghiệp cho statement of purpose, nhưng nói hai loại có thể vay mượn nhau.
Theo đúng con số chương trình nêu. Oxford Law yêu cầu 300 từ cho một số khoá học, và Oxford đặt giới hạn số từ riêng trên từng trang khoá học, nên không có con số chung.
Không nên nếu chưa chỉnh sửa. De Boer và cộng sự (2024) gắn nội dung riêng cho chương trình với điểm cao hơn, và lời khen chung chung về thành phố và trường với điểm thấp hơn, trong khi phần dùng lại được của một bản statement chính là phần chung chung.
Hãy theo hướng dẫn trên trang chương trình. Utrecht xếp motivation letter cạnh CV và để chi tiết cho trang của từng chương trình thạc sĩ.
Được. Utrecht mời ứng viên liên hệ người phụ trách chương trình, người này không quyết định được hồ sơ có đủ điều kiện hay không nhưng có thể tư vấn chi tiết hơn.
Nếu bạn đang cân nhắc hồ sơ tiến sĩ và muốn một chuyên gia chất vấn lập luận trước khi khoa làm việc đó, hãy xem dịch vụ Chiến lược ứng tuyển tiến sĩ. Bản statement vẫn là chữ của bạn và bạn tự nộp hồ sơ. Đây là dịch vụ cố vấn nên không gắn mục tiêu điểm hay kết quả tuyển sinh, không có hoàn tiền theo kết quả, và nếu chuyên gia chưa phù hợp thì bạn có thể đề nghị đổi chuyên gia.
Để buổi trao đổi có ích, hãy mang theo đề bài của chương trình, giới hạn số từ, bảng điểm, CV và bản nháp đầu tiên của bạn. Chuyên gia sẽ hỏi từng đoạn đang đóng góp điều gì mà phần còn lại của hồ sơ chưa nói, chỉ ra những câu có thể dán nguyên sang hồ sơ của trường khác, và nghe bạn giải thích lý do chọn chương trình bằng lời của chính bạn. Gửi bản nháp sớm, khoảng hai tuần trước hạn nộp, sẽ còn thời gian để thay một lập luận chung chung bằng một lập luận gắn với học phần hay nhóm nghiên cứu cụ thể.
Các bài dưới đây bàn về những tài liệu đứng cạnh bản statement trong một hồ sơ tiến sĩ. Mỗi bài viết cho một tài liệu riêng, nên hãy đọc đề bài và hướng dẫn của chương trình trước khi chọn bài cần đọc, vì yêu cầu thật của khoa luôn đi trước mọi lời khuyên chung.
Dagenhard, P., Castor, T., Brookins-Fisher, J., & Thompson, A. (2016). Health education doctoral degree programs: A review of admission and graduation requirements. Health Educator, 48(2), 16–22. https://eric.ed.gov/?id=EJ1153003
De Boer, T., Van Rijnsoever, F., & de Bresser, H. (2024). Dear admission committee: Which moves in application essays predict student master grades? PLOS ONE, 19(6), Article e0304394. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0304394
Faculty of Law, University of Oxford. (n.d.). Postgraduate admission FAQs (taught). https://www.law.ox.ac.uk/admissions/postgraduate/postgraduate-admission-faqs
Hinkle, L., Carlos, W. G., Burkart, K. M., McCallister, J., & Bosslet, G. (2020). What do program directors value in personal statements? A qualitative analysis. ATS Scholar, 1(1), 44-54. https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC8043283/
Jones, A., Schuhmann, P., Soques, D., & Witman, A. (2020). So you want to go to graduate school? Factors that influence admissions to economics PhD programs. Journal of Economic Education, 51(2), 177–190. https://doi.org/10.1080/00220485.2020.1731385
Kim, H., Bastedo, M., Gonzalez, J., Flaster, A., & Bai, Y. (2026). GRE-optional policies in PhD admissions: Impacts on student applications, yield, and structural diversity. Educational Evaluation and Policy Analysis, 48(3), 1004–1023. https://doi.org/10.3102/01623737251392929
Pennebaker, J. W., Chung, C. K., Frazee, J., Lavergne, G. M., & Beaver, D. I. (2014). When small words foretell academic success: The case of college admissions essays. PLOS ONE, 9(12), Article e115844. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0115844
Samraj, B., & Monk, L. (2008). The statement of purpose in graduate program applications: Genre structure and disciplinary variation. English for Specific Purposes, 27(2), 193-211. https://doi.org/10.1016/j.esp.2007.07.001
Stevens, D. D., & Caskey, M. M. (2023). Building a foundation for a successful doctoral student journey: A scholarship of teaching and learning investigation. Innovative Higher Education, 48(3), 433–455. https://doi.org/10.1007/s10755-022-09624-7
Tombers, N., Pfeifer, R., Froemke, K., & Marc, D. (2025). The relationship between physical therapy work experience, demographics, and DPT admissions. Discover Education, 4(1). https://doi.org/10.1007/s44217-025-00918-4
University of Manchester. (n.d.). How to apply for postgraduate research. https://www.manchester.ac.uk/study/postgraduate-research/admissions/how-to-apply/
University of Oxford. (n.d.). Personal statement and statement of purpose. https://www.ox.ac.uk/admissions/graduate/application-guide/supporting-documents/statement
Utrecht University. (n.d.). Application procedure. https://www.uu.nl/en/masters/application-and-admission/application-procedure
Bài viết thuộc chuỗi MAAS Journal dành cho sinh viên. MAAS là đối tác hỗ trợ học thuật: chuyên gia đồng hành cùng sinh viên qua từng giai đoạn của chính bài làm của mình, và chúng tôi không làm bài thay cho sinh viên.
Buổi tư vấn miễn phí 20 phút là một cuộc trao đổi về hoàn cảnh của bạn.
Đặt lịch tư vấn miễn phí ▸